Lựa chọn, thiết kế và sử dụng bài tập theo hướng tiếp cận pisa trong dạy học chương 9, hóa học 12 - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGÔ THỊ THU GIANG

LỰA CHỌN, THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG
BÀI TẬP THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG 9, HÓA HỌC 12

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2015
i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGÔ THỊ THU GIANG

LỰA CHỌN, THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG
TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 9, HÓA HỌC 12

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Trung Ninh

HÀ NỘI - 2015


Bài tập hóa học

ĐC

Đối chứng

ĐHQG

Đại học quốc gia

ĐHSP

Đại học sư phạm

ĐKTC

Điều kiện tiêu chuẩn

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

LĐC

Lớp đối chứng

Bảng 1.2.

Mức độ biết, hiểu và sử dụng các dạng câu hỏi và BTHH theo tiếp cận
PISA của GV ở trường THPT trong dạy học Hoá học

Bảng 3.1.

Số HS đạt điểm Xi trước khi thực nghiệm

Bảng 3.2.

Số HS đạt điểm Xi của trường THPT Đan Phượng

Bảng 3.3.

Tần suất (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Đan Phượng

Bảng 3.4.

Tỉ lệ (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Đan Phượng

Bảng 3.5.

Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT

Đan Phượng
Bảng 3.6.

Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT



Bảng 3.14.

tổng hợp thăm dò ý kiến GV sau thực nghiệm

v


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Đường lũy tích điểm kiểm tra - Lần 1 - trường THPT Đan Phượng
Hình 3.2. Đường lũy tích điểm kiểm tra - Lần 2 - trường THPT Đan Phượng
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS - Lần 1- trường THPT Đan
Phượng
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS - Lần 2- trường THPT Đan
Phượng
Hình 3.5. Đường lũy tích điểm kiểm tra - Lần 1 - trường THPT Vạn Xuân Hình
3.6. Đường lũy tích điểm kiểm tra - Lần 2 - trường THPT Vạn Xuân
Hình 3.7. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS - Lần 1- trường THPT Vạn
Xuân
Hình 3.8. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS - Lần 2- trường THPT Vạn
Xuân

vi


MỤC LỤC
Lời cảm ơn

i


3

5. Phạm vi nghiên cứu

4
6.
Khách
thể và
đối
tượng
nghiên
cứu
47. Giả
thuyết
khoa
học
48.
Phương
pháp
nghiên
cứu
59.
Đóng
góp mới
của đề
tài


610. Cấu trúc của luận văn




chương 9 lớp 12

n

i

71.1. Đổi mới phương pháp

g

sử dụng hệ thống bài tập

h

dạy học
c

o

1.1.1. Đổi mới





phương pháp

a


h

7

i



1.2. Một số xu

ê

c

hướng đổi mới

n

7

dạy học trên thế

dạy học ở Việt

phương pháp dạy

t

học ở trường phổ

ọc sinh
9
1.2.4. Đổi mới
các hình thức tổ chức dạy
học và sử dụng phương tiện
dạy học
9

v
i
i


1.2.5. Đổi mới việc kiểm tra - đánh giá
1.3. Bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THPT

10
10

1.3.1. Ý nghĩa của bài tập hóa học

10

1.3.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới

11

1.4. Tìm hiểu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA

12

a
c

a
v
i

c
x
â
y
d


83

ựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận
PISA trong dạy học Hoá học ở trường

18

2.4.1. Sử
dụng khi

THPT
1.6. Thực trạng mức độ biết, hiểu và sử dụng câu hỏi và bài tập hoá học

18

dạy bài


tập, ôn

Pisa

tập

trong dạy học Hóa học chương 9 lớp

84

12 2.1. Phân tích chương trình hóa
học 12
2.1.1. Mục tiêu cơ bản của chương trình hóa học
lớp 12
2.1.2. Cấu trúc nội dung chương
trình
2.2. Cơ sở, nguyên tắc và quy trình xây dựng bài tập theo hướng tiếp cận
PISA
trong dạy học hóa học chương 9 lớp 12
26
2.2.1. Cơ sở và nguyên tắc
26
2.2.2. Quy trình xây dựng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA
28
2.3. Hệ thống bài tập hóa học chương 9 lớp 12 theo hướng tiếp cận PISA
31
2.4. Sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa
học
chương 9 lớp 12

