Luận văn Kiến thức, thái độ và thực hành rửa tay phòng bệnh của sinh viên Y6 hệ bác sĩ đa khoa trường đại học Y Hà Nội - Pdf 36

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rửa tay phòng bệnh là rửa tay sạch đúng cách bằng xà phòng và nước,
tại đúng các thời điểm (như trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi tiếp xúc với
máu/dịch cơ thể...) nhằm loại trừ các vi khuẩn gây bệnh bám trên tay người do
quá trình tiếp xúc với môi trường mang lại. Rửa tay phòng bệnh bao gồm rửa
tay xà phòng (RTXP) trong sinh hoạt hằng ngày và rửa tay thường quy (RTTQ)
tại bệnh viện.
Các nhà khoa học đã xác định, trên 1cm² da của người bình thường chứa
tới 40.000 vi khuẩn. Đặc biệt số lượng này còn nhiều hơn ở trên da tay, vốn là
nơi thường xuyên tiếp xúc với đủ mọi vật trong cuộc sống thường ngày [5].
Theo tổ chức y tế thế giới (TCYTTG), rửa tay (RT) được coi là liều vắc
xin tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả về chi phí. Chỉ một động tác
RT sạch với nước và xà phòng đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi
khuẩn Shigella, vốn là nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy và làm tử vong
hàng triệu người mỗi năm trên thế giới [37]. Theo nhiều báo cáo của các
chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoài nước thì các bệnh truyền
nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa
được bằng cách RTXP [21, 27].
Khuyến cáo tại Hội nghị kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện khu vực
Châu Á Thái Bình Dương lần thứ III năm 2007 dựa vào các nghiên cứu khoa
học đã chỉ ra : 1. Rửa tay là biện pháp đơn giản nhất, rẻ tiền nhất và cũng hiệu
quả nhất trong kiểm soát nhiễm khuẩn, do đó cần tăng cường sự tuân thủ RT.
2.RTTQ hoặc sát khuẩn tay bằng dung dịch chứa cồn là phương pháp tiện ích
và hiệu quả nhất trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện [18]. TCYTTG ước
tính, tại bất kỳ một thời điểm nào đều có trên 1,4 triệu ca nhiễm khuẩn liên
quan tới chăm sóc y tế [43]. Nhiễm khuẩn bệnh viện ngày nay đã trở thành một
thách thức mang tính thời đại và tính toàn cầu, được ngành y tế các quốc gia
trên thế giới hết sức quan tâm.



3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sinh thái học của lớp vi khuẩn trên đôi bàn tay
1.1.1 Lớp vi khuẩn cư trú thường xuyên
Bình thường trên bàn tay người có lớp vi khuẩn (VK) cư trú thường
xuyên. Chúng nằm trên bề mặt và sâu dưới da; ổn định về mặt số lượng và
chủng loại. Theo các nhà khoa học, dù không nhìn thấy bằng mắt thường,
nhưng quan sát qua kính hiển vi trên 1cm² da tay người bình thường chứa
hơn 40.000 vi khuẩn các loại [5]. Chúng thường là VK không gây bệnh
trên người lành như:
• Staphylocoque coagulase negative
• Cryhelacteries
• Microcoques
• Propionibacterium acnes...
Lớp VK này không bao giờ bị tiêu diệt hoàn toàn ngay cả khi rửa tay (RT)
ngoại khoa. Cách duy nhất để đảm bảo an toàn cho NVYT và bệnh nhân là
mang găng tay vô khuẩn [13].
1.1.2 Lớp vi khuẩn cư trú tạm thời
Hằng ngày, thông qua những tiếp xúc với bệnh nhân và môi trường
xung quanh; số lượng VK trên bàn tay các NVYT còn tăng lên gấp nhiều
lần. Lớp VK này có mặt ngay trên bề mặt da bàn tay, chúng rất phong phú
về chủng loại cũng như số lượng. Chúng thường là những VK gây bệnh cơ
hội như:
• Enterobacteries
• E.coli
• Klebsiella



