Tìm hiểu thị trường vàng tại Việt Nam hiện nay
I. Thị trường vàng:
Chức năng bao quát và sức hấp dẫn mạnh mẽ của vàng là một phương tiện đầu tư,
có được nền tảng cơ sở là nguồn cung và nguồn cầu năng động của thị trường vàng.
Vàng mang tính đặc biệt bởi nó vừa là tài sản dạng hàng hóa vừa là tài sản dưới
dạng tiền tệ. Bởi vì nó thực sự không thể tiêu hủy được, tất cả vàng thuộc loại
khoáng sản vẫn tồn tại trên mặt đất dưới dạng này hoặc dạng khác và theo lý thuyết
đa số trữ lượng vàng trên mặt đất thì dễ khai thác. Điều này có nghĩa là việc khai
thác vàng khá đơn giản, chỉ là chuyện tái chế lại từ dạng này sang dạng khác. Đây
là một trong những lý do tại sao giá vàng trong lịch sử thường ít biến động hơn giá
những hàng hóa thông thường khác. Nó cũng giải thích tại sao thị trường vàng trước
đây nhìn chung là ổn định.
GFMS Ltd ước tính cuối năm 2006 trữ lượng vàng trên mặt đất có khối lượng xấp
xỉ 158000 tấn, trong đó đã khai thác 66% từ năm 1950.
Trữ lượng vàng được nắm giữ trong các cơ quan có thẩm quyền bao gồm ngân hàng
trung ương, những cơ quan chính phủ như Monetary Authority của Singapore, và
những tổ chức siêu quốc gia như Quỹ tiền tệ thế giới, ngân hàng trung ương Châu
Âu...
Vàng thỏa mãn nhu cầu hằng năm bao gồm cả vàng khai thác và vàng tái chế được
khai thác từ những năm trước. Biểu đồ giữa bên trên chỉ ra rằng qua hơn 5 năm,
vàng tái chế nhiều từ thị trường trang sức, chiếm ¼ nguồn cung vàng, đứng sau là
lượng vàng được bán ra từ ngân hàng trung ương.
Nhu cầu hằng năm về vàng có ba loại chính, lớn nhất là nhu cầu từ thị trường trang
sức khoảng 44 tỷ USD năm 2006. Nhu cầu công nghiệp vê vàng lớn nhất là cho lĩnh
vực điện tử,nhưng cũng bao gồm lĩnh vực nha khoa và một số ngành công nghiệp
khác và đáp ứng cho việc trang hoàng. Cuối cùng trong nguồn cầu là nhu cầu đầu
tư. Bởi vì một phần quan trọng trong nhu cầu đầu tư là được xử lý trên thị trường
OTC và không dễ dàng để định lượng được tổng giá trị giao dịch. Các hoạt động
nếu có thay đổi giảm xuống thì không đáng kể.
Vàng được khai thác sâu nhất hiện tại là mỏ Savuka, khai thác trên mép tây bắc của
Witwatersrand Basin-Nam Phi. Hoạt động khai thác ở độ sâu 3.774m.Điều này có
nghĩa là việc khai thác vàng rất khó khăn và tốn kém, đòi hỏi công nghệ tiên tiến.
Chi phí sản xuất thay đổi mạnh tùy theo mỏ tự nhiên (hầm) hay khai thác dưới mặt
đất và độ sâu bao nhiêu, trữ lượng quặng và lớp khai thác.
b. Ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương và những tổ chức xuyên quốc gia nắm giữ 1/5 trữ lượng
vàng trên mặt đất như tài sản dự trữ, nhưng đang giảm đều qua thời gian. 28 500 tấn
trong trữ lượng trên mặt đất trong biểu đồ bên trên gồm vàng sở hữu bởi ngân hàng
trung ương và một phần bên ngoài là cho vay với con số cao hơn là không đáng kể.
Người bán buôn, đóng góp trung bình 527 tấn vào dòng chảy cung ứng hằng năm từ
năm 2002 đến năm 2006. Kể từ tháng 9 năm 1999, phần lớn việc buôn bán này
được kiểm soát bởi Central Bank Agreement on Gold (CBGA). CBGA mới đã kiểm
soát giai đoạn từ tháng 9-2004 đến tháng 9-2009 đã được tuyên bố thành lập vào
tháng 3-2004.
