Một số giải pháp phát triển loại hình du lịch mạo hiểm tại tỉnh đăk lăk - Pdf 36

1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH MẠO HIỂM

1.1 Lý luận về du lịch
1.1.1 Định nghĩa về Du lịch
Du lịch là một ngành “công nghiệp không khói” góp phần tăng thu nhập quốc gia và giải quyết
công ăn việc làm cho một bộ phận lớn lao động. Ngày nay nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt
Nam đã ưu tiên phát triển ngành du lịch như một ngành mũi nhọn quốc gia mình. Vì vậy trước tiên
để có thể khai thác hiệu quả ngành này chúng ta cần phải hiểu được bản chất của nó.
Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel
Oragnization: IUOTO): du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư
trú thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề
hay một việc kiếm tiền sinh sống...tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma _ Italia ( 21/8 –
5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện
tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở
bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú
không phải là nơi làm việc cuả họ.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: họat động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hệ và hiện
tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể
du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ du khách thì: khách du lịch là loại
khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn sinh họat cao cấp mà không theo
đuổi mục đích kinh tế.
Theo quan niệm đầy đủ về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, Khoa Du lịch và khách sạn
(Trường ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội) đã đưa ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và
thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và Việt Nam trong những năm gần đây: “Du lịch là một
trong những ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi
hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống,
tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại
những lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp”.

người tiếp nhận không thể lưu giữ lại, không thể đem tiêu thụ hay bán ra ngoài trong một thời gian
sau đó. Tính mong manh góp phần làm cho chất lượng dịch vụ khó kiểm soát . Doanh nghiệp không
thể dựa vào lần kiểm tra cuối cùng nhằm đánh giá chất lượng dịch vụ mình cung cấp. Do vậy, việc
đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn. Mặt khác, quá trình cung cấp dịch vụ xảy ra liên
tục, tức là quá trình cung cấp và tiếp nhận dịch vụ tiến hành đồng thời, cùng một lúc với sự hiện
diện của khách hàng trong suốt thời gian sản xuất . Do đó, chất lượng dịch vụ sẽ rất khó đoán trước
mà dựa theo phán đoán chủ quan cao, phần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụ
thuộc vào khách du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa
mức độ kì vọng và mức độ cảm nhận của khách về chất lượng sản phẩm du lịch.
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với các yếu tố tài nguyên du lịch. Do vậy, sản phẩm
du lịch không thể dịch chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách
du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình
thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch.
Đặc điểm này của sản phẩm du lịch là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà
kinh doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch cũng mang tính dị chủng
và không ổn định. Nguyên nhân là chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người thực hiện, thời gian, địa


4

điểm cung cấp. Đây là một đặc điểm quan trọng mà nhà cung ứng cần lưu ý nếu muốn nâng cao chất
lượng dịch vụ của mình.
Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch trùng nhau về thời gian và không gian, và dĩ
nhiên, chúng ta không thể tích lũy , dự trữ dịch vụ cũng như không thể kiểm nghiệm trước. Ví dụ:
một phòng của khách sạn, một chỗ ngồi trên máy bay không bán được thì không thể cất giữ vào
kho. Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất về tiêu dùng là rất khó khăn. Việc thu hút khách du
lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du
lịch.
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà có thể chỉ tập trung vào những
thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm

