1
Phần 1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Bệnh tiểu đường hiện đang là một thách thức lớn đối với vấn đề sức khỏe
cộng đồng. Mỗi năm có thêm hàng triệu người mắc bệnh tiểu đường. Theo tổ
chức y tế thế giới (WHO), tỉ lệ mắc bệnh tiểu đường ở Châu Á 10 - 12%, ở các
quốc đảo Thái Bình Dương là 30 - 40%. Đây là căn bệnh có thể gây ra khủng
hoảng y tế thế giới trong thế kỷ 21, và nó có thể giảm tuổi thọ của người dân
trong vòng 200 năm tới. Ước tính tới năm 2025 thế giới có 333 triệu người mắc
bệnh chiếm 6% dân số. Tỉ lệ tăng lên ở các nước phát triển là 40%, còn ở các
nước đang phát triển là 70%[2]. Ở nước ta có khoảng 2 - 2,5 triệu người mắc lệ
mắc bệnh tiểu đường. Trong đó ước đoán có tới 1,3 triệu người ở độ tuổi dưới
30 - đây là điều đáng lo ngại. Theo số liệu điều tra mới nhất tại 4 thành phố lớn
Hà Nội, Huế, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỉ lệ người mắc bệnh tiểu đường là 7-8%
trong khi đó tỉ lệ mắc bệnh tiểu đường ở lứa tuổi 30 - 64 là 4,2% [2].
Trước thực trạng trên có nhiều tổ chức và cá nhân tham gia nghiên cứu để
tìm ra thuốc điều trị căn bệnh nguy hiểm này. Đã có nhiều loại thuốc hóa dược
được nghiên cứu thành công, và có hiệu quả điều trị cao, nhưng khi sử dụng lâu
dài lại mang tới nhiều bất lợi với cơ thể, vì vậy việc nghiên cứu các loại thuốc có
nguồn gốc thiên nhiên có hệ số an toàn cao hơn khi điều trị lâu dài là xu hướng
tất yếu. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc
trong lá dâu tằm có hợp chất alkaloit tên gọi là 1 – deoxynojimycin (DNJ) cấu
tạo tương tự như D - Glucoza có khả năng ức chế các ezim trong hệ tiêu hóa như
α - amylaza làm thay đổi sự trao đổi glucoza cũng như tình trạng đường máu
cao. Cho đến nay, lá dâu tằm là nguồn thực vật duy nhất phát hiện có chứa DNJ
- hoạt chất có vai trò quan trọng trong việc hạ đường huyết. Do đó việc nghiên
cứu chế biến các sản phẩm giàu DNJ từ lá dâu để phục vụ cho việc phòng chống
bệnh tiểu đường đang được quan tâm đặc biệt ở các quốc gia Châu Á nơi có diện
tích trồng dâu tằm lớn.
2
Chi: Morus
Loài: Alba
Hình2.1. Cây dâu tằm
Cây dâu có tên chung là Mulberry, mọc ở nhiều nơi trên thế giới, và được
phân chia thành ba loài lớn.
- Morus alba L. (dâu trắng): Mọc chủ yếu ở châu Á, quả màu trắng hoặc
đỏ, lá được sử dụng để chăn nuôi tằm.
- Morus rubra L. (dâu đỏ): Mọc ở vùng Bắc Mỹ, quả có màu đỏ tía.
- Morus nigra L. (dâu đen): Mọc chủ yếu ở châu Âu, quả có màu đen.
Cây dâu có tốc độ sinh trưởng nhanh vừa sống ở vùng ôn đới vừa sống ở
vùng nhiệt đới. Chúng có thể cao từ 10 – 15m, lá mọc so le hình bầu dục, hình
tim hay chia thùy. Đầu lá nhọn phần cuống lá bầu mép lá có hình răng cưa, quả
có thể ăn được.
4
Theo FAO trên thế giới hiện có khoảng 30 nước trồng cây dâu tằm, chủ
yếu là các nước thuộc Châu Á (chiếm 60%), trong đó Trung Quốc chiếm gần
60% lượng dâu được sản xuất, Hồ Bắc là một trong những vùng trồng dâu lớn ở
Trung Quốc với trên 23.000 ha.