Thông qua việc mua bán, Ngân hàng trung ương cũng ảnh hưởng đến thị trường
vàng thông qua việc cho vay của họ, trao đổi và những hoạt động khác. Họ giữ vai
trò người cho vay vàng chính (mặc dù không phải là duy nhất) trên thị trường.
Gần đây các Ngân hàng trung ươong phải báo cáo việc nắm giữ vàng của họ hằng
tháng cho IMF và được phát hành hàng tháng trong ấn bản Thống kê tài chính quốc
tế của IMF.
Do đó những thay đổi trong việc nắm giữ vàng được giám sát. Tuy nhiên một số ít
Ngân hàng trug ương có nắm giữ vàng không cho rằng là phần tích trữ của cơ quan
nên không báo cáo. Thêm vào đó cũng có một phần hoặc hầu hết cơ quan không
được báo cáo. Do đó giám sát việc nắm giữ này vẫn rất khó khăn.
c. Vàng tái chế
Vàng thực sự không thể tiêu hủy được, tất cả vàng đã khai thác vẫn tồn tại. Nó cũng
khẩu nhưng hầu hết trang sức thì được làm ra ngay trong nước. Thực vậy, Ấn Độ có
nền công nghiệp nữ trang phồn thịnh và là nước xuất khẩu chính. Mỹ là thị trường
có cầu về vàng trang sức đứng thứ hai sau Ấn Độ trong năm 2006 khoảng 306 tấn).
Dịp tiêu thụ trang sức mạnh nhất là Giáng sinh, những lễ hội cuối năm, ngoài ra còn
có lễ Valentine và Ngày của Mẹ, có thể là vàng 14, 18 hoặc 10 carat.
b. Nhu cầu trong công nghiệp
Nhu cầu về vàng trong công nghiệp và nha khoa chiếm khoảng 12% nhu cầu về
vàng, khoảng 400 tấn từ năm 2002 đến 2006.
Hơn một nửa nhu cầu của công nghiệp và nha khoa (khoảng 7%) là sử dụng vàng
trong những bộ phận điện tử thích hợp chịu nhiệt độ cao và dẫn nhiệt, dẫn điện và
điểm nổi bật của vàng là chống lại sự ăn mòn. Nhu cầu vàng trong lĩnh vực điện tử
tăng trong những thập niên vừa qua nhưng nó cũng dao động tùy vào GDP toàn cầu
và sự phát triển của ngành công nghiệp. Hầu hết vàng sản xuất cho những linh kiện
điện tử là từ Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á. Những công ty chuyển nhà máy đến đó
để có ưu thế về chi phí cơ bản thấp hơn thì đang giành phần lớn thị phần. Nhu cầu
tương lai trong công nghiệp về vàng thì quan trọng ngày càng rõ hơn khi những
thiết bị điện tử tổng quát và hàng hóa tiêu dùng tiếp tục sử dụng vàng trong những
bộ phận cấu thành.
Tác dụng của vàng đã được biết đến từ lâu trong lịch sử, có thể dùng trong sinh học,
kháng lại vi khuẩn xâm nhập và ăn mòn, do đó được sử dụng thành công trong cơ
thể con người. Trong nha khoa nhu cầu sử dụng vàng chiếm ổn định khoảng 2%.
Nhật, Mỹ, Đức là 3 nước dẫn đầu trong việc chế tạo hợp kim nha khoa.
Những nghiên cứu trong những thập niên qua không phản ánh tiềm năng thực sự sử
dụng vàng đang nhiều hơn trong công nghiệp luyện kim. Vàng còn được sử dụng
như chất xúc tác ví dụ như chất xúc tác trong phòng đốt nhiên liệu. Một số công ty
đã biết phát triển công nghiệp chất xúc tác dựa trên vàng và điều này có thể làm dẫn
đến nhu cầu mới về vàng trong ngành công nghiệp luyện kim. Trong lĩnh vực công
nghệ nano phát triển mau lẹ thì vàng được sử dụng cũng khá nhiều như trong việc
đến giá cả 2 loại hàng hóa này nên nhiều nhà đầu tư thường nhìn vào diễn biến giá
dầu trong hiện tại và diễn biến được dự đoán trong tương lai của dầu để từ đó dự
đoán cho xu hướng dao động của vàng) và cầu (thị trường cầu lớn về dầu là Mỹ).