môi trường sinh thái đồng thời nâng cao đời sống kinh tế của dân cư trong vùng.
Phân tích quan điểm của nhóm
Loại hình du lịch mạo hiểm mang lại cảm giác mạnh và sảng khoái, giải tỏa được tính hiếu kỳ,
mang lại niềm vui và sức sống mới cho du khách theo, bên cạnh đó du lịch mạo hiểm còn là một
hình thức để giúp con người suy nghĩ logic, học hỏi nhiều kinh nghiệm và ứng phó trước các tình
trạng khó khăn nhưng nó phải đồng thời đảm bảo tính mạng và tài sản của khách du lịch.
Không phải nhất thiết tất cả các chuyến mạo hiểm đều dựa vào thiên nhiên, trong một vài trường
hợp du lịch mạo hiểm có thể tổ chức được ở trong các thành phố lớn theo ý đồ của nhà tổ chức đó là
sự kết hợp giữa các yếu tố giải trí và mạo hiểm ở công viên, cầu vượt.. trong thành phố hoặc là
những trò chơi mang tính xếp hạng giữa các đội chơi kết hợp với các yếu tố mạo hiểm
Du lịch mạo hiểm là loại hình du lịch sinh thái kết hợp với các hoạt đông thể thao nó góp phần làm
đa dạng sản phẩm du lịch địa phương và từ đó tạo nên được sức hấp dẫn để thu hút du khách nước
ngoài lẫn du khách trong nước. Du lịch mạo hiểm cũng góp phần khai thác tốt các tài nguyên du lịch
của địa phương và góp phần tăng mức sống của người dân địa phương cũng như quảng bá du lịch ở
thành phố đó.
Du lịch mạo hiểm là loại hình tác động trực tiếp đến môi trường sinh thái vì vậy công tác đảm bảo
vệ sinh môi trường sinh thái là hết sức cần thiết để vừa đảm bảo khai thác du lịch có hiệu quả vừa
không làm ô nhiểm môi trường sinh thái gây tác động xâu đến hệ động thực vật, nguồn nước, không
khí trong vùng.
1.2.2 Cơ sở để xem là du lịch mạo hiểm.
Để đánh giá cơ sở để xem là du lịch mạo hiểm nhóm xin đánh gia trên ba yếu tố đó là sân chơi, luật
chơi và người tổ chức.
Sân chơi: Phải có địa điểm tổ chức thuận lợi và thích hợp cho việc xây dựng các hoạt động du lịch
mạo hiểm như phải có các cánh rừng, thác nước, sông hổ…nhưng các địa điểm này đã được khảo
sát và đảm bảo về thời tiết cũng như địa hình.
Luật chơi:các nghị định của nhà nước ban hành về luật du lịch. Có các tiêu chí tối thiểu để đánh giá
tiêu chuẩn an toàn của nhà tổ chức.
Người tổ chức: các nhà cung ứng dịch vụ với các cơ sở vật chất đảm bảo tiêu chuẩn. Có các thiết bị
bảo hộ an toàn cho du khách đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng nhằm đảm bảo an toàn tính mạng cho
du khách tham gia. cần có những thông tin để du khách tham gia có thể lựa chọn được những tour

+ Khám phá nghiên cứu của các nhà khoa học: Nghiên cứu, khảo sát, phân tích tìm hiểu các loại
động, thực vật, các hiện tượng tự nhiên.
Dựa vào mức độ mạo hiểm có thể chia làm ba loại:
+ Loại hình có mức độ mạo hiểm thấp: như đạp xe đạp , chèo thuyền, đi bộ băng rừng
+ Loại hình có mức độ mạo hiểm trung bình: leo vách núi, chèo thuyền vươt thác..


7

+ Loại hình có mức độ mạo hiểm cao: đây là các hoạt động mang tính chất rủi ro cao, hay địa điểm
tổ chức là những nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (xem phục lục 10 địa điểm du lịch mạo hiểm
nhất trên thế giới).
1.2.5 Các sản phẩm-dịch vụ dành cho loại hình du lịch mạo hiểm:
Cũng như các loại hình khác, du lịch mạo hiểm cần có các sản phẩm và dịch vụ đặc biệt dành riêng
cho nó, qua nghiên cứu nhóm xin đưa ra các sản phẩm-dịch vụ như sau
Các sản phẩm dành cho du lịch mạo hiểm là
các trang thiết bị đảm bảo an toàn cho du lịch
mạo hiểm: như mũ bảo hiểm, áo phao cứu
sinh, túi ngủ, túi khô mái chèo, quần áo
chuyên dụng cho các loại hình du lịch dưới
nước. Các hoạt động trên cạn như leo núi, băng rừng, leo vách…

