Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
CHƯƠNG I :
MỞ ĐẦU
I.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nằm trên cao nguyên Lâm Viên, Đà Lạt được biết đến không chỉ là một thành
phố hoa với sương mù huyền ảo, mà đây còn là thành phố thiên đường của du lịch,
nghĩ dưỡng nổi tiếng của cả nước từ trước đến nay. Gần đây, chính phủ đã có văn
bản nâng thành phố Đà Lạt lên tầm “thành phố trực thuộc Trung Ương”, với vị thế
và tầm cỡ quan trọng ấy, vấn đề vệ sinh môi trường luôn là mục tiêu hàng đầu của
các cấp lãnh đạo thành phố. Tuy nhiên trong những năm gần đây do mức độ tăng dân
số cùng với lượng khách du lịch tăng đã một phần làm cho môi trường đô thị bị ảnh
hưởng và có chiều hướng bị ô nhiễm. Đặc biệt chất thải rắn là một trong những yếu
tố quan trọng nhất tác động đến cảnh quan đô thị và môi trường sinh thái.
Theo như số liệu thống kê hiện nay, thành phố Đà Lạt có tổng cộng 168 con
đường chính và mạng lưới giao thông nội bộ thuộc 12 phường, xã với tổng số dân
vào khoảng 250 000 người. Lượng chất thải rắn sinh hoạt thải ra trong một ngày
tương đương 500m3 (200 - 225 tấn), nhưng chỉ thu gom được 70% (350m3), số rác
còn lại người dân đem chôn tự do và vất bỏ bừa bãi gây ảnh hưởng cảnh quan đô thị,
ô nhiễm môi trường. Lượng rác thải sau khi thu gom được đem đến bãi xử lý và
được chôn một cách uổng phí trong khi thành phần hữu cơ chiếm một tỷ lệ rất cao.
Ngoài ra, bãi xử lý lại không được thiết kế đúng quy cách gây tình trạng ô nhiễm môi
trường do nước rỉ rác và lượng khí mêtan sinh ra khá cao.
Người dân Đà Lạt sống bằng nghề nông là chủ yếu nhưng phân bón mà nông
dân ở đây sử dụng là phân cá (phân xác mắm) thay cho phân hữu cơ, việc sử dụng
loại phân này lúc đầu đem lại hiệu quả đáng kể về mặt kinh tế (cho năng suất, sản
lượng cao), nhưng bên cạnh đó cũng gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là làm cho đất
bị nhiễm mặn do nồng độ muối trong phân khá cao. Tương tự như vậy, phân hóa
học, đặc biệt là phân đạm cũng được bón với liều lượng cao. Lượng phân vô cơ sử
dụng trung bình trên 1ha cao hơn gấp 2 lần so với mức khuyến cáo, không những
Đà Lạt.
Tính toán quy trình công nghệ sản xuất phân Compost từ chất thải rắn sinh
hoạt tại thành phố Đà Lạt.
I.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỒ ÁN
Do tính chất đặc trưng của chất thải rắn tại Đà Lạt và hơn nữa mục tiêu của đề
tài đồ án là nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác thải sinh hoạt của
thành phố nên đồ án chỉ tập trung nghiên cứu trên rác thải sinh hoạt của thành phố
mà thôi.
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 2
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
I.5. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỒ ÁN
Chất thải rắn sinh hoạt, bao gồm cả rác vườn, phế phẩm nông nghiệp của
thành phố Đà Lạt.
I.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I.6.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là những nguyên tắc và cách thức hoạt động khoa
học nhằm đạt tới chân lý khách quan dựa trên cơ sở của sự chứng minh khoa học.
Theo định nghĩa này, cần phải có những nguyên tắc và phương pháp cụ thể, mà dựa
theo đó các vấn đề được giải quyết.
