ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÀNH THỊ NHUNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC CẤP GCNQSDĐ TRÊN ĐỊA BÀN
PHƢỜNG CHI LĂNG, TP. LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lý đất đai
Khoa
: Quản lý tài nguyên
Lớp
: K43 - QLĐĐ - N01
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn : TS. Vũ Thị Qúy
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1.Tình hình dân số, lao động củaPhường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn,Tỉnh Lạng
Sơn.............................................................................................................................36
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đấtcủa phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng
Sơn năm 2013 ...........................................................................................................42
Bảng 4.3. Bảng số liệu biến động đất đai qua kỳ kiểm kê năm 2013 .......................45
Bảng 4.4. Kết quả công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất cho hộ gia
đình cá nhân tại phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơngiai đoạn 2011 2013 ...........................................................................................................................46
Bảng 4.5. Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo các loại đất của
phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2013 ...............47
Bảng 4.6. Tổng hợp số hộ đã được cấp đất ở giai đoạn 2011 – 2013 .......................49
Bảng 4.7. Tổng diện tích đất ở đã được cấp giai đoạn 2011 – 2013.........................51
Bảng 4.8.Tổng hợp số hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất nông
nghiệp giai đoạn 2011 - 2013 ....................................................................................53
Bảng 4.9. Tổng hợp diện tích đất nông nghiệp đã được cấpgiai đoạn 2011 - 2013 ...........55
Bảng 4.10. Kết quả điều tra trình độ hiểu biết của người dân phường Chi Lăng theo
các chỉ tiêu của công giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .........................................57
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1. Thể hiện cơ cấu sử dụng đất năm 2013 của phường Chi Lăng,TP. Lạng
Sơn, Tỉnh Lạng Sơn ..................................................................................................43
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Quyết định Bộ Tài nguyên và Môi trường
TP
Thành Phố
TT-BTC
Thông tư Bộ Tài Chính
TT - BTNMT
Thông tư Bộ Tài nguyên và Môi trường
GCN
Giấy chứng nhận
QHSDĐ
Quy hoạch sử dụng đất
HĐND
Hội đồng nhân dân
iv
MỤC LỤC
v
3.3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai .............................................................25
3.3.3. Đánh giá kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn 2011
– 2013 .......................................................................................................................25
3.3.4. Một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn trong công tác cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất tại phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn. ........26
3.4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................26
3.4.1.Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp ..............................................................26
3.4.2.Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp ................................................................26
3.4.3. Phương pháp tìm hiểu các văn bản quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất .....................................................................................................................26
3.4.4. phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu ...........................................................26
PHẦN 4:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................................................27
4.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh
Lạng Sơn. ..................................................................................................................27
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ...........................................................................................27
4.1.2. Điều liện kinh tế - xã hội .................................................................................30
4.1.3. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ..................................36
4.2. Thực trạng quản lý và sử dụng đất đai của phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn,
Tỉnh Lạng Sơn. ..........................................................................................................37
4.2.1. Thực trạng quản lý ..........................................................................................37
4.2.2. Hiện trạng sử dụng đất ....................................................................................41
4.2.3. Tình hình biến động đất đai. ...........................................................................45
4.3. Kết quả công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phường Chi Lăng,
TP.Lạng Sơn,Tỉnh Lạng Sơn. ...................................................................................46
4.3.1. Kết quả công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chủ sử dụng
đất tại phường Chi Lăng , TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn. ........................................46
4.3.2. Kết quả công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo các loại đất tại
phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn. ....................................................47
với nước ta, một nước nông nghiệp thì vị trí của đất đai lại càng quan trọng và
có ý nghĩa hơn.
Ở Việt Nam, Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện quản lý.
Một trong những công cụ quản lý hết sức quan trọng của nhà nước về đất đai là
đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong những năm gần đây, dù đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý
nhà nước về đất đai, nhưng những hành vi vi phạm pháp luật đất đai, những vụ
tranh chấp, khiếu kiện vẫn xảy ra. Đây là vấn đề nhức nhối làm đau đầu nhiều nhà
chức trách trong bộ máy quản lý đất đai.
Bên cạnh đó hoạt động của thị trường Bất động sản đang diễn ra với tốc độ
nhanh, góp phần tăng trưởng kinh tế, để thị trường này hoạt động công khai, minh bạch
thì công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần phải tiến hành nghiêm túc.