Thuyền Kayak cho 1 người

núi cần có dây leo, móc khoá, lều bạt, mũ bảo hiểm các dụng cụ bảo vệ đầu gối, khuỷ tay, máy bộ
đàm… các hoạt động trên không như nhảy dù, tàu lượn cần mũ bảo hiểm, các dụng cụ bảo vệ đầu
gối và khuỷ tay, dù nhảy…tuỳ theo các hoạt động mà các thiết bị giống nhau được thiết kế khác
nhau ví dụ như nón bảo hiểm của leo núi khác với nón bảo hiểm các hoạt động dưới nước. Bất kỳ
loại hình nào của du lịch mạo hiểm cũng đều trang bị hộp y tế và thiết bị thông tin liên lạc đơn giản
nhất là bộ đàm. Bên cạnh đó là các trang thiết bị dùng để di

văn hoá, con người, địa lý các vùng miền đi qua và hoà mình vào thiên nhiên qua các tour mạo
hiểm.
Khách du lịch tham gia loại hình du lịch mạo hiểm là những người tham gia dài ngày và có khả
năng chi trả cao. Vậy những người tham gia du lịch mạo hiểm là những người có quỹ thời gian nhàn
rổi lớn và ngân sách đi du lịch lớn.
Các đối tượng tham gia du lịch mạo hiểm phần lớn là các khách người Châu Âu (đặc biệt là người
Pháp), Mỹ, và một số nước phát triển ở Châu Á. Bởi vì về phong tục và văn hoá người Châu Âu
muốn khám phá và mạo hiểm. Nhưng với xu hướng hội nhập hoá toàn cầu hiện nay thì khoảng cách
ấy đang bị xích lại. Nhìn chung giới trẻ hiện nay đều có cái nhìn rất lạc quan về loại hình du lịch
mới này
Đặc biệt hiện nay các công ty đang áp dụng team building một hình thức của du lịch mạo hiểm cho
các nhân viên trong công ty nhằm mục đích xây dựng tính đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau của các nhân
viên thông qua các tour mạo hiểm với loại hình này sẽ giúp xoá bỏ những khoảng cách trong xã hội
và giúp các thành viên trong một tổ chức có cơ hội hoàn thiện bản thân và tinh thần làm việc nhóm.
Đây là loại hình du lịch được tổ chức theo đội hoặc nhóm để tham gia các trò chơi và để hoàn thành
được các trò chơi này thì tinh thần đồng đội và khả năng chỉ huy của trưởng nhóm hết sức quan
trọng.
Trong xã hội hiện nay khi áp lực công việc cũng như nhịp sống ngày càng tăng cao thì hiện tượng
strees càng trở nên phổ biến và một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để giảm căng thẳng là thư
giãn và cùng đồng nghiệp tham gia những trò chơi tập thể. Chính vì vậy, Teambuilding phát triển
mạnh ở các nước phát triển và đang bắt đầu được các đơn vị kinh doanh du lịch ở Việt Nam quan
tâm
1.2.7 Khuynh hướng du lịch mạo hiểm trong tương lai.
Với xu hướng quốc tế hoá khoảng cách giữa các quốc gia đang bó hẹp lại, cũng như cuộc cách
mạng của khoa học kỹ thuật sẽ làm cho trong tương lai du lịch mạo hiển sẽ thu hút một số lượng lớn


9

du khách đặc biệt là giới trẻ tham gia loại hình này. Bên cạnh đó cuộc sống của con người ngày

Vượt thác: Bắt đầu từ làng Sob Kai du khách có thể chơi trò vượt thác (white water rafting) trên
các thuyền phao lớn chứa được sáu người. Trước khi vào cuộc, du khách sẽ hướng dẫn tập dượt cho
cả đoàn những động tác chèo và phổ biến ba nguyên tắc để chơi: an toàn, an toàn và tuyệt đối an