Nghiên cứu quy trình chế biến phân Compost từ rác thải sinh hoạt tại thành
phố Đà Lạt là nghiên cứu mối quan hệ từ nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đến
khâu xử lý cuối cùng. Từ đó đưa ra được phương pháp xử lý phù hợp nhất đối với
chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Đà Lạt.
I.6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phân tích chi phí, lợi ích trong công tác xử lý rác sinh hoạt bằng phương pháp
chế biến phân Compost.
I.6.2.4. Phương pháp mô hình hóa môi trường
Phương pháp này được sử dụng trong đồ án để dự báo dân số và tốc độ phát
sinh chất thải rắn trên địa bàn thành phố Đà lạt từ nay đến năm 2020 thông qua mô
hình sinh trưởng – phát triển (mô hình Euler cải tiến) trên cơ sở số liệu dân số hiện
tại và tốc độ tăng trưởng dân số.
Mô hình Euler cải tiến là mô hình mang tính toán học giúp tính toán, dự báo
trên một khoảng thời gian dài với công thức như sau :
Ni +1
= Ni + r t Ni + 1/ 2
Ni + 1/ 2 = 1 ( N i + 1 + Ni)
2
N i+ 1 = Ni + r t Ni
Trong đó :
r
: hệ số tăng trưởng cá thể (%).
: khoảng bước nhảy của thời gian, tùy chọn.
t
Ni +1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.1. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH
PHỐ ĐÀ LẠT
II.1.1. Nguồn gốc
Đà Lạt là một thành phố cao nguyên có khí hậu trong lành, mát mẻ quanh
năm, cùng với những thắng cảnh và kiến trúc độc đáo đã thu hút đông đảo khách du
lịch trong nước và nước ngoài. Trong vài năm trở lại đây, thành phố Đà Lạt đang
cùng cả nước tiến lên quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những thành tựu
đáng kể trong nhiều lĩnh vực. Khác với các đô thị lớn khác nền công nghiệp của Đà
Lạt chủ yếu là công nghiệp “không khói”, mũi nhọn là ngành du lịch.
Với khí hậu và đất đai rất thích hợp, Đà Lạt đã trở thành vùng chuyên canh
rau hoa rất đặc thù trong cả nước, quanh năm bốn mùa có thể trồng được nhiều loại
rau hoa cao cấp phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Xét về mặt môi trường mà cụ thể là chất thải rắn, Đà Lạt không phải hứng
chịu các loại rác thải công nghiệp như những đô thị lớn khác, tuy nhiên nó lại mang
đặc trưng của rác thải sinh hoạt, rác nông nghiệp và điển hình là rác thải từ ngành du
lịch, dịch vụ. Dự báo lượng rác này tăng nhanh vào những năm gần đây.
Chất thải rắn sinh hoạt của thành phố được phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau
:
Rác đường phố và nơi công cộng : Rác từ những khu vực này bao gồm lá cây,
rác sinh hoạt của hộ dân ném ra đường, rác do khách vãng lai và một phần bị rơi vãi
trong quá trình thu gom, vận chuyển.
Rác công sở : Là lượng rác phát sinh từ các cơ quan, xí nghiệp nhà nước hoặc
tư nhân, trường học, bệnh viện …
Rác chợ : Phát sinh từ hoạt động mua bán, vận chuyển hàng hóa, tại các quán
ăn uống trong chợ.
Rác từ các dịch vụ, khách sạn, nhà hàng : Lượng rác phát sinh từ sinh hoạt,
phục vụ ăn uống cho khách địa phương và khách vãng lai.
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
(%)
1
Giấy
15
3
1
5
2
Nilon
10
1
18
3
3
Kim loại
1
1.5
10
15
100
100
100
100
(Nguồn : Số liệu thực tế tại bãi rác trung tâm và Viện nghiên cứu nhiệt đới – Bảo vệ
môi trường phối hợp với công ty quản lý công trình đô thị 2003)
Bảng 2.2 : Thành phần rác thải sinh hoạt tại bãi xử lý sau khi đã phân loại.