Còn thị trường chứng khoán thì khi giá chứng khoán giảm thì thường giá vàng tăng
và ngược lại, vì vàng mua bán chủ yếu là cho mục đích tích trữ và đầu tư.
Biến động rất nhanh do giá vàng chịu tác động bởi các yếu tố :
Yếu tố tâm lý: Trên thị trường thế giới, khi giá vàng tăng các hoạt động bán vàng
tăng mạnh, và ngược lại. Nhưng trên thị trường Việt Nam, khi giá vàng tăng cao
mọi người ào ạt mua vàng và khi giá vàng xuống thấp thì lại bán ra nhanh chóng.
Giá dầu (tác động cùng chiều). Giá dầu thế giới phụ thuộc nhiều về cung và cầu..
Khu vực khai thác và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới là vùng Trung Đông mà
các nước khu vực này thường dự trữ tài sản dưới dạng vàng, do đó chính nguồn
cung dầu mỏ và nguồn cầu về vàng của khu vực Trung Đông quá lớn đã ảnh hưởng
đến giá cả 2 loại hàng hóa này nên nhiều nhà đầu tư thường nhìn vào diễn biến giá
dầu trong hiện tại và diễn biến được dự đoán trong tương lai của dầu để từ đó dự
đoán cho xu hướng dao động của vàng.Thị trường cầu lớn về dầu là Mỹ nên sẽ có
tác động mạnh tới gía dầu từ đó ảnh hưởng lên giá vàng.
Thị trường chứng khoán (tác động ngược chiều). Vàng và chứng khoán là hai kênh
đầu tư lớn trên thị trường tài chính. Khi chứng khoán mất điểm, nhiều Nhà đầu tư sẽ
chuyển sang kênh vàng làm giá vàng tăng và ngược lại.
Gía các loại ngoại tệ mạnh như USD, GBP
Lạm phát kỳ vọng: nếu niềm tin là lạm phát với mức kỳ vọng lớn thì giá vàng có
thể sẽ tăng do mọi người đổ xô mua vàng.
Thường hoạt động trên thị trường vàng là hoạt động đầu cơ tích trữ vì vàng được
coi là vật bảo đảm giá trị cao khi xảy ra lạm phát, được coi là phương án đầu tư an
toàn.
a. Về phía cầu:
Do nhu cầu đầu cơ của thị trường tăng: Trước nhu cầu vàng tăng cao, theo Hội đồng
Vàng thế giới, nguồn cung hiện chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường; trong đó
lại có không ít số lượng vàng bị găm giữ lại, chưa bán, chờ giá cao hơn nữa.
Do sự lên giá của dầu thô trên thị trường thế giới: Giá dầu có xu hướng tăng trong
suốt mấy năm qua và hiện nay giá dầu thế giới đã leo lên trên 100 USD/thùng đã
đẩy giá cả hàng hóa tăng, hệ quả là gia tăng lạm phát, giảm tăng trưởng kinh tế. Lo
sợ trước tình hình lạm phát, các nhà đầu tư có xu hướng dịch chuyển đầu tư từ các
tài sản khác sang vàng để tìm lợi nhuận cao và an toàn tài sản.
Do nhu cầu sử dụng vàng: Đặc biệt là vàng trang sức trong các mùa lễ hội của
người Hồi giáo, lễ giáng sinh, mùa cưới và năm mới tại các nước đông dân như
Trung Quốc, Ấn Độ... ngày càng tăng.
