ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ PHƯƠNG THANH
PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VỀ
BIỂN, ĐẢO NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT
PHÁP QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN
TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số
: 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Phước
Hiệp
Hà Nội – 2011
MỤC LỤC
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT TRUNG
QUỐC VỀ BIỂN, ĐẢO .................................................................................... 6
1.1. Chính sách bành trướng ra biển, đảo của Trung Quốc là sợi chỉ đỏ xuyên
suốt toàn bộ pháp luật Trung Quốc về biển, đảo .............................................. 6
1.1.1. Tổng quan về chính sách bành trướng ra biển, đảo của Trung Quốc...... 6
1.1.2. Tổng quan về chính sách bành trướng của Trung Quốc đối với Biển
Đông và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa .......................................................... 9
2.2.1.1. Đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa ....................................................................................................... 56
2.2.1.2. Quy chế pháp lý của lãnh hải theo pháp luật Trung Quốc ................. 60
2.2.2. Pháp luật Trung Quốc về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ...... 64
2.2.3. Bản chất pháp lý của đường hình chữ U - sự vi phạm nghiêm trọng
pháp luật quốc tế về biển ................................................................................. 72
2.2.4. Quy chế pháp lý của quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nhìn
từ góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật Trung Quốc .................................... 81
2.3. Tác động của chính sách, pháp luật Trung Quốc tới cục diện tranh chấp
Biển Đông và tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa ........................................................................................................ 91
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT BIỂN VIỆT NAM QUA NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT
TRUNG QUỐC ............................................................................................... 95
3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về biển, đảo ........................................... 95
3.1.1. Khái quát pháp luật biển Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1945 đến
nay
95
3.1.2. Những văn bản pháp lý quan trọng của Việt Nam về vấn đề biển, đảo
có liên quan trực tiếp tới Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 98
3.1.3. Những hạn chế của pháp luật biển Việt Nam ..................................... 100
3.2. Đối sách cho Việt Nam trước tác động của chính sách, pháp luật Trung
Quốc về biển đối với cục diện tranh chấp Biển Đông .................................. 105
3.3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật biển Việt Nam .............................. 111
3.4. Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật biển Việt Nam ....................... 114
KẾT LUẬN ................................................................................................... 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 129
hợp thức hóa các hoạt động của mình trên các vùng biển tranh chấp. Điều này
đã ảnh hưởng trực tiếp tới chủ quyền và lợi ích quốc gia của Việt Nam.
Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/2/2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa 9 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 đã xác định: “Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ
quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền,
quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
và các quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền nước ta. Nhiệm vụ trước mắt là
phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy
trì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển”. Một trong những giải pháp được
đưa ra đó là: “Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, nắm chắc luật pháp và tập
quán quốc tế để giải quyết kịp thời, có hiệu quả các tranh chấp biển, đảo;
không để xảy ra các điểm nóng. Xây dựng cơ sở pháp lý và lịch sử để đấu
tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Từ
những quan điểm thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và để thực
hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề phân định biển, bảo vệ
chủ quyền trên biển, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật biển của
các quốc gia hữu quan trong đó có Trung Quốc là vô cùng cần thiết.
Trong thực tiễn, tranh chấp trên Biển Đông, tranh chấp chủ quyền giữa
Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa đã kéo dài nhiều thập kỷ
làm ảnh hưởng đến hòa bình, an ninh trong khu vực nói chung và ảnh hưởng
đến mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc nói riêng. Những
năm qua, hai nước đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán tuy nhiên vẫn chưa tìm
được tiếng nói chung. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu
pháp luật Trung Quốc về biển, đảo để bảo đảm giữ vững chủ quyền và lợi ích
quốc gia khi tiến hành các cuộc đàm phán với Trung Quốc thời gian tới.
2
Đánh giá tác động của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với
tranh chấp Biển Đông.
Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của chính sách pháp luật
biển Trung Quốc đối với cục diện Biển Đông.
Đưa ra những đối sách cho Việt Nam nhằm hạn chế, giảm thiểu những
tác động tiêu cực của chính sách pháp luật Trung Quốc tới tranh chấp
Biển Đông.
Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đưa
ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
về biển, đảo.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài, luận văn nghiên cứu hệ thống pháp luật về biển,
đảo của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong giai đoạn từ năm 1949 đến
nay và tập trung nghiên cứu những văn bản pháp luật về biển, đảo có liên quan
trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
o Phương pháp duy vật biện chứng;
o Phương pháp phân tích tổng hợp;
o Phương pháp quy nạp và diễn dịch;
o Phương pháp thống kê;
o Phương pháp so sánh;
o Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
truyền thống và hiện đại khác.