STT
Thành phần rác thải
Tỷ lệ (%)
1
Chất thải hữu cơ
80
(Nguồn : Hội thảo chất thải rắn thành phố Đà Lạt {12-06-2006})
II.1.3. Tính chất
II.1.3.1. Hàm lượng hữu cơ
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 7
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
Thành phần hữu cơ trong chất thải rắn sinh hoạt của thành phố Đà Lạt trung
bình khoảng 80%. Thích hợp cho việc ủ phân Compost.
II.1.3.2. Tỷ trọng
Rác sinh hoạt của thành phố có tỷ trọng cao khoảng 400 – 450 kg/m3.
II.1.4. Thu gom, xử lý
II.1.4.1. Thu gom
Xuất phát từ tình hình rác thải của thành phố Đà Lạt hiện nay, cùng với công
tác phân loại chưa được thực hiện (tình trạng chung của các đô thị Việt Nam hiện
nay, kể cả đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh). Được sự ủy thác của Công ty
Quản lý công trình đô thị thành phố Đà lạt, đội Môi trường đô thị đã thành lập các tổ
chuyên trách làm nhiệm vụ thu gom, vận chuyển rác cũng như các vấn đề liên quan.
II.1.4.1.1. Tổ chức lao động
Cán bộ quản lí : 8 người.
Kế toán : 1 người.
Bảo vệ : 1 người.
Tổng số công nhân lao động gồm 223 người được chia làm các tổ :
Tổ 1 : 27 người (phụ trách phường I và II).
Tổ 2 : 30 công nhân (phụ trách phường II và III).
màu xanh lá mạ có dung tích khoảng 1m3 không có nắp đậy và những thùng
rác màu vàng, cam có nắp bên hông dùng cho xe nâng cập thùng. Ngoài ra
còn có các bô rác dân lập được đúc bằng bê tông đặt tại các khu dân cư,
những thùng rác màu nâu hình gốc cây hay hình chim cánh cụt được đặt nơi
công cộng, trên đường phố …
Xe thu gom : có 2 loại là :
Xe thô sơ : 15 chiếc xe đạp để công nhân nhặt rác bay vương vãi, lưu
động; 210 chiếc xe đẩy tay có dung tích 0.6 m3 – 1 m3, đối tượng lấy
rác là rác quyét đường, rác từ hộ dân, rác từ chợ, rác cơ quan, khách
sạn, …
Xe cơ giới : Xe ép chuyên dùng, đối tượng lấy rác là rác từ các hộ dân,
rác từ chợ, rác cơ quan, khách sạn, …
Ngoài ra còn có một số phương tiện khác phục vụ công tác thu gom cho đội.
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 9
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
II.1.4.1.3. Hoạt động của lực lượng thu gom
a) Quét các hè đường, lòng đường
Để thuận lợi cho việc thu gom rác, công ty đã chia quét lòng đường ra làm 4
cấp độ để đảm bảo vệ sinh cũng như chi phí mang lại hiệu quả cao nhất do tính chất
và số lượng rác của mỗi tuyến đường khác nhau. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi
cho công tác quản lí và tránh tình trạng tồn đọng rác trên đường phố.
Đối với đường cấp độ 1 : Đây là tuyến đường mà số lượng rác trong ngày rất
lớn, vì số lượng dân sống tập trung đông và số lượng xe chạy trong ngày rất
nhiều, do vậy công ty đã bố trí quét 4 lần trong ngày. Với một số tuyến đường
Khu vực phường IV : Với xe thu gom là loại xe 4 tấn, việc lấy rác luôn liên
tục từ 2 đến 3 lần trong ngày.
Khu vực phường V và phường VI : Xe thu gom là 2 xe 4 tấn, luôn đảm bảo
việc lấy rác từ 2 đến 3 lần trong ngày.
Khu vực phường VII : Xe thu gom là một xe IFA 5 tấn, luôn đảm bảo lấy rác
từ 1 đến 2 lần trong ngày.