Do hàng loạt các sự kiện chính trị giữa Mỹ và các nước hồi giáo, Triều Tiên cùng
với thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân vãng lai của Mỹ liên tục gia tăng và kinh
tế Mỹ chưa có dấu hiệu phát triển bền vững khiến đồng USD giảm giá mạnh khiến
vàng và một số ngoại tệ khác tăng cao trên thị trường thế giới.
b. về phía cung:
Các ngân hàng trung ương (NHTƯ) trên thế giới hạn chế bán vàng.
Sản lượng vàng khai thác của thế giới tăng chậm, có nước giảm do chi phí sản xuất
cao trước tình hình giá vàng giảm 10 năm liên tục trong suốt giai đoạn 1990 – 2000
Như vậy, nguồn cung vàng bị hạn chế trong khi cầu về vàng tăng mạnh trước tình
hình căng thẳng về chính trị và sự suy yếu của đồng USD đã làm cho giá vàng tăng
mạnh và liên tiếp lập những kỷ lục mới.
Tác động của giá vàng đối với Việt Nam:
Do vàng không nằm trong rổ hàng hoá tiêu dùng CPI nên đa số người dân bình
thường không bị ảnh hưởng bởi giá vàng. Dĩ nhiên hiện nay CPI vẫn tăng, nhưng
không có sự tác động của giá vàng.
Tuy nhiên, việc giá vàng tăng trong thời gian qua đã có tác động mạnh tới tâm lý
giá vàng biến động cùng chiều theo giá thế giới là điều dễ hiểu (như một người chấp
nhận giá và chịu tác động của cung cầu thế giới).Tuy nhiên, đã có những lúc thị
trường vàng Việt Nam ngược dòng thị trường vàng thế giới, trong khi thế giới giảm
giá thì Việt Nam tăng giá và ngược lại, đôi lúc giá vàng tại Việt Nam đạt kỷ lục
trong mỗi phiên giao dịch và kỷ lục trong việc biến động, phiên giao dịch sáng niêm
yết một giá, phiên giao dịch chiều lại niêm yết một giá khác khiến cho nhà đầu tư
hoang mang,điêu đứng. Lý giải nguyên nhân tại sao lại có hiện tượng này?
Câu trả lời là: Trước cơn sốt vàng của thế giới, do không nhạy bén trước tình hình
và do cơ chế xuất nhập còn nhiều bất hợp hợp lý, trong 7 tháng đầu năm 2011, Việt
Nam đã xuất 30 tấn vàng, với giá tính trung bình 40 triệu USD/tấn. Trong khi đó,
nhiều quốc gia lại mua vào nhiều vàng và chỉ bán ra nhỏ giọt. Thực tế đã chứng
minh các quốc gia này nhạy bén và cập nhật hơn chúng ta, bởi hiện tại, dù đã có
giảm chút ít, giá vàng thế giới vẫn dao động vào khoảng 60 triệu USD/tấn; trước đó,
Việt Nam chỉ xuất khẩu với giá 40 triệu USD/tấn. Đây là một thiệt hại không nhỏ
cho nền kinh tế của nước ta.
Một nguyên nhân nữa góp phần khiến giá vàng tăng mạnh tại Việt Nam, là do giới
kinh doanh vàng tranh thủ giá vàng thế giới tăng nhanh, và đoán biết tâm lý của
người đầu tư cho rằng giá vàng còn đi lên, đã dùng kỹ xảo đẩy giá vàng trong nước
tăng nhanh, cao hơn giá thế giới để trục lợi. Có thể thấy rằng chính những bất hợp
lý trong cơ chế điều hành xuất nhập khẩu vàng là một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến cơn sốt vàng trong nước, kéo theo những thiệt hại cho nền kinh tế và
người đầu tư. Bởi theo cách quản lý hiện tại, Nhà nước chỉ cho phép nhập khẩu
vàng với số lượng nhỏ; trong khi hạn ngạch xuất khẩu vàng lại khá thoải mái. Trước
thực tế này, nhiều doanh nghiệp đã dùng thủ thuật hạ hàm lượng, trọng lượng vàng
để hưởng thuế xuất 0%, rồi xuất khẩu vàng ra nước ngoài với số lượng lớn. Hệ quả
là cung và cầu về vàng mất cân đối, chỉ có lợi cho giới đầu cơ, gây thiệt hại cho nền
kinh tế và người dân khi đầu tư vào vàng.