5

nhập viện tại hai khoa sản mà không phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng. Ở
khoa thứ nhất, sản phụ được thăm khám bởi các sinh viên y đi từ phòng mổ
xác đi sang phòng đỡ đẻ. Còn ở khoa thứ hai, sản phụ được khám bởi các
nữ hộ sinh không có tiếp xúc với phòng mổ xác. Tỷ lệ tử vong cho mẹ ở
khoa đầu tiên là 18%, với nguyên nhân chính là sốt sản khoa; trong khi ở
khoa thứ hai chỉ là 2%. Semmelweis cũng quan sát thấy rằng một đồng
nghiệp làm tại khoa sản bị chết, vì một bệnh giống với trường hợp sốt sản
khoa, sau khi bị cắt phải tay khi đang mổ xác. Ông có kết luận rằng, các hạt
gây nhiễm nhỏ gây ra sốt sản khoa có nguồn gốc từ tử thi và được lây
truyền cho sản phụ ở khoa thứ nhất qua bàn tay thăm khám của sinh viên y.
Vì vậy ông đã cho những người đi từ phòng mổ xác khử khuẩn tay bằng
vôi chlorinate, sau đó thì tỷ lệ tử vong cho mẹ ở khoa thứ nhất đó giảm
xuống bằng khoa thứ hai. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, nhiều người cho
rằng khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với người bệnh của
Semmelweis là quá nhiều và không bác sĩ nào chấp nhận đôi bàn tay họ
chính là nguyên nhân gây tử vong hậu sản. Một số người khác thì cho rằng
kết quả nghiên cứu của ông thiếu bằng chứng khoa học [27, 36].
Năm 1879, tại một hội thảo khoa học ở Paris, bác sĩ Louis Pasteur đã
lên tiếng: “Nguyên nhân gây tử vong ở những bà mẹ bị nhiễm trùng hậu
sản chính là các bác sĩ đã sử dụng bàn tay khám các bà mẹ bị bệnh rồi
khám các bà mẹ mạnh khỏe”. Sau đó, ông đưa ra Lý thuyết về “Mầm bệnh”
và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sử dụng tới ngày nay [17].
Chưa đầy một thế kỷ sau, một nghiên cứu quan trọng khác đã được
tiến hành. Theo dấu đại dịch tụ cầu những năm 1950, Rammelkamp và
cộng sự đã chứng minh rằng sự tiếp xúc trực tiếp là nguyên nhân chính làm
lây truyền Staphylococcus aureus. Họ cũng chứng minh rằng: việc rửa tay
giữa những lần tiếp xúc với bệnh nhân đã làm tỷ lệ nhiễm S.aureus giảm


Bảng 1.1: Kết quả chương trình rửa tay qua nghiên cứu của Pittet
và cộng sự
TT
1

2

Nội dung

1993

1994

1997

48%

66%

> 20.000 lượt rửa tay từ năm 1995
đến 1997
Sự tuân thủ rửa tay
- Điều dưỡng và trợ lý điều dưỡng

Tăng

- Bác sĩ

Không tăng

khuyến cáo rửa tay đã được quan sát, sự tuân thủ rửa tay tăng lên từ 48%
đến 66%. Tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ rửa tay được cải thiện rõ rệt ở điều
dưỡng, hộ sinh nhưng tỷ lệ này không được cải thiện ở các bác sĩ. Tỷ lệ
NKBV giảm từ 17,9 % (1994) xuống còn 9,9% (1997). Sự lan truyền vi
khuẩn kháng Methicilin giảm từ 2,17 % (1994) xuống còn 0,93% (1997)
nhưng lượng tiêu thụ dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn lại tăng từ 3,5 lít
(1993) lên 15,4 lít (1997). Năm 2002, trong một báo cáo, Pittet đã tuyên bố
là từ năm 1999-2001, tỷ lệ NKBV duy trì ở mức 10% (giảm 6% so với
trước khi có chương trình rửa tay), trong khi kinh phí đầu tư cho chương
trình rửa tay chỉ là 290.000 USD, tính ra là đã tiết kiệm chi phí cho điều trị
nhiễm khuẩn trong 3 năm là 12 triệu đô la Mỹ [31].
Tại Việt Nam, kết quả điều tra về vấn đề NKBV năm 2000 do Sở Y
tế thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các chuyên gia y tế Pháp tiến hành