Khu vực phường VIII : Xe thu gom là loại xe 4 tấn luôn đảm bảo thu gom rác
từ 1 đến 2 lần trong ngày.
Khu vực phường IX, X, XI, XII và xã xuân Trường : Chỉ có một xe thu gom
loại IFA, thu gom rác từ 1 đến 2 lần trong ngày.
Nhìn chung công tác thu gom và vận chuyển đã đảm bảo được việc lưu
chuyển hữu hiệu rác thải ra khỏi các khu vực đông dân cư, rác ngày nào cũng được
đưa đến nơi xử lý hết ngày đó.
Sơ đồ hệ thống thu gom :
NGUỒN PHÁT
SINH RÁC
XE THU GOM
RÁC
CÁC CHỢ NHỎ
Xe ép rác
ĐIỂM HẸN
Xe ép rác
BÃI XỬ LÝ
Hình 2.1 : Sơ đồ hệ thống thu gom chất thải rắn sinh hoạt.
II.1.4.2. Xử lý
là CO2 và một số loại khí khác như N2 và O2. Sự có mặt của khí CO2 trong bãi tạo
điều kiện cho vi sinh vật kỵ khí phát triển và từ đó bắt đầu hình thành khí CH4. Hai
thành phần chủ yếu của khí gas là CH4 và CO2, chiếm tỷ lệ cao.
Khi quá trình phân hủy kỵ khí rác xảy ra hoàn toàn sẽ sinh ra khí Mêtan và
Cacbonic và một số khí khác gây độc hại cho môi trường. Phản ứng phân hủy kỵ khí
chất thải rắn xảy ra như sau :
Chất hữu cơ (rác) + H2O
sinh vat
vi
Chất hữu cơ đã bị phân hủy
+ CH4 + CO2 + khí khác.
Khí CH4 có thể gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường không khí, làm ngạt thở đối
với người, động vật ở bãi chôn lấp và các khu vực xung quanh.
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 12
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
Gốc sulfate có trong rác trong điều kiện kỵ khí có thể bị khử thành sulfide, sau
đó sulfide tiếp tục kết hợp với ion H+ để tạo thành Hydrosulfur, một chất có mùi hôi
khó chịu. Quá trình được diễn ra theo phương trình sau :
2 CH3 CHCOOH + SO42S2- + 2 H+
CH4
0–3
5.2
88
5
3–6
3.8
76
21
6 – 12
0.4
65
29
12 – 18
1.1
0.9
50
47
42 – 48
0.4
51
48
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 13
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
( Nguồn : Handbook of Solid waste Management, 1994)
Thành phần và tính chất khí sinh ra từ bãi chôn lấp
Bảng 2.4 : Thành phần, tính chất khí sinh ra trong bãi chôn lấp chất thải rắn
sinh hoạt.
Thành phần
% (Thể tích khô)
Các khí khác
Tính chất
Nhiệ độ (0F)
Tỷ trọng
0.01 – 0.6
Giá trị
100 – 120
1.02 – 1.06
(Nguồn : Tài liệu Quản lý kỹ thuật của Đội Môi trường Đô thị tp. Đà Lạt)
II.1.5.2. Đối với môi trường đất
Những thành phần rác khó phân hủy, không tái sử dụng được như kim loại
nặng, sơn, sành sứ được chôn lấp ở bãi rác sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi
trường đất ở khu vực gần bãi chôn lấp nhất là khi có nhu cầu sử dụng vùng đất này
phục vụ cho nông nghiệp.
Đối với môi trường đất, vi sinh vật giữ vai trò cực kỳ quan trọng không thể
thiếu được trong chu trình chuyển hóa vật chất và tạo nên độ phì nhiêu cho đất. Kim
loại nặng được coi là yếu tố cần thiết cho cây trồng nhưng với nồng độ vượt quá nhu
cầu của vi sinh vật đất thì nó trở thành chất gây ô nhiễm môi trường đất.