Thế độc quyền của SJC
có
đầy đủ các thuộc tính tiền tệ. Vàng được coi là “vịnh tránh bão” trong bối cảnh lạm
phát
cao, đồng tiền bị mất giá, các kênh đầu tư khác bấp bênh, giá vàng lại liên tục tăng.
Thói
quen tích trữ vàng của người dân cũng có từ lâu, cộng với các yếu tố đầu cơ, lũng
đoạn
thị trường làm cho tình trạng vàng hóa càng thêm trầm trọng. Nếu Nhà nước không
quản
lý được thị trường vàng, tình trạng vàng hóa sẽ ảnh hưởng tới việc điều hành chính
sách
tiền tệ và gây mất ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, gây mất ổn định tỷ giá. Chưa
kể,
11
thay vì dồn vốn vào sản xuất kinh doanh, người dân lại đổ xô tích trữ vàng sẽ gây
lãng
phí nguồn vốn trong xã hội.
Trên thế giới, vai trò tiền tệ của vàng từ lâu đã được coi trọng. Trong bối cảnh đồng
USD
liên tục mất giá trong rổ tiền tệ thì giá vàng thế giới vẫn tăng phi mã. Nói cách khác,
thời
điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chỉ có vàng mới có đủ vai trò và trọng lượng
làm
thay đổi quy luật lệ thuộc vào đồng USD của các nền kinh tế mới nổi. Giá vàng thế
giới
tăng mạnh không những thể hiện giá trị của vàng mà còn cho thấy vàng đang phục
hồi lại
chức năng tiền tệ vốn có của nó. Vai trò tiền tệ của vàng còn thể hiệu qua việc các
công
vàng miếng. Với quy định này, chỉ có duy nhất công ty kinh doanh vàng bạc đá quý
SJC
hiện đang chiếm khoảng 90% thị phần, mới đủ điều kiện để sản xuất, gia công vàng
miếng. Cùng đó, thông báo trước Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
(NHNN)
Nguyễn Văn Bình đã tuyên bố vàng SJC sẽ trở thành nhãn hiệu vàng của NHNN,
đơn vị
này phải độc quyền quản lý, sản xuất vàng miếng, điều này không những đúng về lý
thuyết mà còn đúng cả về thực tế.
12
Ông Bình khẳng định, NHNN sẽ làm việc với Thành ủy TP HCM (hiện đang là đơn
vị
chủ quản của SJC) để chuyển Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC sang trực
thuộc
NHNN và vàng miếng SJC sẽ trở thành nhãn hiệu vàng của NHNN. Điều này đã thể
hiện
rõ quan điểm: NHNN sẽ giữ độc quyền trong sản xuất kinh doanh vàng miếng vì
SJC
hiện đã chiếm 90% thị phần. Khác với việc có nhiều nhãn hiệu vàng miếng khác
nhau
như hiện nay, tất cả các doanh nghiệp sản xuất vàng miếng đều chung một nhãn
hiệu
SJC. Hay nói cách khác, SJC trở thành một nhãn hiệu tập thể về vàng miếng của
Việt
Nam chất lượng được kiểm soát hoàn toàn bởi NHNN Việt Nam.
Tác động của thế độc quyền của SJC
Tích cực:
không được đáp ứng đầy đủ, việc mua bán khó khăn hơn.
13
Rất nhiều trong trong số cả chục nghìn tiệm vàng đang hoạt động ở khắp các trị
trấn, làng
xã, quận huyện trên khắp cả nước liệu có trở thành các địa điểm kinh doanh "chui"
vàng
miếng mang thương hiệu quốc gia SJC hay SBV không?. Và một khi hoạt động
chui và
chợ đen xuất hiện thì mục tiêu xóa bỏ tịnh trạng nhiều giá, đầu cơ, tích trữ liệu có
đạt
được? Và khả năng huy động nguồn lực này từ trong dân cũng sẽ rất khó khăn.