8

cho thấy: Trong 9.900 bệnh nhân (BN) của 24 đơn vị bệnh viện trên toàn
địa bàn thành phố phát hiện được 854 ca nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh
viện (chiếm tỷ lệ 8,6%), trong đó cao nhất là viêm phổi nhiễm khuẩn
(26,5%), nhiễm khuẩn do đặt thông tiểu là 18,8% [20]. NKBV là những
nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian nằm viện mà lý do nhập viện không
phải do nhiễm trùng ấy, thường xuất hiện sau 48 giờ nhập viện. Nhiễm
khuẩn này không hiện diện cũng như không ở trong giai đoạn ủ bệnh tại
thời điểm nhập viện [7]. Hậu quả của NKBV là kéo dài thời gian nằm viện,
tăng chi phí điều trị, tăng tỷ lệ BN tỷ vong, tăng nguy cơ tạo các chủng VK
kháng thuốc [17]. NKBV đang trở thành một gánh nặng thực sự của ngành
y tế. Tăng cường sự tuân thủ RTTQ là điều quan trọng nhất trong các cơ sở
y tế, các bệnh viện.
Việc tăng cường thực hành RTTQ trong các bệnh viện ở Việt Nam đã


Sơ đồ 1.1 Sơ đồ lây truyền bệnh đường phân-miệng


10

Kết quả xét nghiệm bàn tay người tại 11 tỉnh của Việt Nam cũng cho thấy,
tỷ lệ đối tượng có bàn tay nhiễm E.coli từ phân rất cao [10]. Do đó sau khi
đi vệ sinh, cần phải rửa tay ngay với xà phòng. Điều này không những giúp
giữ gìn thân thể sạch sẽ mà còn phòng chống lây nhiễm bệnh tật và còn tạo
được thói quen vệ sinh. Và cũng cần phải RTXP trước khi chuẩn bị thức ăn
và trước khi ăn để loại trừ các VK bám trên tay có thể lây lan vào thức ăn
và vào miệng.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rất rõ lợi ích của RTXP.
Theo Luby và cộng sự, việc khuyến khích RTXP và tăng cường giáo dục
cho trẻ em nghèo tại Karachi, Pakistan đã làm giảm 40% tỷ lệ chốc, giảm
53% tỷ lệ tiêu chảy, và giảm 50% tỷ lệ viêm phổi. Tỷ lệ trẻ em tới bác sĩ vì
tiêu chảy giảm 56% và giảm 26% số trẻ cần được nhập viện [33]. Theo
nghiên cứu phân tích của Aiello và nhóm nghiên cứu (2002), việc tăng
cường RTXP giúp làm giảm 31% bệnh đường tiêu hóa và giảm 21% bệnh
hô hấp. RTXP là một phương pháp có tính khả thi và hiệu quả về chi phí,
giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn ở các nước đang phát triển [25].
Tại hội thảo Vệ sinh cá nhân vì sức khỏe cộng đồng, ông Trần Đắc
Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế cho biết: “Rửa tay xà phòng,
chúng ta nghĩ là đơn giản nhưng thực ra rất quan trọng, làm giảm nguy cơ
mắc các bệnh truyền nhiễm” [12]. Ngành y tế đã và đang đẩy mạnh tuyên
truyền lợi ích RTXP, vận động thực hành thường xuyên RTXP trong cộng
đồng [2, 23, 38, 39], đặc biệt đây cũng là một cách hữu hiệu trong phòng
chống đại dịch Cúm A (H1N1) đang bùng phát hiện nay [16]. Vi rút Cúm
A (H1N1) là một loại vi rút có khả năng lây từ người sang người. Đường

hỏi về RTTQ đa số các y tá lâm sàng không đạt kiến thức liên quan tới việc
VSBT. Phần lớn các y tá đều báo cáo rằng họ luôn luôn RT sau khi tiếp xúc
với BN hay các chất thải, máu/dịch cơ thể. Các y tá đều tán thành việc phải