10

toàn.
Sau khi thành thục, các du khách bắt đầu vượt chặng thác đầu tiên. Sau đó chặng thứ hai là chặng
mà thử thách tăng lên bội phần (chặng nguy hiểm nhất với một đoạn thác đổ, thuyền có thể bị lật và
nhấn chìm). Nếu chẳng may bị rớt xuống nước du khách sẽ được các nhân viên cứu hộ đưa lên lại
thuyền sau 1 giờ dưới nuớc, và kết thúc chuyến phiêu lưu trên dòng thác tại làng Muang Kut sau ba
chặng đường gian nan.
Ở Muang Kut có sẵn một đống thân tre dài ngoằng nằm ngổn ngang trên mặt đất. Với phương châm:
"Hãy tưởng tượng các bạn là một nhóm quân buộc phải vượt qua dòng sông Meakok này mà không
có tàu thuyền gì cả; chỉ có tre, dây thừng và những thùng phuy này thôi. Hãy tự cứu lấy mình!". Du
khách sẽ được hướng dẫn viên chỉ dẫn cách để ghép những thân tre thành một cái bè "cứu mạng".
Mất hơn một giờ, chiếc bè thô sơ nhưng chắc chắn sẽ đưa du khách về lại khu nghỉ mát thơ mộng
Maekok River Village.
Cycling: chặn kế tiếp là chinh phục đoạn đường rừng dốc dài 16km ở độ cao 1.300m bằng xe đạp.
Chỉ mất hai tiếng đạp xe cả đoàn đã có thể thư giãn ngâm mình ở suối nước nóng Fang Hot Springs
nổi tiếng, nên thơ.
Elephant ride: Nếu so với Việt Nam mà cụ thể là ở Đăk Lăk đàn voi của tỉnh từng đã có một lực
lượng hùng hậu, nhưng do không khai thác đúng cách lại không có chính sách bảo tồn và gìn giữ,
đàn voi Đăk Lăk đã giảm đi rất nhiều về số lượng. Trong khi đó tại Thái Lan họ đã làm rất tốt, ngoài
đưa voi làm phương tiện vận chuyển du khách họ còn dùng voi là một hình ảnh của du lịch thông
qua việc cho du khách chiêm ngưỡng những đàn voi sống tự nhiên hoang dã nhưng được chăm sóc
chu đáo chứ không cột xích như đàn voi Đăk Lăk . Ở Thái Lan người ta cưỡi voi khám phá rừng
nhiệt đới tại thung lũng cũng là khu bảo tồn voi Mae Taeng (Chiang Mai): những chú voi lội trên
những khúc sông cạn, đưa du khách ngang qua những khu chăm sóc voi ngoài trời, ngắm nhìn

triển du lịch.
2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn.
Dân tộc Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống và lao động, nhưng ở Đăk Lăk đã có hơn 44
dân tộc anh em trên địa bàn tỉnh tạo nên nét đặc trưng riêng cho nền văn hóa lâu đời của Đăk Lăk.
Người Êđê và người Mnông là hai dân tộc đại diện cho vùng đất Tây Nguyên với một bề dày lịch sử
và văn hóa. Bên cạnh đó Đắk Lắk còn có kho tàng sử thi phong phú nhất Việt Nam với 292 pho, đã
sưu tầm 77 pho (gồm 12 sử thi Êđê và 65 sử thi M’nông). Nổi tiếng nhất là Bài ca chàng Đam San
(Klei khan Y Đam San) của dân tộc Êđê. Đắk Lắk là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không
gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi
vật thể nhân loại. Chỉ một đội cồng chiêng nổi tiếng của người Đắk Lắk, vỏn vẹn chỉ có 8 nam và 3


