Bình luận về các dấu hiệu để xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật việt nam hiện hành - Pdf 36

Bình luận về các dấu hiệu để xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của
tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là hoạt động của toà án một nước trong việc giải
quyết các vụ việc phát sinh từ các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, thuộc
thẩm quyền xét xử của toà án theo một thể thức do luật định. Do vậy, trong tố tụng
dân sự quốc tế, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế tức là thẩm quyền của toà án tư
pháp một nước nhất định đối với việc xét xử các vụ việc dân sự quốc tế cụ thể. Để
xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế thì cần phải có những dấu hiệu nhất
định. Vì vậy nhóm xin chọn đề tài số 1: “Bình luận về các dấu hiệu để xác định
thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành” để làm rõ hơn những dấu hiệu xác định thẩm quyền xét xử
dân sự quốc tế của tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay.
NỘI DUNG
I. Cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền xét xử quốc tế của tòa án Việt Nam
Để xác định thẩm quyền của mình, tòa án mỗi nước đều dựa trên cơ sở nguyên tắc
Luật tòa án (Lex fori). Đây là nguyên tắc đặc thù và quan trọng nhất trong lĩnh vực
tố tụng dân sự quốc tế.
Theo nguyên tắc Lex fori, khi giải quyết các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu
tố nước ngoài, về mặt tố tụng, tòa án có thẩm quyền chỉ áp dụng luật tố tụng của
nước mình (trừ trường hợp ngoại lệ được quy định trong pháp luật của từng nước
hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước đó tham gia). Áp dụng nguyên tắc này vào
việc xác định thẩm quyền xét xử quốc tế, tòa án chỉ được áp dụng luật tố tụng nước
mình mà không bao giờ được áp dụng luật nước ngoài để xác định thẩm quyền cũng
như trình tự giải quyết vụ việc trừ khi trong điều ước quốc tế có quy định khác. Đây
là quan điểm được tất cả các quốc gia trên thế giới thừa nhận.


Quy trình để giải quyết xung đột thẩm quyền của tòa án Việt Nam khi nhận được
đơn kiện về các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài gồm các giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Tòa án Việt Nam xem xét các điều ước quốc tế (các Hiệp định Tương
trợ tư pháp về các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình giữa Việt Nam và các nước;

nước ngoài có liên quan đều có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Nói cách khác,
nguyên đơn trong các trường hợp này vừa có thể kiện ra tòa án Việt Nam vừa có thể
kiện ra tòa án nước ngoài có liên quan đều được.
Khoản 2 Điều 410 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đã liệt kê 7 nhóm dấu hiệu đối với
từng loại vụ việc thuộc thẩm quyền chung của tòa án Việt Nam như sau:
a. Bị đơn là cơ quan, tổ chức nước ngoài có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc bị đơn
có cơ quan quản lý, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam (Điểm a)
Theo quy định này, thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam được xác định theo dấu
hiệu nơi có mặt của bị đơn dân sự. Đây là dấu hiệu phổ biến được nhiều nước áp
dụng.Cụ thể, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết quan hệ dân sự có cơ quan,
tổ chức nước ngoài tham gia vào khi cơ quan, tổ chức nước ngoài là bị đơn và phải
có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc có cơ quan quản lý, chi nhánh, văn phòng đại
diện tại Việt Nam. Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh
doanh ở nước ngoài (có quốc tịch nước ngoài) nhưng có trụ sở chính ở Việt Nam thì
các đối tác của doanh nghiệp vẫn có quyền khởi kiện doanh nghiệp nước ngoài đó
tại Tòa án Việt Nam. Quy định này là hoàn toàn cần thiết trong điều kiện hiện nay
có nhiều cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và làm phát sinh tranh


chấp trong quá trình tham gia các quan hệ pháp luật tại Việt Nam. Nếu không có
quy định này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải khởi kiện tại Tòa án nước ngoài,
sẽ khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều.
Tuy nhiên, quy định này cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định, đó làđối với các
trường hợp bị đơn là thương nhân nước ngoài chỉ có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam
thì quy định này lại không quy định cụ thể liệu tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải
quyết hay không. Điều này đã phần nào hạn chế quyền khởi kiện của đương sự cũng
như thẩm quyền của tòa án Việt Nam.
Cũng theo quy định này, Tòa án Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết trong
trường hợp phía khởi kiện là bên Việt Nam và cơ quan, tổ chức nước ngoài là bên bị
đơn, còn nếu cơ quan, tổ chức nước ngoài là bên khởi kiện (là nguyên đơn) thì Tòa

xâm phạm đến lợi ích quốc gia.
c. Nguyên đơn là công dân nước ngoài, người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh
sống lâu dài tại Việt Nam đối với vụ việc dân sự về yêu cầu đòi tiền cấp dưỡng, xác
định cha mẹ (Điểm c)
Quy định này đã loại trừ các đơn yêu cầu của người nước ngoài tạm trú tại Việt
Nam. Tuy nhiên, điều luật cũng không nói rõ liệu nguyên đơn là công dân Việt Nam
có đơn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con với bị đơn nước ngoài cư trú ở nước ngoài thì
tòa án Việt Nam có thẩm quyền không? Đây cũng là quy định hạn chế thẩm quyền
của tòa án Việt Nam, trong khi các Hiệp định Tương trợ tư pháp quy định rộng hơn
khi cho phép Tòa án nơi thường trú của nguyên đơn sẽ có thẩm quyền đối với vụ
việc này.
d. Các quan hệ dân sự mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo
pháp luật Việt Nam hoặc xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng có ít nhất một trong
các đương sự là người nước ngoài (Điểm d)