3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

86

3.2. Thời gian, đối tượng thực nghiệm

86

3.2.1. Thời gian thực nghiệm

86

3.2.2. Đối tượng thực nghiệm

86

3.3. Quá trình tiến hành thực nghiệm

86

3.3.1. Lựa chọn đối tượng thực nghiệm

87

3.3.2. Kiểm tra mẫu trước thực nghiệm

87

3.3.3. Lựa chọn giáo viên thực nghiệm


Tiểu kết chương 3

98

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

99

TÀI LIỆU THAM KHẢO

102

PHỤLỤC

104

ix


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển nhanh
chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều
lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới. Thực chất cạnh tranh giữa các
quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học - công nghệ. Xu thế
chung của thế giới khi bước vào thế kỉ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải
cách giáo dục. Vì vậy, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định "đổi mới căn bản, toàn
diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập
quốc tế" và "phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập
trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền

- Luận văn thạc sĩ: "Dạy học phát triển năng lực cho HS trung học phổ thông với
các bài toán tiếp cận chương trình HS quốc tế (PISA)" của Nguyễn Quốc Trịnh - lớp Cao
học lý luận và phương pháp dạy học môn Toán K5 - Trường đại học Giáo dục, đại học
Quốc gia Hà Nội.
- "Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) (Mục đích, tiến trình thực hiện, các
kết quả chính" của Nguyễn Thị Phương Hoa trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà
Nội số 25/2000.
- "Góp phần tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)" của Nguyễn
Ngọc Sơn trên Tập san Giáo dục - Đào tạo số 3/2010
- "Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA" của Đỗ Tiến Đạt trên Kỷ yếu Hội
thảo Quốc gia về giáo dục Toán học phổ thông năm 2011.
- Khai thác tiêu chuẩn của PISA nhằm rèn luyện khả năng toán học hóa ("Rèn
luyện HS trung học phổ thông khả năng toán học hóa theo tiêu chuẩn của PISA" của
Nguyễn Sơn Hà trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội số 4/2010…
Về Hóa học đã có các luận văn: "Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng
tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9"- Trần Thị Nguyệt Minh - Trường
ĐHGD - Đại học Quốc Gia Hà nội, năm 2012. Luận văn: "Thiết kế và sử dụng hệ thống bài
tập hóa học 10 phần phi kim tiếp cận PISA theo định hướng phát triển năng lực cho học
sinh THPT"- Hoàng Thị Phương - Trường ĐHSP Hà Nội, năm 2013.
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng các bài tập
hóa học theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Hóa học chương 9 lớp 12.
3. Mục đích nghiên cứu

3


Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học
chương 9 hoá học lớp 12 nhằm làm cho việc dạy học Hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống
hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn Hóa học, đồng thời phát triển năng lực vận dụng
kiến thức của HS từ đó nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở trường THPT.

- Thiết kế, đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy
học Hóa học chương 9 lớp 12.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng một hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy
học Hóa học chương 9 lớp 12 thì sẽ làm cho việc dạy học Hóa học gắn với thực tiễn cuộc
sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn Hóa học, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học
môn Hóa học ở trường THPT.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận dạy học, chủ trương, chính sách giáo dục của
Đảng và nhà nước có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc sử dụng bài tập trong dạy
học Hóa học ở trường THPT.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc thiết kế bài tập mới trong
dạy học Hóa học ở trường THPT.
- Nghiên cứu các tài liệu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học lớp 12.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp quan sát:
Tiến hành quan sát các hoạt động dạy và học có sử dụng bài tập Hóa học tiếp cận
PISA tại trường THPT nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu.
8.2.2. Phương pháp đàm thoại:
Trao đổi với GV và HS để tìm hiểu ý kiến, quan niệm, thái độ ... của họ về việc
sử dụng bài tập hóa học trong dạy và học ở trường THPT, cũng như những thuận lợi và
khó khăn mà GV và HS đã gặp phải.
8.2.3. Phương pháp điều tra:
Điều tra thực trạng về mức độ biết, hiểu và vận dụng PISA của GV trong quá
trình dạy học môn Hoá học lớp 12.