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 14
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
Chất thải rắn khi được thải vào môi trường đất sẽ làm phá hủy cấu trúc của hệ
keo trong đất dẫn đến việc giữ nước, giữ chất dinh dưỡng trong đất giảm.
– 120 m3/ngày, có chứa nồng độ các chất ô nhiễm khá cao.
Trong rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng trong giai đoạn
lên men axit sẽ cao hơn so với giai đoạn lên men mêtan. Đó là do các axit béo, các
hợp chất Hydroxyl vòng thơm, Axit Humic và Axit Fulvic mới hình thành tác dụng
với kim loai tạo thành phức kim loại. Hoạt động của các vi khuẩn kỵ khí khử Fe3+
thành Fe2+ sẽ kéo theo sự hòa tan của các kim loại khác. Ngoài ra, trong nước rỉ rác
có thể chứa các hợp chất hữu cơ độc hại như các chất hữu cơ bị Halogen hóa, các
Hydrocarbon đa vòng thơm … chúng có thể gây đột biến gen, gây ung thư. Các chất
này sẽ thấm vào trong các nguồn nước ngầm, nước mặt gần đó, sẽ xâm nhập vào
chuỗi thức ăn, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng.
Thành phần, tính chất nước rỉ rác
Thời gian chôn lấp, khí hậu, mùa, độ ẩm của bãi rác, mức độ pha loãng của
nước mặt, nước ngầm và các loại rác đem chôn lấp đều có tác động rất lớn đến thành
phần và tính chất nước rỉ rác. Nước rỉ rác thường có nồng độ ô nhiễm rất cao (gấp 20
– 30 lần nước thải thông thường), nồng độ các chất ô nhiễm sẽ giảm dần theo thời
gian, từ khoảng năm thứ 3 trở đi nồng độ các chất ô nhiễm trong nước rỉ rác giảm đi
rất nhiều.
Bảng 2.5 : Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất nước rác từ các bãi
mới và lâu năm.
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 16
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
Thành phần
STT
80 – 160
3
COD
3 000 – 60 000
18 000
100 – 500
4
TSS
200 – 2 000
500
100 – 400
5
Nitơ hữu cơ
10 – 800
200
5 – 10
9
Othophotpho
4 – 80
20
4–8
10
Độ kiềm theo CaCO3
11
pH
4.5 – 7.5
12
Ca
13
1 000 – 10 000
20 – 200
15
Sunfat
50 – 1 000
300
20 – 50
(Nguồn : Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường)
II.1.5.4. Đối với cảnh quan và sức khỏe cộng đồng
Rác vứt bừa bãi tại những nơi công cộng, hồ, suối, trên đồng cỏ, hoặc những
điểm thắng cảnh gây cản trở dòng chảy, giảm khả năng thoát nước, mất mỹ quan
thành phố.
Thành phần chất thải rắn phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ người,
động vật, các chất thải hữu cơ, xác súc vật chết … tạo điều kiện tốt cho ruồi, muỗi,
chuột sinh sản và lây lan mầm bệnh cho con người và vật nuôi, nếu không kiểm soát
được có thể trở thành dịch. Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, kí sinh trùng tồn tại trong
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 17
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
rác có thể gây bệnh cho con người như bệnh sốt rét, dịch hạch, thương hàn, lao, giun
văn minh
thông
Tác động xấu
Hạn chế
Mất vẻ
kết quả
đến ngành du
sản xuất
đẹp đô
lịch văn hóa
kinhtác động của việc xử lý chất thải rắn không hợp lý.