Ở Việt Nam, hiện nay (tại thời điểm 5/2010) nước ta có 31 tỉnh tham gia sản xuất
dâu tằm với tổng diện tích dâu là 17.653ha, chiếm 0,17% diện tích đất nông nghiệp.
2.1.1.2. Một số giống dâu chính được trồng ở Việt Nam
Nước ta có khoảng 165 giống dâu, bao gồm cả dâu địa phương, giống mới
lai tạo trong nước và giống nhập nội, đang được trồng khắp nơi trên cả nước,
nhưng qua lựa chọn hiện nay phổ biến trồng các giống dâu sau:
a) Giống dâu Hà Bắc
Thu thập được ở Hà Bắc, hiện nay được trồng nhiều ở Hưng Hà, Vũ Thư –
Thái Bình, giống gốc được lưu giữ ở trung tâm giống dâu tằm Việt Hùng. Thời
gian sinh trưởng 280 - 290 ngày. Lá có hình tim tròn, kích thước 15x11cm, màu
xanh nhạt, ít cành tăm, cho năng xuất cao vào vụ xuân và vụ hè. Năng suất trung
cũng có nguy cơ thu nhỏ dần do người dân không không thể duy trì thu nhập ổn
định từ nghề này nhưng với chiến lược phát triển của nhà nước những năm gần
đây và những năm tới trong đó có định hướng thúc đẩy sự phát triển ngành dâu
tằm tơ thì trong tương lai sản lượng lá dâu tằm của Vịêt Nam sẽ rất dồi dào.
Theo số liệu thống kê năm 2008 của Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn thì có thể thấy là cây dâu tằm được trồng trên hầu khắp các miền
của đất nước ta, từ miền Bắc, miền Trung đến miền Nam, trong đó sản lượng tập
trung chủ yếu tại miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên với diện tích trên 16
nghìn ha.
6
Bảng 2.1. Diện tích dâu tằm chia theo vùng sinh thái
(Tính đến tháng 12 năm 2008)
TT Vùng Sinh thái Diện tích dâu (ha) Tỷ lệ (%)
I Đồng bằng sông Hồng 4.597 26,04
II Đông Bắc 726 4,11
III Tây Bắc 386 2,19
IV Bắc Trung Bộ 2.999 16,99
V Duyên Hải Nam Trung Bộ 1.388 7,86
VI Tây Nguyên 7.137 40,43
VII Đông Nam Bộ 410 2,32
VIII Đồng bằng sông Cửu Long 10 0,06
Tổng cộng 17.653 100,00
(Nguồn : Tổng cục thống kê; Sở nông nghiệp và PTNT các tỉnh)
Qua bảng chúng ta nhận thấy cây dâu tằm được trồng khắp nơi trên cả
nước, tuy nhiên có 4 vùng trồng dâu tập trung là : Đồng bằng Sông Hồng, Bắc
Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên. Trong đó Tây nguyên là
vùng sản xuất tập trung lớn nhất cả nước với 7.137ha chiếm 40,43% diện tích.
lá khô), chất xơ thực phẩm chiếm 52,9% trong đó xơ hòa tan là 7,9%. Nó rất
giàu canxi, kali, photpho, ngoài ra còn gồm các kim loại ở nồng độ vết như kẽm,
đồng, boron, mangan, magie, sắt.
2.1.3.6. Các chất có hoạt tính sinh học
Trong lá dâu còn chứa nhiều chất alkaloid, đặc biệt quan trọng trong số đó
là DNJ (1-deoxynojirimycin).