13

nữ mà họ đã đem tài năng và vốn văn hóa của mình đi biểu diễn khắp nơi trong cả nước và còn sang
Thụy Điển dự lễ hội Womek. Đắk Lắk còn có chiếc ghế Kpan (được làm gỗ nguyên khối) dài nhất
Việt Nam. Ghế Kpan là tài sản quý của những gia đình giàu có và uy thế người Êđê. Chiếc Kpan lớn
nhất dài 11,46m, dày 8cm, bề mặt 68cm, cao 48cm hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Văn hóa
dân tộc tỉnh Đắk Lắk. Nói đến Tây Nguyên không thể không nói tới lễ hội voi ở nơi đây bởi tỉnh là
nơi có đàn voi nhà đông nhất với 54 con , lễ hội này được coi là lễ hội voi lớn nhất Việt Nam, với 30
chú voi thiện chiến dự thi nhiều môn như đá banh, đua voi, xiếc.... Bên cạnh đó các Lễ hội Cồng
chiêng, Lễ hội cà phê đã được nhà nước công nhận và tổ chức đều đặn hàng năm như một giá trị
truyền thống. Đáng chú ý khi đến thăm Đắk Lắk là những ngôi nhà dài truyền thống theo huyền
thoại có thể "dài như tiếng chiêng ngân" hoặc các bến nước của các buôn làng đồng bào dân tộc
thiểu số tại chỗ, một nét văn hoá rất đặc trưng của vùng đất này và ấn tượng với du khách bằng
những sản phẩm gia dụng như bàn, ghế và cả thuyền độc mộc đẻo từ những cây rừng lớn nguyên
vẹn...
Là một mảnh đất có bề dày về văn hóa và lịch sử nên Đăk Lăk có rất nhiều di tích có giá trị, có rất
nhiều di tích đã và đang được kiểm kê, công nhận và xếp hạng. Ngoài những di tích khảo cổ như
khu mộ táng Ea Knuếk (Krông Păc), mộ Chăm Hòa Sơn (Krông Bông), tháp Yang Prong (Ea

cháy bỏng khát vọng yêu cuộc sống.
2.2. Thực trạng du lịch của tỉnh Đăk Lăk trong những năm qua.
2.2.1 Cơ sở hạ tầng.
Cơ sở lưu trú:
Hệ thống cơ sở vật chất trong ngành du lịch cả nước nói chung và của tỉnh Đăk Lăk nói riêng trong
thời gian qua đã có một số tiến triển đáng kể, nhưng vẫn chưa sánh kịp so với các nước trong khu
vực và thế giới. Tổng cơ sở lưu trú cả nước đạt gần 9.000 cơ sở với 180.051 buồng. Trong đó 4.283
cơ sở lưu trú xếp hạng chuẩn từ 1 sao đến 5 sao chiếm 49.94%. Thực tế các khách sạn đạt tiêu chuẩn
quốc tế đặc biệt là khách sạn 5 sao còn quá ít và chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn nên dễ gây ra
tình trạng “cháy phòng” dẫn đến việc tăng giá cao và ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ.
Bảng 1 : Số liệu các cơ sở lưu trú tại Đăk Lăk
Tiêu
chuẩn