5. Những đóng góp của luận văn
Luận văn trên cơ sở nghiên cứu những văn bản pháp luật chủ yếu của
Trung Quốc về biển, đảo đưa đến một cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp
4
Quốc cũng được biết đến như một quốc gia mang trong mình những tư tưởng
thống trị và tham vọng bá quyền. Điều này thể hiện trong các tuyên bố và
hành động của Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua. Trung Quốc luôn duy trì
chính sách bành trướng, mở rộng chủ quyền lãnh thổ. Từ các vùng lãnh thổ
của các quốc gia có chung đường biên giới đến các vùng biển khác nhau đều
nằm trong tầm ngắm của Trung Quốc. Chính tư tưởng bành trướng trên cơ sở
những luận điệu khác nhau đã khiến tranh chấp về phân định đường biên giới
giữa Trung Quốc với nhiều quốc gia (như Nga, Mông Cổ, Ấn Độ, các nước
Trung Á, Đông Nam Á) thường xuyên phát sinh.
Trong quan hệ với Nga, trong lịch sử và đặc biệt là vào thập niên 60-70
của thế kỷ 20, hai nước đã có những bất đồng lớn khi Bắc Kinh đòi 1.540 km²
đất thuộc lãnh thổ Nga mà dường như “Sa hoàng đã cướp của Trung Quốc
trong thế kỷ 19”. Các nhà sử học Trung Quốc cố công đưa ra luận thuyết về
“những vùng đất bị mất” và “món nợ nào đó” của Nga đối với Trung Quốc,
mà âm hưởng của nó đến ngày nay vẫn còn thấy rộ lên trong các công trình
nghiên cứu, các ấn phẩm phát hành rộng rãi và thậm chí cả trong sách giáo
khoa phổ thông. Tuy Hiệp định ngày 16/5/1991 về vùng biên giới phía đông,
Hiệp định ngày 03/9/1994 về vùng biên giới phía tây và Hiệp ước Nga -
6
Trung ký ngày 16/7/2001 đã bước đầu giải quyết thực tế những tranh chấp
lãnh thổ giữa hai nước song vẫn còn nhiều vấn đề còn tồn tại trong việc phân
định biên giới giữa Nga và Trung Quốc.
Về vấn đề phân định đường biên giới dài 3.500 km với Ấn Độ, giữa
những năm 50, Trung Quốc cho công bố bản đồ địa lý, trong đó có một phần
lãnh thổ của Ấn Độ cũng như của Sich Kim, Bhutan, Nepal và một số nước
khác. Tình hình biên giới chỉ giảm bớt căng thẳng vào đầu thập kỷ 80-90 của
thế kỷ 20. Trong cuộc gặp gỡ cấp cao ở Bắc Kinh ngày 07/9/1993, hai bên đã
định này áp dụng cho tất cả lãnh thổ của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
bao gồm đại lục nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các đảo ven biển, Đài
Loan và các đảo xung quanh của nó bao gồm đảo Điếu Ngư, Bành Hồ, quần
đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất
cả các đảo khác thuộc Trung Quốc. Tiếp đó, Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 25/2/1992 đã quy định: “Lãnh hải
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là vùng biển tiếp liền lãnh thổ đất liền
và nội thuỷ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Lãnh thổ lục địa nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bao gồm đại lục
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các đảo ven biển, Đài Loan và các
đảo xung quanh nó bao gồm đảo Điếu Ngư, Bành Hồ, quần đảo Đông Sa,
quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất cả các đảo
khác thuộc về nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”.
Như vậy, phạm vi “lãnh thổ lục địa” mà Trung Quốc tuyên bố bao gồm
nhiều đảo ven biển, Đài Loan, đảo Điếu Ngư, Bành Hồ, quần đảo Đông Sa,
quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất cả các đảo khác
thuộc về nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Qua những quy định trong các
Tuyên bố và văn bản pháp luật Trung Quốc nói trên, có thể thấy rõ chính sách
bành trướng ra biển, đảo của Trung Quốc.