Do đó, xuất phát từ những bức xúc thực tế hiện nay, với những kiến thức đã
học, trong thời gian thực tập tốt nghiệp em mong muốn được tìm hiểu về công tác
quản lý đất đai, đặc biệt là công tác cấp GCNQSD đất . Được sự nhất trí của Ban
chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
được sự hướng dẫn của giảng viên TS Vũ Thị Quýem tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn
phường Chi Lăng, TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn”
2
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá được công tác cấp GCNQSD đất trên địa bàn phường Chi Lăng,
TP.Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013, nhằm xác
định được những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong công tác
CGCNQSD đất tại phường. Qua đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, và khắc phục những tồn tại đó.
1.3. Yêu cầu
xuất hiện một lớp người tìm cách chiếm hữu của cải dư thừa, đồng thời chiếm đoạt
luôn các đất đai phục vụ cho lợi ích của riêng mình.
Bất kỳ một quốc gia nào cũng có một quỹ đất nhất định được giới hạn bởi
biên giới quốc gia mà thiên nhiên ban tặng. Nhà nước với tư cách là một tổ chức
chính trị của giai cấp thống trị cũng chiếm giữ một diện tích đất nhất định để phục
vụ lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của tầng lớp mình.
Đất đai là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, vì vậy nhà nước muốn tồn tại
và phát triển thì phải nắm chắc được tài nguyên đất đai của mình. Mỗi thời kỳ lịch
sử với chế độ chính trị khác nhau đều có chính sách quản lý đất đai đặc trưng cho
thời kỳ lịch sử đó. Vì thế, sự biểu hiện của công tác địa chính trong các thời kỳ lịch
sử khác nhau cũng khác nhau.
Thời kỳ đầu lập nƣớc:
Khi người Việt Cổ cùng chung sống trong một làng chạ thì đát đai là của
chung và đó chính là khởi thủy của ruộng đất công, mọi người cùng làm cùng
hưởng và cùng bảo vệ đất.
Khi nhà nước Văn Lang ra đời chia ra làm 15 với toàn bộ ruộng đất trong đó
là của chung và cũng là của vua Hùng, những khái niệm sơ khai về sở hữu nhà vua
được hình thành. Các làng chạ canh tác trên ruộng đất phải cống nộp những sản
phẩm cần thiết cho vua qua Bố Chánh ( người đứng đầu các làng chạ) Lạc Hầu ,
Lạc Tướng ( người đứng đầu các bộ).
4
Thời kỳ phong kiến
Trong hơn 100 năm bắc thuộc, hình thức sở hữu tối cao phong kiến về ruộng
đất chi phối xã hội Việt Năm thời bấy giờ.
Từ năm 1805-1863: Nhà Nguyễn đã hoàn tất bộ địa bạ của 18 nghìn xã từ
Mục nam quan đến mũi Cà Mau bao gồm 1044 tập địa bạ. Trong địa bạ còn ghi rõ
thửa đất của ai, sử dụng làm gì, kích thước bao nhiêu trên cơ sở điều tra ngoài thực
Đảng và Chính phủ có chủ trương chấn hưng nông nghiệp để chống đói cho nhân
dân, ngày 14/2/1953 tại kỳ họp lần II Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã ban hành Luật cải cách ruộng đất, mục tiêu là chia cấp ruộng đất một cách công
bằng cho nông dân, Chính phủ cũng quy định nhiều chính sách sử dụng đất hoang,
đất vắng chủ.
Thời kỳ 1954-1975
- Tại miền Bắc Việt Nam:
Ngày 03/7/1958 Chính phủ ban hành chỉ thị 354/CT cho tái hợp hệ thống Địa
chính trong Bộ Tài chính được gọi là Sở Địa chính nhằm mục đích quản lý ruộng
đất để thu thuế nông nghiệp. Năm 1960 hợp tác hóa nông nghiệp ở các tỉnh phía
Bắc đã hoàn thành 90% diện tích đất canh tác đã được tập thể hóa. Sở hữu tập thể
đối với ruộng đất được ra đời và phát triển nhanh chóng. Vấn đề nổi lên lúc này là
phải củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (trong đó chủ yếu là quạn hệ ruộng
đất) và giúp đỡ sản xuất nông nghiệp tập thể phát triển. Một trong những giải pháp
quan trọng trong thời kỳ này là cần thiết phải gắn liền quản lý ruộng ðất với quản lý
sản xuất nông nghiệp, giúp cho các hợp tác xã, các nông trường nắm chắc được
ruộng đất để tổ chức sử dụng ruộng đất hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao. Để phù hợp
với tình hình và yêu cầu mới, ngày 9/12/1960 Hội đồng Chính phủ đã quyết định:
chuyển ngành Địa chính từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông nghiệp phụ trách và đổi tên
thành ngành quản lý ruộng đất. Theo 2 Nghị định số 70/CP và 71/CP ngày
9/12/1960, Ngành quản lý ruộng đất có nhiệm vụ giúp Bộ Nông nghiệp quản lý
việc mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp với những nội dung
cụ thể:
- Lập bản đồ địa bạ về ruộng đất, thường xuyên chỉnh lý bản đồ và địa bạ
cho phù hợp với sự thay đổi về hình thể ruộng đất về quyền sở hữu, sử dụng ruộng
đất, về tình hình canh tác và tình hình cải tạo chất đất.