8
Bảng 2. 2. Thành phần hóa học chính của lá dâu (% chất khô)
Thành phần Hàm lượng
Protein (%) 32,8
Chất béo (%) 2,56
Chất xơ (%) 52,9
Đường hòa tan (%) 9,6
Nhóm amino axit (mg/100g) 20,96
Vitamin B1 (mg/100g) 0,59
Caroten (mg/100g) 7,4
Chlorophyl (%) 0,01
Alkaloid (%) 0,42
Amyloza (%) 1,86
Sterol (%) 0,05
DNJ (%) 0,1
Fkavibe (%) 3,3
2.1.4. Alkaloid trong lá dâu tằm
2.1.4.1. Khái niệm
Alkaloid là những hợp chất hữu cơ có chứa dị vòng nitơ, có tính bazơ. Đặc
biệt, alkaloid có hoạt tính sinh lý rất cao đối với cơ thể con người và động vật,
nhất là đối với hệ thần kinh. Với một lượng nhỏ có alkaloid là chất độc gây chết
người nhưng lại có khi nó là thần dược trị bệnh đặc hiệu.
2.1.4.2. Tính chất của alkaloid
: 3 – 7 (alkaloid trong họ
cà, thuốc phiện).
+ Alkaloid có độ kiềm yếu thì giá trị pK
B
: 7-10 (alkaloid trong vỏ
canhkina).
+ Alkaloid có độ kiềm rất yếu thì giá trị pK
B
: 10-12 (alkaloid có nhân
purin).
10
Bên cạnh đó cũng có alkaloid không có tính kiềm như: Ricinin, colchicin,
theobromin.
- Tác dụng với acid thường tạo muối tan trong nước và kết tinh.
Khi ở dạng muối, các alkaloid bền vững hơn và không bị phân huỷ hoặc
chuyển màu trong quá trình bảo quản. Người ta sử dụng tính chất tạo muối của
các alkaloid để chiết suất, tinh chế alkaloid. Các muối alkaloid được bào chế
thành các dạng viên nén, viên nang, thuốc tiêm để làm thuốc và bảo quản lâu
hơn.
- Các alkaloid kết hợp với kim loại nặng (Hg, Bi, Pb…) tạo ra các nuối phức.
- Các alkaloid có phản ứng tương tự nhau như đối với một số thuốc thử, gọi
tên chung là các thuốc thử alkaloid. Những phản ứng này được chia làm 2 loại:
+ Phản ứng tạo màu.
+ Phản ứng tạo tủa.
2.1.4.3. Các alkaloid có trong lá dâu tằm
Trong thành phần hoá học của lá dâu tằm có chứa một lượng lớn các chất
alkaloid, chiếm hàm lượng khoảng 0,52%. Trong đó bao gồm rất nhiều các hợp
chất alkaloid khác nhau như:
Bảng 2.3. Thành phần các chất alkaloid có trong lá dâu tằm
STT Hợp chất alkaloid HL trong lá dâu (%)
amylaza tiêu hóa. Hợp chất này có cấu tạo tương tự như phân tử D- glucoza với
một nhóm NH thay thế cho nhân oxy của vòng pyranoza. Hình 2.2. Cấu trúc hóa học của hợp chất DNJ
12
Hợp chất DNJ tự nhiên lần đầu tiên được phân lập từ lá dâu vào năm 1976.
Chất DNJ có nguồn gốc tự nhiên này đã thúc đẩy ý tưởng rằng chế độ ăn có
DNJ của lá dâu có thể có tác dụng làm giảm sự cao bất thường của đường máu
và do đó ngăn ngừa bệnh này.
2.1.5.2. Tác dụng và cơ chế làm giảm đường huyết của DNJ
Hoạt chất 1- deoxynojirimycin (DNJ) trong thành phần lá dâu tằm là một
chất ức chế mạnh hoạt động của enzym α- glucosamindaza, ngăn ngừa phản ứng
xúc tác của α- glucosehydrolaza, do vậy ngăn cản hoạt động và ức chế sự phân
giải tinh bột trong thực phẩm thành đường đơn là glucoza và fructoza....Do đó,
nó ngăn cản quá trình tạo glucose tại thành ruột và gan, từ đó làm giảm lượng
glucose đi vào máu, ức chế sự tăng lên nhanh của đường máu ngay sau khi ăn.
Glucosaminidaza tham gia nhiều quá trình sinh học khác nhau, cụ thể là
phản ứng phân giải cacbohydrat và sinh tổng hợp glycoprotein. DNJ có tác dụng
vô hoạt enzym
-glucosehydrolaza trong tất cả các động vật có vú. Các kết quả
nghiên cứu cũng cho thấy rằng DNJ có khả năng năng làm giảm đường trong
máu bằng cách làm giảm khả năng tiêu hóa cacbonhydrat và hấp thụ glucoza.