Hình 2.2 : Sơ đồ các
thị
doanh
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 18
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
II.2. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT PHÂN
COMPOST TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
II.2.1. Tổng quan về công nghệ sản xuất phân Compost
II.2.1.1. Định nghĩa
Quá trình chế biến Compost : là quá trình phân hủy sinh học và ổn định của
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
Nhiệt độ tối ưu là 50 – 600 C, thích hợp với vi khuẩn Thermophilic và tốc độ
phân hủy rác là cao nhất. Nhiệt độ trên ngưỡng này sẽ ức chế hoạt động của vi sinh
vật làm cho quá trình phân hủy diễn ra không thuận lợi, còn nhiệt độ thấp hơn
ngưỡng này phân Compost sẽ không đạt tiêu chuẩn về mầm bệnh.
Bảng 2.6 : Khoảng nhiệt độ của các nhóm vi sinh vật.
Nhiệt độ (0C)
Loại vi sinh vật
Khoảng dao động
Tối ưu
Psychrophillic (VSV ưa lạnh)
10 - 30
15
Mesophilic (VSV ưa ấm)
40 – 50
35
Thermophilic (VSV ưa nhiệt)
45 - 75
khối Compost.
II.2.1.2.4. Chất hữu cơ
Tốc độ phân hủy tùy thuộc vào thành phần và tính chất của chất hữu cơ. Chất
hữu cơ hòa tan dễ dàng phân hủy hơn chất hũu cơ không hòa tan. Lignin và Ligno –
Celluloses là những chất phân hủy rất chậm.
II.2.1.2.5. Vi sinh vật
Không có gì có lợi bằng sự tham gia của vi sinh vật đối với việc chế biến phân
Compost từ rác hữu cơ. Trong quá trình chế biến có sự tham gia của nhiều loại vi
sinh vật khác nhau như nấm, vi khuẩn, khuẩn tia (Actinomycetes) đôi khi còn có tảo
…
Hầu hết hoạt động của vi sinh trong quá trình chế biến Compost có đến 80 –
90% là do vi khuẩn.
Một trong những yêu cầu sản xuất Compost là phải hạn chế đến mức tối đa
các loài vi sinh vật gây hại có trong sản phẩm, do đó để đảm bảo tiêu chuẩn tiêu diệt
mầm bệnh, trong lúc vận hành chế biến Compost cần đảm bảo nhiệt độ để có thể tiêu
diệt hết mầm bệnh.
II.2.1.2.6. Làm thoáng
Không khí ở môi trường xung quanh được cung cấp tới khối Compost để vi
sinh vật sử dụng cho sự phân hủy chất hữu cơ, cũng như làm bay hơi nước và giải
phóng nhiệt. Nếu không được cung cấp khí đầy đủ thì sẽ tạo thành những vùng kị khí
bên trong khối Compost gây mùi hôi.
Để cung cấp không khí cho khối Compost có thể thực hiện được bằng cách
đảo trộn và thổi khí.
Thông thường áp lực tĩnh cần tạo ra để đẩy không khí qua chiều sâu 2 – 2.5m
vật liệu ủ là 0.1 – 0.15m cột nước. Áp lực đó chỉ cần quạt gió là đủ chứ không cần
máy nén. Ngoài ra các cửa sổ của hầm ủ cũng sẽ đủ cho làm thoáng, chỉ cần đảo cửa
sổ mỗi ngày một lần hoặc nhiều ngày một lần.
Đảo trộn liên tục sẽ đạt mức phân giải tối ưu trong vòng 10 – 14 ngày. Nên
đảo trộn một lần một ngày hoặc nhiều lần một ngày.
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
II.2.1.2.9. Độ xốp
Là yếu tố quan trọng trong quá trình chế biến Compost. Độ xốp thay đổi tùy
theo thành phần của chất thải rắn.
Vật liệu có độ xốp 35 – 60% là có thể chế biến Compost một cách thành công.
Độ xốp thấp sẽ hạn chế sự vận chuyển Oxi nên hạn chế giải phóng nhiệt và làm tăng
nhiệt độ trong khối ủ Compost. Còn độ xốp cao có thể làm cho nhiệt độ trong khối ủ
Compost thấp, không đảm bảo tiêu diệt hết mầm bệnh.