Trường hợp này thẩm quyền của Tòa án Việt Nam được xác định theo dấu hiệu nơi
phát sinh sự kiện hay là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại. Việc xác lập các quy định
này xuất phát từ quan niệm sự kiện là khởi nguồn của tranh chấp hay vụ việc dân sự
xảy ra ở đâu thì cơ quan bảo vệ công lý ở nơi đó có quyền hạn và trách nhiệm trong
việc giải quyết vụ việc đó. Mặt khác, Tòa án nơi phát sinh sự kiện cũng là Tòa án có
điều kiện tốt nhất để xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu cho việc giải quyết vụ
việc.
e. Các vụ việc mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
nước ngoài hoặc xảy ra ở nước ngoài nhưng với các đương sự đều là công dân, tổ
chức Việt Nam, hoặc một trong các bên cư trú tại Việt Nam (Điểm e)
Trường hợp này được xác định theo dấu hiệu quốc tịch.
f. Đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mà việc thực hiện toàn bộ hoặc một
phần hợp đồng xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam (Điểm f)
Quy định này nhìn chung là hợp lý, phù hợp với pháp luật các nước trên thế giới

thuộc thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam là các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có
trên lãnh thổ Việt Nam (Điểm a). Việc xây dựng quy định về thẩm quyền theo tòa
án nơi có bất động sản xuất phát từ tính chất đặc biệt của bất động sản là loại tài sản
gắn liền với đất không di chuyển được. Tòa án nơi có bất động sản là tòa án có điều
kiện thuận lợi hơn cả trong việc xác minh, thu thập chứng cứ và giải quyết chính
xác vụ việc. Đối với các tranh chấp bất động sản, thông thường các giấy tờ, tài liệu


liên quan đến bất động sản sẽ do cơ quan tài nguyên môi trường, nhà đất, chính
quyền nơi có bất động sản đó lưu giữ và các cơ quan này cũng là những cơ quan
nắm vững những thông tin về nguồn gốc, hiện trạng tài sản và tình trạng pháp lý
của tài sản. Do vậy, Tòa án nơi có bất động sản sẽ là Tòa án có điều kiện thuận lợi
nhất trong việc xác minh, thu thập các tài liệu, các thông tin liên quan đến bất động
sản đang tranh chấp.
Thứ hai, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển, mà người vận chuyển có trụ
sở chính hoặc chi nhánh tại Việt Nam (Điểm b). Quy định này là phù hợp với cơ sở
lý luận của việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ, tạo thuận lợi không chỉ cho tòa
án giải quyết vụ việc mà cho cả đương sự tham gia tố tụng và thuận lợi cho việc thi
hành án sau này.
Thứ ba, vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người
không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống ở Việt Nam (Điểm
c). Quy định này dựa trên tiêu chí “nơi thường trú chung” của vợ chồng để xác định
thẩm quyền riêng của tòa án Việt Nam là hợp lý. Vì đây là nơi quan hệ vợ chồng
được thiết lập nên cũng thuận lợi cho Tòa án cũng như đảm bảo lợi ích cho các bên.
b. Đối với các việc dân sự có yếu tố nước ngoài (Khoản 2)
Theo Khoản 2, Điều 411 BLTTDS 2004, những việc dân sự có yếu tố nước ngoài
sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của tòa án Việt Nam:
- Xác định một sự kiện pháp lý nếu sự kiện đó xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.
Trường hợp này được xác định theo dấu hiệu nơi xảy ra sự kiện. Tòa án Việt Nam



quyền và nghĩa vụ liên quan đến chức năng của cơ quan, tổ chức mới phát sinh và
cũng chỉ khi tiến hành các hoạt động tại Việt Nam hoặc có liên quan đến Việt Nam
mới có cơ sở và điều kiện để Tòa án Việt Nam giải quyết các tranh chấp có liên
quan.
Vì vậy, nhóm đề nghị sửa đổi điểm a, Khoản 2 thành: “Bị đơn là cơ quan, tổ chức
nước ngoài có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc vụ việc liên quan đến hoạt động của
cơ quan quản lý, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của bị đơn là cơ quan,
tổ chức nước ngoài”. Ngoài ra các nhà lập pháp nên bổ sung thêm đối tượng là các
tổ chức có tài sản tại Việt Nam vào quy định này để mở rộng quyền khởi kiện của
đương sự cũng như thẩm quyền của tòa án Việt Nam. Đồng thời, cần quy định rõ
phạm vi giải quyết của tòa án chỉ là những vụ việc phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam.
Thứ hai, về điểm b, Khoản 2 điều 410 BLTTDS. Quy định này trái với quy định của
một số điều ước quốc tế trong lĩnh vực này mà Việt Nam là thành viên. Vì vậy nên
điều chỉnh theo hướng tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài trong trường hợp “Bị đơn là công dân nước ngoài, người không quốc tịch có
nơi thường trú, tạm trú tại Việt Nam hoặc có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam”. Điều
này sẽ góp phấn hạn chế sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật Việt Nam với các cam
kết quốc tế của Việt Nam thể hiện một phần trong các điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên. Bởi việc ban hành các quy định của pháp luật quốc nội tương
thích, phù hợp với nội dung của các điều ước quốc tế mà quốc gia đó ký kết hoặc
tham gia là một yêu cầu quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật
quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam khi hệ thống pháp luật cho sự vận hành của
nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạn hình thành và phát triển.
Thứ ba, về Điểm c, Khoản 2, Điều 410 BLTTDS, quy định nên mở rộng theo hướng
cho phép tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết trường hợp công dân Việt Nam
nộp đơn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con với bị đơn nước ngoài cư trú ở nước ngoài
nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chính các công dân Việt Nam trong các việc
giải quyết các vụ án như vậy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status