8
1.1.2. Tổng quan về chính sách bành trướng của Trung Quốc đối với
Biển Đông và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
1.1.2.1. Tổng quan về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông
Biển Đông gắn liền với quyền lợi không thể từ bỏ của Trung Quốc và
để đảm bảo sự hiện diện của mình trong khu vực, nước này đã đề ra những
chính sách quân sự và ngoại giao mang màu sắc riêng “rất Trung Quốc”. Tạp
chí Hoàn Cầu - Tân Hoa Xã Trung Quốc trên cơ sở tập hợp các tuyên bố của
phá huỷ bia chủ quyền của Trung Quốc thiết lập trên một số đảo không người
ở Nam Sa, bắt giữ và dùng vũ lực truy đuổi ngư dân nước ta tác nghiệp tại
Nam hải, đối với vấn đề này, Trung Quốc vẫn trước sau kiên trì thông qua
con đường ngoại giao, dùng phương thức hòa bình cùng các quốc gia hữu
quan thương lượng giải quyết các vấn đề có liên quan. Điều này rõ ràng thể
hiện thành ý của Trung Quốc trong việc bảo vệ sự ổn định khu vực và quan
hệ hữu nghị song phương.
Trung Quốc rất coi trọng sự an toàn hàng hải quốc tế Nam Hải. Trung
Quốc bảo vệ chủ quyền tại các đảo ở Nam Sa và các lợi ích biển không ảnh
hưởng tới quyền tự do thông hành của tàu thuyền và máy bay nước ngoài
được hưởng theo pháp luật quốc tế. Trên thực tế, Trung Quốc chưa từng can
dự vào tự do thông hành của tàu thuyền và máy bay nước ngoài trong vùng,
từ nay về sau cũng không làm như vậy. Trung Quốc nguyện cùng các quốc
gia ven bờ Nam Hải cùng bảo vệ tuyến đường hàng hải quốc tế khu vực Nam
Hải.
Vấn đề Nam Hải là vấn đề giữa Trung Quốc và các quốc gia hữu quan.
Chính phủ Trung Quốc nhất quán thông qua đàm phán song phương hữu nghị
giải quyết những bất đồng với các bên hữu quan. Sự can dự của bất cứ thế
lực bên ngoài nào đều không thể chấp nhận được, chỉ có thể khiến tình hình
thêm phức tạp. Trung Quốc và các quốc gia hữu quan hoàn toàn có đủ khả
năng và lòng tin sẽ giải quyết ổn thoả tranh chấp giữa các bên. Hòa bình và
10
an ninh của khu vực Nam hải sẽ được bảo đảm lâu dài. Hiện nay vùng Nam
Hải cơ bản không tồn tại bất cứ nguy cơ nào. Tô vẽ cục diện Nam Hải căng
thẳng là trái sự thật, thậm chí là có dụng tâm khác” [77].
Tuy đưa ra những tuyên bố ngoại giao như vậy nhưng những hành động
của Trung Quốc tại Biển Đông lại khác xa so với những tuyên bố này. Với
quyết tranh chấp biển với các quốc gia hữu quan.
Bên cạnh những tuyên bố ngoại giao, chính sách của Trung Quốc đối
với Biển Đông còn được thể hiện qua quan điểm “gác lại tranh chấp cùng
nhau khai thác”. Phương án “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” được
Trung Quốc đề xuất gồm 4 luận điểm cơ bản: Luận điểm thứ nhất là chủ
quyền thuộc về Trung Quốc. Theo Trung Quốc, chủ quyền thuộc về Trung
Quốc là một vấn đề mang tính nguyên tắc, cần phải kiên trì. Tháng 3 năm
1991, Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kì Thâm đã phát biểu: “Trong điều
kiện Trung Quốc có chủ quyền, chúng tôi đồng ý thoả thuận với các quốc gia
khác tới khai thác chung”.
Luận điểm thứ hai là đối với tranh chấp trong việc phân định biển,
trong điều kiện chưa thể giải quyết một cách triệt để, có thể chưa bàn tới vấn
đề chủ quyền mà gác lại tranh chấp. Gác lại tranh chấp không có nghĩa là từ
bỏ chủ quyền mà là trước hết gác lại chủ quyền.
Luận điểm thứ ba là các bên liên quan sẽ tiến hành cùng khai thác đối
với một số vùng lãnh thổ có tranh chấp.
Luận điểm thứ tư khẳng định mục đích của việc cùng khai thác là thông
qua hợp tác tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tạo điều kiện cho việc giải quyết
tranh chấp chủ quyền sau này.