6
7
Lập khế ước tá điền (còn gọi là cấp bằng chứng khoán ruộng đất cho nông
dân): căn cứ vào địa bạ hoặc theo lời khai của địa chủ để lập các hợp đồng.
-Truất hữu địa chủ: Theo Đạo dụ số 57 (thực hiện cải cách điền địa) mỗi địa
chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất và 15 ha đất hương hoả (trừ những diện tích
trồng cây lâu năm); đến khi thực hiện Luật Người cày có ruộng hạn mức này giảm
xuống còn 15 ha với Nam bộ và 5 ha với Trung bộ.
-Tiểu điền chủ hoá tá điền (còn gọi là hữu sản nông dân): chúng biến một
số tá điền trở thành tiểu điền chủ bằng cách bán lại cho mỗi tá điền 3 ha ruộng đất
(với vùng Nam bộ) hoặc 1 ha (với vùng Trung bộ), số đất này lấy từ ruộng đất thu
hồi của các đại địa chủ như trên đã nêu.
-Hướng dẫn địa chủ qua hoạt động kỹ nghệ: Những đại địa chủ khi bị truất
hữu (trưng mua) bớt ruộng đất thì phần ruộng đất đó được trả bằng cổ phiếu để góp
vào các công ty, xí nghiệp khi cổ phần hoá.
-Thu hồi về tay quốc gia những ruộng đất bị thực dân chiếm đoạt: Chính
quyền Diệm dùng tiền Pháp để trả cho các đại địa chủ Pháp khi Diệm thu về tay
quốc gia một phần ruộng đất, nhưng đáng chú ý là không hề động đến số diện tích
cao su của chúng (đây là loại đất có thu nhập cao nhất lúc đó).
Mục tiêu chính trị: chúng muốn xáo trộn lại ruộng đất gây chia rẽ nông dân,
xoá bỏ thành quả của cuộc cải cách ruộng đất, từng bước chuyển giai cấp địa chủ
thành tầng lớp tư sản mới ở nông thôn.
Thời kỳ 1975-1993
Sau khi thống nhất đất nước, tháng 11/1979 Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành
lập với nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với toàn bộ ruộng đất trên lãnh thổ Việt
Nam. Hiến Pháp năm 1980 được Quốc Hội thông qua xác nhận một hình thức sở
hữu đất đai đó là “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Như vậy đất đai chỉ có một chủ
sở hữu duy nhất mà người đại diện là Nhà Nước, còn các đối tượng như các tổ
chức, hộ gia đình và các nhân được nhà nước giao đất theo đúng diện tích, đúng
dụng đất
2.1.1. Sự cần thiết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa nhà
nước với người sử dụng đất. Đây là yếu tố góp phần quan trọng vào việc nắm chắc
9
quỹ đất của địa phương, giúp cho việc quy hoạch sử dụng hợp lý từng loại đất, tạo
điều kiện cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất. Việc đăng ký đất đai, GCNQSDĐ
góp phần hoàn thiện hồ sơ địa chính, giúp cho việc nắm chắc quỹ đất cả về số
lượng và chất lượng. Vì vậy việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất cho người dân là hết sức cần thiết bởi nó đảm bảo quyền lợi
hợp pháp của người dân và giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được
hiệu quả hơn.
2.1.2. Các trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Trường hợp hộ gia đình cá nhân, tổ chức có giấy tờ theo quy định tại khoản 1,
2,5 và điều 50 của luật đất đai về quyền sử dụng đất.
- Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất.