Việc dựa vào một đơn vị độc quyền để bình ổn thị trường là điều không dễ. Thị
trường
vàng phụ thuộc nhiều yếu tố mà yếu tố quan trọng nhất thiếu niềm tin vào đồng
tiền, ưu
thích tích trữ vàng thì lại nằm ngoài khả năng của nghị định quản lý vàng. Các đợt
bán
vàng bình ổn của NHNN gần đây dù tốn nhiều nguồn lực nhưng vẫn chưa đạt mục
tiêu
bình ổn như mong muốn. Việc bình ổn này khiến nhiều người có cảm giác đây chỉ
là giải
pháp tình thế, không bền vững.
Thực tế của nền kinh tế cho thấy, dù đã có nhiều DN nhà nước độc quyền nhưng
chưa có
nhiều kết quả để có thể chứng tỏ vai trò điều tiết thị trường của Nhà nước thông qua
một
doanh nghiệp là hiệu quả như mong muốn.
Trong khi đó, việc vàng SJC trở thành vàng độc quyền của nhà nước cũng một lần
không
đáp ứng đủ, những doanh nghiệp không được sản xuất, gia công vàng miếng sẽ tìm
cách
để khai thác mảng trống này. Đó là sản xuất vàng nữ trang để đáp ứng nhu cầu nắm
giữ
14
vàng của người dân. Nguồn vàng trong nước thay vì sản xuất ra vàng miếng như
hiện nay
và người mua có thể gửi ngân hàng sẽ được biến thể sang vàng nữ trang. Loại vàng
này
không được các ngân hàng thương mại huy động.
Vô hình chung, quy định này đã “chẹn” cửa đưa vốn vàng vào sản xuất kinh doanh
như
mục tiêu mà lâu nay chúng ta vẫn hướng tới. Và tình trạng vàng “chui vào tủ” người
dân
sẽ tăng mạnh. Không chỉ thế, khi kênh phân phối chính thức bị co lại, hoạt động
vàng trái
phép sẽ càng có đất sống, kéo theo các vấn đề khác như tỉ giá, lãi suất…mà chúng
ta nỗ
lực lâu nay nhưng vẫn chưa thể giải quyết được.
Kết luận
Thị trường vàng Việt Nam vẫn đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ công
chúng,việc
NHNN đưa ra các quyết định biến thị trường độc quyền nhóm vàng thành thị trường
độc
quyền hoàn toàn nhằm ổn định, kiểm soát được giao dịch trên thị trường, tránh lặp
lại vết
xe đổ của việc đầu cơ tưởng chừng như lợi nhuận lớn lại thành món lỗ khổng lồ và
xỉ 158000 tấn, trong đó đã khai thác 66% từ năm 1950.
Trữ lượng vàng được nắm giữ trong các cơ quan có thẩm quyền bao gồm ngân hàng
trung ương, những cơ quan chính phủ như Monetary Authority của Singapore, và
những tổ chức siêu quốc gia như Quỹ tiền tệ thế giới, ngân hàng trung ương Châu
Âu...
Vàng thỏa mãn nhu cầu hằng năm bao gồm cả vàng khai thác và vàng tái chế được
khai thác từ những năm trước. Biểu đồ giữa bên trên chỉ ra rằng qua hơn 5 năm,
vàng tái chế nhiều từ thị trường trang sức, chiếm ¼ nguồn cung vàng, đứng sau là
lượng vàng được bán ra từ ngân hàng trung ương.
Nhu cầu hằng năm về vàng có ba loại chính, lớn nhất là nhu cầu từ thị trường trang
sức khoảng 44 tỷ USD năm 2006. Nhu cầu công nghiệp vê vàng lớn nhất là cho lĩnh
vực điện tử,nhưng cũng bao gồm lĩnh vực nha khoa và một số ngành công nghiệp
khác và đáp ứng cho việc trang hoàng. Cuối cùng trong nguồn cầu là nhu cầu đầu
tư. Bởi vì một phần quan trọng trong nhu cầu đầu tư là được xử lý trên thị trường
OTC và không dễ dàng để định lượng được tổng giá trị giao dịch. Các hoạt động
đầu tư thể hiện trên biều đồ trên bao gồm đầu tư cho vàng thỏi, tiền đồng, huy
chương và tiền đồng giả, “ đầu tư nhỏ lẻ khác” và đầu tư trong việc trao đổi giao
dịch quỹ vàng và sản phẩm có liên quan.