DNJ cũng liên kết với α- glycosidaza của maltaza, sucaraza và lactaza trong ruột
non, do đó ngăn chặn quá trình chuyển hóa cơ chất thành đường đơn giản và sự
hấp thụ đường vào máu, do vậy hạn chế sự tăng đường máu đột ngột.
Cho đến nay, lá dâu tằm là một trong những nguồn thực vật được phát hiện
có chứa DNJ khá cao . Bên cạnh đó, trong thành phần cao dâu tằm còn chứa
dâu có tác dụng làm giảm mỡ máu, cân bằng huyết áp, làm giảm lượng đường
máu và tăng cường quá trình trao đổi chất, ngăn ngừa quá trình lão hóa và tăng
cường sinh lực.
Trong những nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học đã công bố các công
trình nghiên cứu về thành phần, chức năng và cơ chế hoạt động của các thành
phần trong lá dâu. Theo các kết quả đó, họ đã nhận thấy rằng lá dâu chứa một
14
lượng lớn các thành phần dinh dưỡng và các chất có hoạt tính sinh học, nhất là
hoạt chất có khả năng làm giảm lượng đường máu, huyết áp, mỡ máu và duy trì
lão hóa. Đặc biệt trong số đó là hoạt chất DNJ – một alkaloid mà trong các loài
thực vật và động vật khác không có, nó có chức năng chế ngự sự tăng đường
máu và phòng ngừa bệnh tiểu đường.
Bảng 2.4. Thành phần dược tính của lá dâu
Các chất có dược tính Chất chính Tác dụng tốt cho sức khỏe
Alkaloid DNJ Giảm đường máu
Steroid
- -sitosterol
- stigmasterol
Giảm mỡ máu
Axit -amino
Butyric (GABA)
Axit -amino
Butyric (GABA)
Giảm huyết áp
Nhóm izoflavon - Izoquercitrin
- quercitrin
Chống oxy hóa và lão hóa
2.2. Các phương pháp tách chiết các hợp chất alkakoid trong lá dâu
Như đã nêu ở phần trên, trong số các alkaloid của lá dâu tằm thì hợp chất
Một số phương pháp trích ly cụ thể:
Phương pháp ngâm trong dung môi: Nguyên liệu được nghiền nhỏ tới kích
thước thích hợp và dung môi vào một bình kín để ở nhiệt độ phòng. Ngâm trong thời
gian nhất định, Sau đó gạn, ép bã lấy dịch chiết. Để lắng ở nơi mát để loại tạp chất lơ
lửng, rồi lọc lấy dịch trong. Có thể ngâm đơn giản hoặc ngâm phân đoạn.
- Ngâm đơn giản: Ngâm một lần với toàn bộ lượng dung môi
- Ngâm phân đoạn: Chia dung môi làm nhiều phần ngâm với nguyên liệu,
sau đó tiến hành gạn ép như trên rồi tập hợp dịch chiết lại. Ngâm phân đoạn hiệu
xuất thu hồi cao hơn tuy nhiên tốn nhiều thời gian.
16
Phương pháp ngấm kiệt: Đây là phương pháp chiết xuất bằng cách cho
dung môi chảy rất chậm qua khối nguyên liệu đựng trong một dụng cụ đặc biệt
gọi là bình ngấm kiệt. Quá trình chiết xuất không có khuấy trộn. Trong phương
pháp này nguyên liệu cần khô và có độ mịn thích hợp. Sau đó làm ẩm nguyên
liệu bằng cách cho chúng hút ẩm từ dung môi để đuổi hết không khí trong
nguyên liệu. Nguyên liệu sau hút ẩm được cho vào bình dàn đều sau đó khoá
bình rồi rót dung môi ngập nguyên liệu, để ngâm trong khoảng thời gian nhất
định. Mở khoá cho dịch chiết chảy từng giọt vào bình hứng. Chú ý để dung môi
ngập nguyên liệu 2 – 3 cm.