II.2.1.2.10. Mức độ và tốc độ ủ
Không nên để quá trình lên men diễn ra quá lâu vì sẽ còn ít chất hữu cơ là
những chất làm giàu cho đất.
Quá trình ủ không được quá nhiệt, không nên để mất Nitơ, không nên quá
lạnh.
Việc giảm lượng chất hữu cơ là một chỉ thị tốt để đánh giá mức độ ủ, và mức
độ phân hủy, tốc độ ủ có thể đo bằng tốc độ tiêu thụ Oxi.
II.2.1.3. Chất lượng Compost
Chất lượng Compost được đánh giá dựa trên 4 yếu tố sau :
Mức độ lẫn tạp chất (thủy tinh, plastic, đá, kim loại nặng, chất thải hóa học,
thuốc trừ sâu …)
Nồng độ các chất dinh dưỡng (dinh dưỡng đa lượng N, P, K; dinh dưỡng
trung lượng Ca, Mg, S; dinh dưỡng vi lượng Fe, Zn, Cu, Mn, Mo, Co, Bo …)
Mật độ vi sinh vật gây bệnh (thấp ở mức không ảnh hưởng có hại tới cây
trồng).
Độ ổn định (độ chín, hoai) và hàm lượng chất hữu cơ.
II.2.1.4. Lợi ích và hạn chế của quá trình chế biến Compost
II.2.1.4.1. Lợi ích
Là phương án được lựa chọn để bảo tồn nguồn nước và năng lượng.
Kéo dài tuổi thọ cho các bãi chôn lấp.
Ổn định chất thải : Các phản ứng sinh học xảy ra trong quá trình chế biến
Compost sẽ chuyển hóa các chất hữu cơ dễ thối rửa sang dạng ổn định, chủ
Hàm lượng chất dinh dưỡng trong Compost không thoả mãn yêu cầu.
Do đặc tính của chất thải hữu cơ có thể thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào thời
gian, khí hậu và phương pháp chế biến phân, dẫn đến tính chất của sản phẩm
cũng khác nhau. Bản chất của vật liệu làm Compost thường làm cho sự phân
bố nhiệt độ trong khối phân không đồng đều, do đó khả năng làm mất hoạt
tính của vi sinh vật gây bệnh trong sản phẩm Compost cũng không hoàn toàn.
Quá trình sản xuất Compost tạo mùi khó chịu nếu không thực hiện quy trình
chế biến đúng cách.
SVTH : Cao Nguyễn Thị Thanh Thy
Trang 24
Nghin cứu quy trình chế biến phn Compost từ rc sinh hoạt tại thnh phố Đ L ạt
Hầu hết các nhà nông vẫn thích sử dụng phân hóa học vì không quá đắt tiền,
dễ sử dụng và tăng năng suất cây trồng một cách rõ ràng.
II.2.2. Tình hình sản xuất phân Compost trong nước và trên thế giới
II.2.2.1. Trên thế giới
Tại Châu Âu và Châu Mỹ, công nghệ Compost hiện đang được triển khai
tương đối rộng và phân Compost đang được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Năm 2001, tại châu Âu có 16.9 triệu tấn trong số 49 triệu tấn rác hữu cơ được
xử lý sinh học với đa phần là sản xuất Compost. Trong đó cao nhất là Cộng Hòa Liên
Bang Đức đã xử lý 7 triệu tấn trong số 9 triệu tấn tổng số (78%). Riêng Hà Lan toàn
bộ 3.2 triệu tấn đã được xử lý.
Tình hình áp dụng chế biến Compost để xử lý rác sinh hoạt tại Châu Âu có thể
xếp hạng như sau :
Hạng 1 : Áo, Bỉ, CHLB Đức, Luxemburg, Thụy Điển, Thụy Sỹ.
Hạng 2 : Anh, Đan Mạch và Na uy.
Hạng 3 : Hà Lan, Pháp.