Chưa
xếp loại

1 sao

2 sao

3 sao

4 sao

5 sao

Số lượng

68

- Quốc lộ 26: 119 km, từ ranh giới tỉnh Khánh Hòa đến TP Buôn Ma Thuột
- Quốc lộ 27: 84 km, từ TP Buôn Ma Thuột đến ranh giới tỉnh Lâm Đồng
- Quốc lộ 14C: 68,5 km, từ ranh giới tỉnh Gia Lai đến ranh giới tỉnh Đăk Nông.
Và ngoài ra còn có 14 tỉnh lộ với tổng chiều dài 460 km, gần 70 % trong số đó đến cuối tháng 2 năm
2006 đã được rải nhựa. Đường giao thông nội tỉnh được đầu tư mở mới và nâng cấp thuận lợi có thể
thông thương đến biên giới Campuchia mặt khác các tuyến đường đến các khu du lịch đã được nhựa
hóa gần như là đến chân cổng các khu du lịch. Thêm vào đó cùng với việc Chính phủ đầu tư tuyến
đường Hồ Chí Minh, hàng loạt các công trình đầu tư nhằm khai thác lợi thế của tuyến giao thông
này. Điển hình là việc đầu tư xây dựng cửa khẩu quốc tế Bờ Y (Kon Tum) và các trục giao thông sẽ
hình thành nhánh của con dường xuyên Á bắt đầu từ Côn Minh (Trung Quốc) - Myanmar - Lào Thái Lan qua cửa khẩu Bờ Y tạo mối quan hệ thương mại quốc tế giữa các tỉnh Đông Bắc Thái Lan,
Nam Lào với các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ.Với một vị trí thuận lợi
như vậy, trong tương lai Đắk Lắk sẽ là một trung tâm giao lưu hàng hoá giữa các vùng và tạo điều
kiện cho các ngành du lịch, dịch vụ phát triển trong những năm tới đây.
Đây cũng là điều kiện khá lý tưởng để thu hút khách du lịch các nước theo tuyến đường bộ này vào
Tây Nguyên - Đắk Lắk cũng như khuyến khích du khách Đắk Lắk đi du lịch nước ngoài. Thế nhưng
đường xá của tỉnh không được đảm bảo về chất lượng, trên các đoạn đường tỉnh lộ, những “ổ gà”
hay “ổ khủng long” nằm chiếm ngay trên đường (ảnh minh hoạ) gây ảnh hưởng xấu đến giao thông
và dễ xảy ra tai nạn, ngoài ra các đoạn đường vào điểm du lịch như thác Krông Kmar, khu du lịch
sinh thái-văn hoá Buôn Đôn …bị “lở loét” phần nào đã ảnh hưởng đến thời gian di chuyển, và tính
an toàn cho du khách. Các lái xe chạy trên các quốc lộ 14, 26, 27 ( là các quốc lộ có bề ngang hẹp)
thường phóng nhanh, vượt ẩu để tranh dành khách đã tạo nên ấn tượng xấu trong lòng khách du lịch.
Đường hàng không
Hàng ngày có các chuyến bay từ Buôn Ma Thuột đi Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và
ngược lại bằng máy bay cỡ trung A320.
Cụm cảng Hàng không Buôn Ma Thuột đang tiếp tục được đầu tư xây dựng hệ thống sân bãi và cơ
sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông trong tương lai.


16


Lượt khách nội địa
Lượt khách quốc tế

100000
50000
0
2005

2006

2007

2008

Quý I
2009

(Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đăk Lăk)
Qua biểu đồ cho ta thấy rằng lượng khách quốc tế trong những năm qua ở tỉnh có dấu hiệu đang
tăng lên, nhưng mức tăng trưởng không ổn định, tốc độ tăng trung bình đạt 15,94% (năm 20052008) riêng năm 2007 lượt khách quốc tế đã giảm 3.128% so với năm 2006 . Nhưng dấu hiệu đáng
mừng ở đây là năm 2008 lượng khách quốc tế đến tỉnh Đăk Lăk lại tăng 14% so với năm 2007 mặc
dù năm 2008 là năm mà ngành du lịch quốc tế và trong nước gặp nhiều khó khăn. Lượt khách nội
địa năm 2007 tăng đáng kể 17,5% so với năm 2006 và có dấu hiệu chùn lại tăng 2,7% trong năm
2008. Trên đà đó trong quý I năm 2009 ngành du lịch của tỉnh tiếp tục duy trì tốc độ tăng
trưởng.Tổng số khách đón tiếp đạt 56.000 lượt khách đạt 18.67% kế hoạch năm 2009 tăng 2.26% so
với cùng kỳ năm 2008, trong đó khách quốc tế xấp xỉ 5.000 lượt khách, đạt 20% kế hoạch năm 2009
giảm 37.23% so với cùng kỳ năm 2008. Thực tế cho thấy rằng tác động của khủng hoảng kinh tế
toàn cầu dịch cúm gia cầm H5N1và mới đây là dịch cúm lợn H1N1 đã hạn chế lượng khách quốc tế
đến du lịch ở tỉnh, trong khi đó lượng khách du lịch nội địa tăng nhanh là do các đoàn khách trong
nước đến khảo sát, công tác và dự hội nghị, khách đến với mục đích du lịch thật sự còn ở mức thấp.