Trung Quốc coi “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” là giải pháp
phù hợp đối với các bên tại Biển Đông. Trung Quốc thẳng thắn đưa ra quan
điểm sẽ khai thác chung trên cơ sở Trung Quốc có chủ quyền, đề xuất một
12
giải pháp trong đó phủ nhận chủ quyền của các quốc gia hữu quan đối với
vùng tranh chấp. Điều này lý giải cho sự thất bại của phương án “gác lại tranh
chấp cùng nhau khai thác” tại Biển Đông. Không một quốc gia nào có thể tiến
hành hợp tác khai thác chung với Trung Quốc khi nước này khẳng định đồng
(Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải) và biển Nhật Bản cùng với các đảo và
những cơ sở cầu cảng khác của Trung Quốc trải rộng từ Hải Nam tới Trung
Đông, chuỗi ngọc trai sẽ giống như như một vành đai bao quanh rất nhiều đất
liền châu Á. Những khu vực này chính là lợi ích an ninh quốc gia mà Trung
Quốc tin là sống còn với cả sứ mệnh bảo vệ vùng biển cũng như chi phối châu
Á - Thái Bình Dương [1].
Bên cạnh đó, Trung Quốc xây dựng chiến lược “hải dương xanh” và
chuyển từ “phòng ngự biển gần”, sang phát triển theo hướng “hải quân viễn
dương”. Trung Quốc đang lên kế hoạch đóng tàu sân bay để tăng cường phạm
vi hoạt động, phát triển các loại tên lửa tấn công loại tàu này. Về kinh tế,
Trung Quốc cần chạy đua để giành giật các nguồn tài nguyên chiến lược.
Trung Quốc đã vươn ảnh hưởng đến châu Phi, châu Đại dương và Mỹ La-tinh
để tìm các nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu nhằm duy trì nền kinh tế tăng
trưởng nhanh chóng. Trung Quốc cũng cần đa dạng hóa các nguồn cung dầu
lửa. Có lẽ vì lý do đó mà Bắc Kinh ngày càng quyết liệt và mạnh bạo hơn
trong hoạt động thăm dò dầu khí ở Biển Đông, kiểm soát và ngăn chặn hoạt
động của các quốc gia khác ở vùng biển này.
1.1.2.2. Tổng quan về chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo
Hoàng Sa
Chính sách, lập trường của Trung Quốc đối với vấn đề quần đảo Hoàng
Sa được thể hiện trong nhiều tuyên bố, động thái ngoại giao và quân sự của
nước này qua các thời kỳ.
14
Từ năm 1884 đến năm 1909, không có gì chứng minh cho sự quan tâm
của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Mãi cho tới năm 1909, trước
việc năm 1907 Nhật Bản đưa ra các yêu sách về các đảo Pratas (người Trung
Quốc gọi là Đông Sa, một quần đảo khác của biển Nam Trung Hoa nằm ở
phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp đó và gửi một phân đội lính Pháp và
Việt Nam đến đặt một đồn lính ở đảo Hoàng Sa.
Chính phủ Trung Quốc phản đối và các cuộc thương lượng đã được tiến
hành từ ngày 25/2 đến 04/7/1947 ở Paris. Tại đây, Chính phủ Trung Quốc đã
từ chối không chấp nhận việc nhờ trọng tài giải quyết do Pháp đề xuất. Ngày
01/12/1947, Tưởng Giới Thạch ký một Sắc lệnh đặt các tên Trung Quốc cho
hai quần đảo hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Quốc.
Với sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1949, môi
trường quốc tế của cuộc tranh chấp đã bị thay đổi rất nhiều.
Không lâu sau khi Đổng lý Văn phòng của Hoàng đế Bảo Đại, hoàng
thân Bửu Lộc trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn đã công khai khẳng định lại
các quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa (tháng 4/1949), vào tháng
4/1950, đồn lính do Trung Hoa Dân quốc đặt trên đảo Phú Lâm đã được rút
đi. Đơn vị lính Pháp vẫn được duy trì ở đảo Hoàng Sa. Ngày 14/10, Chính
phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các
quần đảo. Tổng trấn Trung kì đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần
đảo Hoàng Sa.
Cho tới năm 1951, trong dự thảo Hiệp ước San Francisco, có đề cập tới
việc Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với các vùng lãnh
thổ đã tiến chiếm trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Được thông
báo về bản dự thảo Hiệp ước này, ngày 15/8/1951, Thủ tướng Trung Quốc
Chu Ân Lai ra Tuyên bố chủ quyền đối với các đảo ở Nam Hải, khẳng định
các quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và một số quần đảo khác ở Biển
Đông.