12

RTTQ một cách thường xuyên nhưng thực tế họ không thể làm được điều
này vì thiếu các cơ sở vật chất [26]. Một nghiên cứu khác nhằm thu thập
các thông tin về thực hành RTTQ để từ đó đưa ra các biện pháp kiểm soát
lây nhiễm. Trong số các sinh viên điều dưỡng (Thổ Nhĩ Kỳ) được hỏi theo
bộ câu hỏi có 80,2% sinh viên (SV) trả lời có RTTQ trước và sau mỗi lần
làm thủ thuật cho BN. Thời gian trung bình 1 lần RTTQ từ 1 phút trở lên
chiếm 71,9%. Kết luận từ nghiên cứu cho thấy tất cả các sinh viên đều
được học về rửa tay nhưng họ vẫn chưa thực sự quan tâm tới RT và chưa
thực hành được những kiến thức đã học [28].
Một chương trình nghiên cứu lớn tại 11 quốc gia đang phát triển được
tiến hành năm 2007 với mục đích nhằm cung cấp những hiểu biết cần thiết
để phát triển các chiến lược cho việc thay đổi hành vi rửa tay. Nghiên cứu
tập trung chủ yếu vào đối tượng các bà mẹ hay những người đang chăm sóc
trẻ nhỏ, sử dụng phương pháp phỏng vấn và quan sát để đánh giá về các
hành vi rửa tay.
Bảng 1.2: Tỷ lệ RTXP của các bà mẹ, người chăm sóc trẻ tại những
thời điểm quan trọng ở 11 nước đang phát triển.

Địa điểm
nghiên cứu
Ghana
Kerola, India
Madagascar

Chỉ RT

sau VS

trước cho

trước

với

cho trẻ

trẻ ăn

nấu ăn

nước

(%)
25.0
-

(%)
1.0
12.0
6.0

(%)
18.0
-

11.0
6.0
8.0
44.0
Việt Nam
720
23.0
5.0
51.0
Kenya
802
29.0
38.0
17.0
15.0
57.0
Trung bình
18.0
19.0
5.0
17.0
45.0
Rửa tay xà phòng có thể là một trong những biện pháp ngăn ngừa về
nhiễm trùng có hiệu quả về chi phí nhất ở những nước đang phát triển. Tuy
nhiên tỷ lệ thực hành RTXP lại rất thấp. Kết luận của nghiên cứu cho thấy
chỉ có 18% RTXP và 45% chỉ RT với nước sau khi đi vệ sinh. Tỷ lệ chỉ rửa
tay với nước cao gấp 3 lần so với RTXP. Tỷ lệ RTXP tại các thời điểm
trước khi cho trẻ ăn và trước khi nấu ăn rất thấp [37].
Nghiên cứu của Yalcin SS, Yalsin S, Altin S (2004) về " Rửa tay
của thanh thiếu niên" được tiến hành tại 7 trường học tại Konya, Thổ Nhĩ

17/3/2007. Tại BV Bạch Mai: chỉ 2,6% nhân viên y tế RTTQ trước khi
thăm khám bệnh nhân và 4,2% RTTQ trước khi chuyển từ thao tác bẩn
sang thao tác sạch trên cùng một bệnh nhân. Tỷ lệ RTTQ trong ngày của
các NVYT còn quá thấp, chỉ từ 3 – 5 lần/ngày [15]. Thạc sỹ Trần Đức
Mục_Phó Vụ trưởng Vụ Điều trị (Bộ y tế) cho biết chỉ có 17% NVYT ở
Việt Nam RTTQ thường xuyên và đúng cách [12].
Nghiên cứu về việc tuân thủ RTTQ tại BV Saint Paul và Thanh Nhàn
năm 2007 cho thấy, tỷ lệ bác sĩ và điều dưỡng không RT lần nào chiếm tỷ
lệ 58,3%. Tỷ lệ NVYT RT khi có cơ hội chỉ là 12,2% [1].
Kết quả khảo sát trong năm 2009 tại 29 khoa lâm sàng thuộc khối
ngoại, sản, cấp cứu của 9 BV tuyến Trung ương và tỉnh của khu vực phía
Bắc cho thấy: hơn 58% NVYT không trả lời đúng các câu hỏi về VSBT
[15]. Còn trong lễ phát động “Bàn tay sạch” được tổ chức tại BV Nhi