Nhu cầu đầu tư tăng mạnh vào năm 2006, tăng 8% số lượng và hơn 45% về giá trị
USD thu được so với năm trước. Năm 2006 Nam Phi là nước sản xuất vàng lớn
nhất thế giới, với 292 tấn chiếm 12% tổng sản lượng, theo sau là Mỹ với 252 tấn ,
chiếm hơn 10% tổng sản lượng, kế đó là Trung Quốc hơn 247 tấn. Điểm đặc biệt
nổi lên trong thập niên vừa qua là Indonesia, trong năm 1992 chỉ sản xuất 2 tấn
nhưng đến năm 2005 là hơn 114 tấn, nổi bật là mỏ Grasberg, là nơi sản xuất vàng
lớn nhất thế giới. Và Peru sản xuất tăng từ 218 tấn trong năm 1992 lên 203 tấn
trong năm 2006, với một nửa đến từ mỏ Yanacocha của Newmont, nơi sản xuất
vàng lớn thứ 2 thế giới trên mực nước biển 14.000 feet ở dãy Andes.
Nhiều nước sản xuất vàng trên thế giới lại là những nước nghèo bị mắc nợ nhiều
được kiểm soát bởi Central Bank Agreement on Gold (CBGA). CBGA mới đã kiểm
soát giai đoạn từ tháng 9-2004 đến tháng 9-2009 đã được tuyên bố thành lập vào
tháng 3-2004.
Thông qua việc mua bán, Ngân hàng trung ương cũng ảnh hưởng đến thị trường
vàng thông qua việc cho vay của họ, trao đổi và những hoạt động khác. Họ giữ vai
trò người cho vay vàng chính (mặc dù không phải là duy nhất) trên thị trường.
Gần đây các Ngân hàng trung ươong phải báo cáo việc nắm giữ vàng của họ hằng
tháng cho IMF và được phát hành hàng tháng trong ấn bản Thống kê tài chính quốc
tế của IMF.
Do đó những thay đổi trong việc nắm giữ vàng được giám sát. Tuy nhiên một số ít
Ngân hàng trug ương có nắm giữ vàng không cho rằng là phần tích trữ của cơ quan
nên không báo cáo. Thêm vào đó cũng có một phần hoặc hầu hết cơ quan không
được báo cáo. Do đó giám sát việc nắm giữ này vẫn rất khó khăn.
c. Vàng tái chế
Vàng thực sự không thể tiêu hủy được, tất cả vàng đã khai thác vẫn tồn tại. Nó cũng
dễ phục hồi được từ hầu hết vàng đã qua sử dụng và có khả năng nấu chảy ra, lọc và
sử dụng lại. Điều đó cho phép cung vàng tái chế, là một bộ phận quan trọng trên thị
trường vàng vốn rất năng động
Hầu hết vàng tái chế thông thường có nguồn gốc từ trang sức. Một lượng nhỏ là từ
những thiết bị điện tử được thu lại và cả từ vàng thỏi và tiền đồng.
Việc cung ứng kim loại tái chế phụ thuộc rất lớn vào tình hình nền kinh tế và biến
động giá vàng. Vàng cũng có thể bán đổi lấy tiền mặt cả khi người sở hữu vàng cần
tiền hay nếu như người đó muốn hưởng lợi nhuận qua chênh lệch giá vàng. Điều
này cho phép nguồn cung vàng tái chế gia tăng trong thời gian nền kinh tế ảm đạm.
2. Nguồn cầu Vàng:
a. Nhu cầu cho trang sức
Trang sức chiếm nhu cầu lớn nhất chiếm hơn 70% nhu cầu về vàng, đạt giá trị
khoảng 44 tỷ USD theo giá vàng bình quân năm 2006.