16
Nhưng vào tháng 9/1951, khi Hội nghị San Francisco khai mạc, Trung
Quốc đã không tới dự. Hội nghị kết thúc mà không chỉ ra sự quy thuộc rõ
bộ quần đảo Hoàng Sa bị đặt dưới sự kiểm soát của nước này.
Sau khi giành được Hoàng Sa từ Việt Nam, để củng cố vững chắc hơn
vị thế của mình, Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh Hoàng Sa là một bộ
phận lãnh thổ của họ. Như vào ngày 10/9/1975, Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa gửi một công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhấn mạnh rằng hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa luôn là một bộ phận lãnh thổ Trung Quốc.
Họ cũng cho xây dựng cơ sở hạ tầng và củng cố quân sự tại các đảo. Tháng 6
năm 1982, Trung Quốc cho xây dựng một cảng lớn ở Hoàng Sa (theo tin từ
Tân Hoa Xã).
Ngày 2/6/1984, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) Trung
Quốc quyết định thành lập một khu vực hành chính đặc biệt gồm đảo Hải
Nam và hai quần đảo (điều này đã vấp phải sự phản đối của Chính phủ Việt
Nam).
Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp ngày 25/2/1992 của Trung Quốc đã tạo
cơ sở pháp lý cho việc thiết lập đường cơ sở lãnh hải của quần đảo Hoàng Sa.
Năm 1996, Trung Quốc lại một lần nữa nhấn mạnh chủ quyền đối với
Hoàng Sa qua Tuyên bố phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển
năm 1982. Hội nghị lần thứ 19 Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân
toàn quốc Trung Quốc khoá 8 ngày 15/5/1996 quyết định phê chuẩn Công
ước Luật biển của Liên hợp quốc đồng thời tuyên bố: “Nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa nhấn mạnh có chủ quyền đối với các quần đảo và các đảo đã
được liệt kê tại Điều 2 Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa (công bố ngày 25/2/1992)”.
Tiếp đó, vào ngày 15/5/1996, Chính phủ Trung Quốc căn cứ theo Luật
lãnh hải và vùng tiếp giáp ra Tuyên bố đường cơ sở bộ phận lãnh hải lục địa
18
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đường cơ sở lãnh hải của quần đảo
* Thời kì thực dân Pháp đô hộ tới năm 1945:
Thời kỳ trước năm 1945 khi Pháp đô hộ Đông Dương, quần đảo
Trường Sa nằm trong sự kiểm soát của Pháp và sau đó có sự tham gia của
Nhật Bản, Trung Quốc hầu như không có tuyên bố và hành động gì đối với
việc Pháp, Nhật củng cố địa vị của họ trên đảo.
Dấu mốc quan trọng trong thời kỳ này chính là việc ngày 8/3/1925,
Toàn quyền Đông Dương tuyên bố các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc
nước Pháp.
Tiếp đó, ngày 13/4/1930, Toàn quyền Đông Dương đã phái tàu La
Malicieuse tới quần đảo Trường Sa. Các thành viên của tàu đã kéo quốc kì
Pháp trên một điểm cao. Thông cáo ngày 23/9/1930 đã thông báo cho các
cường quốc khác về sự chiếm đóng của Pháp trên quần đảo Trường Sa. Hải
quân Pháp, thay mặt cho Chính phủ Pháp sử dụng tất cả các thủ tục mà luật
pháp quốc tế thừa nhận tại thời điểm đó, chiếm hữu một cách chính thức
Trường Sa, và tuyên bố chủ quyền của Pháp tại các hòn đảo này.
Ngày 13/4/1933, một hạm đội nhỏ thuộc các lực lượng Hải quân Pháp
ở Viễn đông dưới sự chỉ huy của Trung tá hải quân De Lattre rời Sài Gòn tới
các đảo Trường Sa (gồm hạm La Malicieuse, pháp thuyền Alerte, các tàu thuỷ
văn Astrobale và De Lanessan). Sự chiếm hữu tiến hành theo nghi thức cổ, đó
là: một văn bản được thảo ra và các thuyền trưởng ký thành 11 bản - mỗi đảo
được nhận một văn bản, văn bản này được đóng kín vào trong một chiếc chai
rồi được gắn trong một trụ xi măng xây trên mỗi đảo tại một điểm ấn định và
cố định trên mặt đất. Người ta kéo cờ và tiến hành nghi lễ thổi kèn trên các
hòn đảo.
20
Năm 1933, theo Nghị định ngày 26/7, Chính phủ Pháp công bố việc
chiếm hữu của Hải quân Pháp đối với quần đảo Trường Sa (tên các đảo được