15

Trung ương, 300 NVYT có mặt đều không nắm được quy trình RTTQ do
bộ Y tế quy định. Những NVYT thao tác sai quy trình đều không cảm thấy
gò bó khi được yêu cầu thực hiện lại [4].
Tại cộng đồng, Cục Y tế dự phòng Việt Nam, Bộ Y tế công bố sau
một loạt nghiên cứu đánh giá "Hiện trạng về RT bằng xà phòng tại cộng
đồng dân cư của 10 xã khu vực phía Bắc". Cuộc điều tra được tiến hành hết
sức công phu với việc các cán bộ tham gia điều tra đã ở tại các hộ gia đình từ
5h sáng đến 20h tối và tiến hành quan sát về thực hành vệ sinh cá nhân của
1.180 người dân. Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ người dân trong cộng đồng
RTXP rất thấp. Chỉ có 6,1% số đối tượng được quan sát có RTXP trước khi
ăn; 0,8% số người RTXP sau tiểu tiện; 18,6% có thực hiện hành vi RTXP
sau khi đại tiện. Tỷ lệ các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi có 2,6% RTXP
trước khi cho trẻ ăn, 10,5% sau khi cho trẻ đi tiểu/đại tiện và 17,1% có

năm học 2009 - 2010.
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
• Những sinh viên hiện đang theo học năm thứ 6 hệ Bác sĩ đa khoa
trường đại học Y Hà Nội tại thời điểm nghiên cứu ( năm 2010).
• Sinh viên tự nguyện và đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
• Những sinh viên hiện đang theo học tại trường đại học Y Hà Nội tại
thời điểm nghiên cứu nhưng khác chuyên ngành và/hoặc khác năm
học.
• Những sinh viên không tự nguyện và từ chối tham gia nghiên cứu.
• Sinh viên không tuân thủ qui trình thu thập số liệu (không hoàn
chỉnh bộ câu hỏi, sao chép bài của sinh viên khác…).
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu đã được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2010, thời gian
thu thập số liệu tháng 4 năm 2010 tại trường đại học Y Hà Nội.


18

2.4 Mẫu và cách chọn mẫu
Cách chọn mẫu: mời tất cả sinh viên khối Y6 hệ Bác sĩ đa khoa đang
học tại trường đại học Y Hà Nội tham gia nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu
tới tất cả 12 tổ sinh viên giải thích về nghiên cứu, phát bộ câu hỏi và mời
các bạn tham gia tự điền bộ câu hỏi với sự hướng dẫn và giám sát của
nghiên cứu viên.
Khối sinh viên Y6 đa khoa có tất cả 12 tổ, tổng số 295 sinh viên,
chúng tôi đã phát ra 295 phiếu câu hỏi nhưng chỉ thu lại được 160 phiếu,
trong đó có 40 phiếu điền chưa đủ hết các thông tin. Mẫu số thực tế để
phân tích cho nghiên cứu là 120 sinh viên Y6 đa khoa.
2.5 Biến số, chỉ số nghiên cứu

20

Ghi chú:
- Mỗi bước chà 5 lần.
- Thời gian rửa tay tối thiểu 30 giây, hoặc chà xát tay cho đến khi
tay khô.
Khi thực hiện RTTQ cần chú ý:


Nhất thiết phải RT bằng nước và XP khi tay dây bẩn, dính máu/dịch
cơ thể.



Có thể khử khuẩn tay bằng dung dịch cồn khi tay không trông rõ vết
cáu bẩn.



Nếu RT bằng XP và nước: Sau RT cần lau khô toàn bộ bàn tay bằng
khăn sạch và khóa vòi nước bằng khăn vừa sử dụng tránh làm ô
nhiễm lại bàn tay.



Không rửa lại tay bằng nước sau khi đã chà tay bằng cồn.