thao, vui chơi, giải trí; chi cho y tế, săm sóc sức khoẻ đều chiếm rất nhỏ trong tổng các khoản chi.
Về mức chi tiêu bình quân một ngày-khách khoảng từ 300 đến dưới 400 nghìn đồng ( theo điều tra
của Tổng cục Thống kê (GSO) công bố số liệu ngày 31-08-2005). Như vậy ta có thể thấy được
ngành du lịch của tỉnh chỉ hút đựơc lượng khách có mức thu nhập trung bình trở xuống, lượng
khách có mức chi tiêu cao còn rất hạn chế chủ yếu tập trung vào lượng khách nước ngoài và một
phần khách nội địa sang trọng, rất nhiều lý do được đưa ra như cơ sở phục vụ du lịch chưa đáp ứng
được nhu cầu của loại khách này, các sản phẩm du lịch nghèo nàn, trùng lắp, chưa có những sản
phẩm du lịch sang trọng. Theo nhóm nghiên cứu thì du lịch tỉnh Đăk Lăk vẫn chưa tận dụng hết thế
mạnh của mình để thu hút mạnh mẽ lượng khách có mức chi tiêu trung bình, cũng như khách có
mức chi tiêu cao. Thiết nghĩ để phát triển du lịch bền vững cần phải tạo được nhiều công ăn việc
làm cho các đồng bào dân tộc tại chỗ và các cư dân sinh sống ven các khu du lịch cũng như phải
đảm bảo sinh thái môi trường, trong khi đó những khách có mức chi tiêu cao và những khách hạng
sang lại góp phần tạo nên đảm bảo điều đó. Vì vậy với chủ trương phát triển du lịch bền vững thì
ngành du lịch tỉnh Đăk Lăk cần phải chú trọng thu hút nhiều hơn thị trường du khách đầy tiềm năng
này.


19

2.2.3 Thực trạng khai thác du lịch ở Đăk Lăk:
Đắk Lắk là một trong những tỉnh giàu tiềm năng về du lịch của Việt Nam với nhiều di tích, thắng
cảnh và truyền thống văn hóa đa dạng. Đặc biệt, Đắk Lắk có Bản Đôn là một địa danh đã được đưa
vào bản đồ du lịch thế giới vì truyền thống săn bắt, thuần dưỡng voi rừng và ở Đăk Lăk có nhiều
thắng cảnh đẹp và hoang sơ đang được đưa vào khai thác như khu dịch lịch sinh thái buôn đôn, khu
du lịch Lăk, thác KrôngKmar, thác Draysap, thác Gia Long, vườn quốc gia Yokdon, Chư Yang
Sing…bên cạnh đó còn có những khu du lịch văn hoá lịch sử như Bảo tàng dân tộc Đăk Lăk, hang
đá Đaktour, tháp chăm Yang Prong…Đặc biệt trong những năm gần đây ngành du lịch của tỉnh đã
đạt được một số thành tựu đáng khích lệ như tổ chức được nhiều sự kiện lớn, doanh thu tăng đều
qua các năm (xem biểu đồ doanh thu)
Qua biểu đồ doanh thu ta thấy doanh thu của ngành du lịch tỉnh tăng đều qua các năm, tốc độ tăng

Tỷ Đồng

90.7

102

125

152

(Nguồn: sở vă n hoá-thể thao- du lịch Đăk Lăk)

Quý I
2009
40


20

Tuy nhiên do xuất phát chủ yếu từ ngành nông nghiệp là chính tỷ trọng nông-lâm nghiệp chiếm
66.5%, tỷ trọng ngành công nghiệp là 12,4% và tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 21.1% nên ta thấy
đóng góp của ngành du lịch vào tổng thu nhâp của tỉnh là còn chưa cao. Thật sự ngành du lịch của
tỉnh có xuất phát điểm thấp chỉ mới bắt đầu đi vào hoạt động thực sự vào năm 1994, các hoạt động
du lịch còn tính chất còn bộc phát, nhiều khu du lịch sinh thái chủ yếu dựa vào các khu sinh thái có
sẵn, việc xây dựng và đầu tư chỉ mang tính chất sơ xài, thiếu đồng bộ.
Biều đồ 2.4 Tỉ trọng cơ cấu ngành ở
Đăk Lăk

66.50%
21.10%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status