5



CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC HÓA
HỌC CHƯƠNG 9 LỚP 12
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình mà trong đó sử dụng năng lực,
kinh nghiệm, trí tuệ, bản lĩnh của con người để tạo ra và sử dụng các thành tựu khoa học kĩ
thuật, công nghệ hiện đại kết hợp với giá trị truyền thống của dân tộc để đổi mới mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội nhằm hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại. Chính vì vậy mà công
nghiệp hóa, hiện đại hoá đòi hỏi phải có một lực lượng nhân lực
có chất lượng cao. [15]
Sự phát triển nguồn nhân lực do tích hợp nhiều nhân tố: giáo dục và đào tạo; sức khoẻ
và dinh dưỡng; môi trường việc làm và cả sự giải phóng con người. Trong đó, giáo dục và
đào tạo là yếu tố quan trọng nhất. Bởi vì, giáo dục đào tạo là động lực thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững.
Vì vậy, các quốc gia từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều
nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể
đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát
triển đất nước.
Như vậy, ta thấy đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Bối cảnh trên
tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây
dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục, nhà trường từ
chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với
nghiên cứu khoa học - công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì truyền đạt tri thức chuyển
sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy
phân tích và tổng hợp. Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển
sang đầu tư cho phát triển.

kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc
tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và

8


bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực.
1.2.2. Đổi mới hoạt động của GV
Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa
dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm trình độ HS, với điều
kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.
Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho HS được tham gia một cách tích cực,
chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh
nghiệm, kĩ năng đã có của HS; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong
học tập cho HS; giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng.
Thiết kế và hướng dẫn HS thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn
luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; tổ chức có hiệu quả các giờ thực
hành; hướng dẫn HS có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh
hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm và
trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương.
1.2.3. Đổi mới hoạt động học tập của HS
Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và
lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.
Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học; thực hành thí nghiệm; thực hành vận
dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt
ra từ thực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều
kiện.
Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảo luận, tranh

dung lại vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho HS kiến thức,
con đường giành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui của quá trình khám phá, tìm tòi,
phát hiện của việc tìm ra đáp số. Đặc biệt, bài tập hoá học còn mang lại cho người học một
trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức.
Bài tập hoá học có ý nghĩa và tác dụng to lớn:

10


+ Làm chính xác những khái niệm hoá học; củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một
cách sinh động, phong phú, hấp dẫn; chỉ khi vận dụng kiến thức vào giải bài tập học sinh
mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc.
+ Giúp HS ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực.
+ Rèn luyện các kĩ năng hoá học như cân bằng phương trình hóa học, tính theo
công thức và phương trình, …
+ Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và
bảo vệ môi trường.
+ Rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy.
+ Phát triển các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh
và sáng tạo.
+ Là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của HS.
+ Giáo dục đạo đức, tính chính xác, kiên nhẫn, trung, lòng say mê khoa học.
1.3.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới
Xu hướng phát triển của bài tập hoá học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng
vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hoá học cho HS ở các mặt: lí thuyết, thực
hành và ứng dụng. Những bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí thuyết sẽ giảm
dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi.
- Nội dung kiến thức hoá học phải gắn liền với thực tiễn đời sống, xã hội
- Nội dung kiến thức phải gắn với thực hành, thí nghiệm hoá học và tăng cường
thí nghiệm hoá học trong nội dung học tập.

gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo
dục cơ bản. Cứ sau một năm kể từ ngày điều tra, vào lúc 10 giờ sáng - giờ Paris, ngày 04
tháng 12, kết quả điều tra sẽ được công bố trên toàn thế giới.
Cho đến nay, PISA là khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá về năng lực phổ thông của
HS độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. PISA là một trong
những nỗ lực đầu tiên xây dựng một hệ thống đánh giá mang theo triết lý giáo dục, đường
hướng và phương pháp giảng dạy đáp ứng những nhu cầu của thời đại.
PISA thu nhập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh được trên bình
diện quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về năng lực đọc hiểu, năng lực Toán học
và khoa học của HS độ tuổi 15, từ đó giúp chính phủ các nước tham gia PISA rút ra những
bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.
PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:

12


+ Chính sách công: "Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những
người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống trưởng thành chưa ?", "Phải chăng một số
loại hình học tập và giảng dạy của những nơi này hiệu quả hơn những nơi khác
?"…
+ Hiểu biết phổ thông: Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo dục
cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kĩ năng trong các lĩnh
vực chuyên môn và khả năng phân tích, lý giải, truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem
xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề.
+ Học suốt đời: HS không thể học tất cả mọi thứ cần biết trong nhà trường. Để trở
thành những người học suốt đời có hiệu quả, HS không những phải có kiến thức và kỹ năng
mà còn có cả ý thức về lý do và cách học. PISA không những khảo sát kỹ năng của HS về
đọc hiểu, Toán và Khoa học mà còn đòi hỏi HS cả về động cơ, niềm tin về bản thân cũng
như các chiến lược học tập.
1.4.2. Mục tiêu đánh giá theo PISA


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status