5 thời điểm cần tuân thủ RTTQ theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới:



SV nắm được mục đích RTTQ.
• Quy trình RTTQ do bộ Y tế quy định: SV kể được số bước có trong
quy trình (được 1 điểm), nội dung từng bước theo đúng thứ tự quy
trình. Mỗi bước SV kể đúng thứ tự và đủ được tính 1 điểm. Kể đúng
được thời gian tối thiểu cho RTTQ (30 giây) được 1 điểm.
• Đánh giá SV đạt kiến thức chung về RTTQ (bao gồm kiến thức về
thời điểm, mục đích, quy trình RTTQ) khi SV trả lời được từ 80%
câu hỏi về phần kiến thức (đạt được từ 16/20 điểm trở lên).
- Nhóm biến số về thái độ của SV đối với RTTQ: đánh giá mức độ tán
thành của SV: đồng ý – bình thường – không đồng ý đối với các quan
niệm (bao gồm cả các quan niệm đúng và chưa đúng) về mục đích, hiệu
quả, thời điểm và cách thức RTTQ. Nếu các quan niệm đúng SV đồng ý và
các quan niệm sai SV không đồng ý thì chúng tôi đánh giá là SV có thái độ
tích cực.
- Nhóm biến số về thực hành RTTQ: sinh viên sẽ điền vào phiếu hỏi các
thông tin như:
• Mức độ thường xuyên – không thường xuyên RTTQ.
• Nguyên nhân SV không thường xuyên RTTQ.
• Các thời điểm được khuyến cáo SV có – không RTTQ.
• Thời gian trung bình một lần RT.
• Cách RTTQ: sử dụng nước và xà phòng, cồn sát khuẩn, nước.


22

2.5.3 Nhóm biến số về rửa tay xà phòng
- Định nghĩa rửa tay xà phòng: là rửa tay với xà phòng và nước
sạch [14].
- Quy trình RTXP do Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo (2009) [11].
Bước 1: Làm ướt hai bàn tay


phòng dưới nguồn nước sạch.

giữa các ngón của bàn tay kia

bàn tay kia bằng cách xoay

Lau khô tay bằng khăn hoặc

và ngược lại.

đi, xoay lại.

giấy sạch.

Chú ý:


Thời gian mỗi lần rửa tay tối thiểu là 01 phút.



Các bước 2,3,4,5 làm đi làm lại tối thiểu 5 lần.

4 thời điểm quan trọng RTXP [14]:


Trước khi chuẩn bị thức ăn.



• Tỷ lệ SV sử dụng xà phòng trong vòng 24h tính từ thời điểm trả lời
câu hỏi trở về trước: có – không – không nhớ.
• Thời điểm SV RTXP.
• Mức độ SV nhắc nhở những người xunh quanh RTXP:
thường xuyên – thỉnh thoảng – chưa từng nhắc.


24

2.6 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu:
Số liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi. Bộ công cụ thu thập số
liệu do nhóm nghiên cứu xây dựng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn.
Bộ công cụ thu thập số liệu được thử nghiệm trước khi đưa vào áp dụng
chính thức trong nghiên cứu.
2.7 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi được thu thập được làm sạch và nhập vào máy tính
bằng phần mềm Epidata 2.1. Phần mềm thông kê Stata 10 được sử dụng
trong phân tích số liệu. Cả thống kê mô tả và suy luận được thực hiện.
Kiểm định khi bình phương được sử dụng để so sánh tỷ lệ thực hành RTTQ
và tỷ lệ RTXP trong số sinh viên được nghiên cứu. Mức ý nghĩa thống kê
p< 0,05 được sử dụng trong thống kê suy luận.
2.8 Sai số và cách khắc phục sai số
- Bộ câu hỏi được thử nghiệm trên 5 sinh viên trước khi điều tra
chính thức.
- Các phiếu chưa điền đủ thông tin được loại ra khỏi nghiên cứu.
- Quá trình nhập số liệu vào máy được thực hiện 2 lần và được kiểm
tra đối chiếu với từng phiếu.
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu được sự thống nhất và đồng ý của trường đại học Y
Hà Nội.

25
20.8

26
3
2.5

27
2
1.7

Tổng
120
100

Nhận xét:
Kết quả ở bảng trên cho thấy đa phần sinh viên ở nhóm tuổi 24
(chiếm 70%). Tuổi cao nhất của sinh viên tham gia nghiên cứu là 27 tuổi,
tuổi thấp nhất là 23 tuổi. Tuổi trung bình của sinh viên là 24,4 tuổi.
* Đặc điểm về dân tộc: 100% sinh viên tham gia nghiên cứu là dân tộc
kinh.
Bảng 3.2 Nơi ở hiện tại của sinh viên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status