- Trường hợp giấy tờ ghi rõ diện tích đất ở và diện tích đất vườn, ao.
- Trường hợp giấy tờ không ghi rõ diện tích đất ở và diện tích đất vườn, ao.
2.1.3. Lập và quản lý hồ sơ địa chính
Hồ sơ địa chính là hồ sơ phục vụ quản lý Nhà nước đối với việc sử dụng đất
bao gồm:
1. Bản đồ địa chính có tọa độ, ngoài ra tùy từng điều kiện của từng địa
phương có các loại bản đồ sau:
+ Bản đồ giải thửa toàn xã đo vẽ bằng nhiều phương pháp khác nhau.
+ Hồ sơ kỹ thuật thửa đất (đối với đất đô thị) hoặc hồ sơ trích lục thửa đất
(đối với các thửa đất nông nghiệp, lâm nghiệp có nhiều chủ sử dụng nhưng ranh
2.2. Cơ sở pháp lý của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.2.1. Những căn cứ pháp lý của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Trước khi có Luật Đất đai năm 2003
Luật đất đai 1993
Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính Phủ quy định về giao đất
nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất lâu dài
Nghị định 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính Phủ về quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất đô thị
Nghị định 176/1999/NĐ-CP ngày 21/12/1999 của Chính Phủ về lệ phí
trước bạ
11
Nghị định 38/NĐ-CP ngày 23/8 2000 của Chính Phủ về thu tiền sử dụng đất
Chỉ thị 18/1999/CT-TTg ngày 1/7/1999 của Chính Phủ về một số biện
pháp đẩy mạnh việc hoàn thiện công tác CGCNQSD đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp , đất ở nông thôn vào năm 2000
- Sau khi có Luật Đất đai năm 2003
Luật đất đai 2003
Nghị định 181/NĐ-CP của Chính Phủ về thi hành luật đất đai 2003
Thông tư 29/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường hưỡng
dẫn về việc lập, chỉnh lý hồ sở địa chính
Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT ban hành về quy định sử dụng đất
Nghị định 198/2004/NĐ-CP của Chính Phủ về thu tiền sử dụng đất
Thông tư 117/2004/TT-BTC của Chính Phủ về hưỡng dẫn thực hiện nghị
định 198/2004/NĐ-CP
Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính Phủ quy định bổ sung về việc cấp
GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường,
hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi và giải quyết khiếu nại về đất đai
luật này.
2.2.2.2. Mục đích, yêu cầu, đối tượng, điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
* Mục đích của ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất:
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đạt được các mục đích sau:
Đối với Nhà nước: Vừa xác lập cơ sở pháp lý cho việc tiến hành các biện pháp quản
lý, vừa nắm chắc tài nguyên đất đai.
Đối với người sử dụng đất: Yên tâm chủ động khai thác tốt nhất mọi tiềm
năng của khu đất được giao, hiểu và chấp hành tốt pháp luật về đất đai.giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là chứng thủ pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa
Nhà nước – người quản lý chủ sở hữu đất đai với người được nhà nước giao đất để
sử dụng. Quá trình tổ chức việc cấp GCN là quá trình xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ
để giải quyết mọi quan hệ về đất đai theo đúng pháp luật. Vì vậy người được cấp
GCN phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật.
13
* Yêu cầu của ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất:
Việc cấp GCNQSDĐ là công việc hết sức quan trọng, nó phải được tiến hành lần
lượt từng bước vững chắc không nóng vội ồ ạt theo phong trào, đủ điều kiện đến
đâu cấp GCN đến đó. Chưa đủ điều kiện thì để lại đưa vào trường hợp xét cấp và có
kế hoạch xử lý những trường hợp đó bằng tài chính để cấp GCN cho họ, chứ không
thể bỏ lại được, làm như vậy sẽ không bao giờ cấp được. Phải chủ động tạo điều
kiện để mọi người sử dụng đất thuộc mọi đại phương đều lần lượt được cấp
GCNQSDĐ. Đồng thời phải được sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của cấp Uỷ Đảng và
chính quyền các cấp.
* Đối tượng của ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
đây thì được cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993
do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền
Nam Việt Nam và Nhà Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
b) GCNQSDĐ tạm thời do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có
tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính.
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn
liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất.
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất
ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận
là đã sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993.
e) Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của
pháp luật.
f) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế đọ cũ cấp cho người sử dụng đất.
2. Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1 trên đây mà trên đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về chuyển
quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan, nhưng đến trước ngày luật này
có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật, nay được UBND xã, phương, thị trấn xác nhận là đất không có tranh
chấp thì được cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền sử dụng đất.
15
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa
phương và trược tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm
muối tại vùng có điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội khó ở miền núi hay hải đảo
được UBND xã nơi có đất xác nhận là người đang sử dụng đất ổn định, không có
tranh chấp thì được cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền sư dụng đất.
sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.
2. Phần diện tích đất mà tổ chức đang sử dụng nhưng không được cấp
GCNQSDĐ được giải quyết như sau:
a) Nhà nước thu hồi phần diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng
mục đích, không hiệu quả.
b) Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đã sử dụng làm đất cho UBND
huyện , quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để quản lý, trường hợp doanh nghiệp nhà
nước sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã được nhà
nước giao đất mà doanh nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng một phần quỹ
đất làm đất ở thì phải bố trí lại diện tích đất ở thành khu dân cư trình UBND tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương nơi có đất xét duyệt trước khi bàn giao cho địa
phương quản lý.
3. Đối với tổ chức kinh tế lựa chọn hình thức thuê đất thì cơ quan quản lý đất
đai của tỉnh thành phố trực thuộc trung ương làm thủ tục ký hợp đồng thuê đất trước
khi cấp GCNQSDĐ.
4. Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ khi có các điều
kiện sau đây:
a) Cơ sở tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động.
b) Có đề nghị bằng văn bản của tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo đó.
c) Có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử
dụng đất của cơ sở tôn giáo đó.
2.2.3. Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của
chủ sử dụng đất để họ yên tâm đầu tư, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thực
hiện các quyền và nghĩa vụ sử dụng đất theo pháp luật.
Nguyên tắc cấp GCNQSDĐ được quy định rõ tại điều 48 luật đất đai 2003 như sau:
17
18
Song song với việc từng bước hoàn thiện pháp luật đất đai, các nội dung
quản lý nhà nước về đất đai cũng được triển khai đồng bộ, từng bước đưa công tác
quản lý đất đai đi vào nề nếp, nhằm khai thác sử dụng đất có hiệu quả và bền vững.
trong những năm qua công tác quản lý nhà nước về đất đai trên toàn quốc đã đạt
được những kết quả sau:
- Công tác ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó: trong những năm qua các văn bản pháp luật
của nhà nước có liên quan đến đất đai đã được ban hành và ngày càng hoàn thiên
cho phù hợp với tình hình mới để công tác quản lý và sử dụng đất đạt hiệu quả. Từ
luật đất đai 1993 , luật đất đai sửa đổi 1998, 2001 và luật đất đai 2003, cùng với đó
là các văn bản, nghị định, thông tư đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác
quản lý và sử dụng đất đai. Tuy nhiên các văn bản pháp luật về đất đai vẫn còn
nhiều điều khoản chồng chéo gây càn trở việc giải quyết các vấn đề liên quan đến
đất đai. Vì vậy để phù hợp với tình hình thưc tế có nhiều biến động do nền kinh tế
đang trên đà phát triển cần phải có một hành lang pháp lý vững chắc cho công tác
quản lý đất đai được đòng bộ và thống nhất.
- Về công tác đo đạc bản đồ: Công tác quản lý nhà nước về đo đạc và bản
đồ đã có những chuyển biến tích cực từng bước đi vào nề nếp. Toàn bộ hệ thống
trắc địa quốc gia đã được đo đạc hoàn chỉnh, được xử lý toán học, đã và đang được
sử dụng.
Riêng công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào
đã hoàn thành cắm mốc trên thực địa trong năm 2013. Đo vẽ, thành lập bản đồ biên
giới quốc gia Việt Nam-Lào tỷ lệ 1/10.000 khu vực 16 cặp cửa khẩu quốc tế, 1 cửa
khẩu chính và 2 khu vực. Kiểm tra nghiệm thu, giám sát thi công, hoàn chỉnh bộ bản
đồ khu vực biên giới Việt Nam-Campuchia, bộ bản đồ trực ảnh khu vực biên giới
Việt Nam-Campuchia. Các địa phương giáp với Campuchia và Lào đã phối hợp chặt
chẽ với Bộ thực hiện tốt nhiệm vụ phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền.
Nhờ đẩy mạnh công tác điều tra, đánh giá, giám sát tài nguyên thiên nhiên và