2.2.2. Chọn dung môi chiết xuất lá dâu
Các alkaloid có thể được chiết suất từ nguyên liệu dưới dạng muối hoặc
dạng bazơ. Trong đó chiết xuất alkaloid từ nguyên liệu dưới dạng muối sử dụng
các dung dịch axit hoặc các dung môi phân cực đã axit hoá, còn chiết xuất
alkaloid từ nguyên liệu dưới dạng bazơ sử dụng các dung môi hữu cơ sau khi đã
kiềm hoá nguyên liệu.
Có thể sử dụng một trong ba phương pháp sau đây để chiết xuất alkaloid từ
nguyên liệu và loại bớt những tạp chất:
* Chiết xuất alkaloid bằng dung môi hữu cơ ở môi trường kiềm
Gồm có hai bước:
Bước 1 – Chiết xuất: Trước khi chiết xuất tiến hành kiềm hoá nguyên liệu
Bước 1 – Chiết xuất: Tiến hành chiết xuất alkaloid bằng cồn. Thu hồi dung
môi, được cao cồn toàn phần.
Bước 2 – tinh chế: Chiết alkaloid từ cồn toàn phần bằng dung dịch axit
loãngit loãng, lọc bỏ tủa, kiềm hoá dịch chiết axit. Để lắng tủa alkaloid, lọc, thu
được alkaloid toàn phần. Tiếp tục tinh chế bằng phương pháp kết tinh.
Phương pháp này cũng được áp dụng trong sản xuất (tuỳ theo loại nguyên
liệu) nhưng ít hơn phương pháp trên vì dung cồn trung tính thường kéo theo
nhiều tạp chất, khó khăn cho việc tinh chế sau này.
18
2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ các loại thực phẩm chức năng chữa bệnh
tiểu đường trên thế giới và Việt Nam hiện nay
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ các loại thực phẩm chức năng chữa
bệnh tiểu đường trên thế giới
Bệnh tiểu đường là một bệnh nguy hiểm, làm tăng nguy cơ mắc các chứng
bệnh về tim, thận, thần kinh, mù lòa, vết thương chậm lành, dễ nhiễm bệnh.... Số
người mắc bệnh tiểu đường trên toàn cầu đang ngày càng gia tăng. Hiện nay,
thuốc điều trị bệnh tiểu đường tăng nhanh về số lượng, chủng loại và nhằm mục
tiêu khống chế sự tăng nồng độ glucose máu; phòng ngừa và điều chỉnh các rối
loạn lipid, hoạt động của gốc tự do, từ đó có thể kiểm soát tốt mức glucose máu và
ngăn ngừa, hạn chế các biến chứng có thể xuất hiện ở bệnh lý tăng glucose máu.
Trên thị trường hiện có rất nhiều loại thực phẩm chức năng phòng ngừa
bệnh tiểu đường và đã sàng lọc được nhiều loài dược liệu có tác dụng rất tốt với
căn bệnh này, nhất là tiểu đường Týp II như cây tri mẫu, nhàu, móng châu,
mướp đắng, bằng lăng nước…
Trên thị trường thế giới hiện nay, đã có một số sản phẩm chức năng được
làm từ lá dâu tằm dùng cho người bị bệnh tiểu đường. Tại Trung Quốc, Nhật
Bản, các công ty như Mori, Nangtong Sihai Plant Extract Co.Ltd đã đưa ra thị
trường một số sản phẩm chức năng được làm từ lá dâu tằm như trà dâu, mỳ lá
dâu, bánh ngọt lá dâu...có tác dụng phòng và chữa bệnh tiểu đường. Các sản
phẩm này đang được người dân ưa chuộng.
sinh địa, thiên hoa phấn và các phụ liệu vừa đủ. Thuốc có tác dụng tăng cường
bồi bổ, phục hồi chức năng các cơ quan gan, thận, tuyến tụy do đó có tác dụng
trong hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường.
2.3.2.6. Ayubes (Công ty Phú Hải)
Thành phần bao gồm các loại dược thảo sau: cao lá dây thìa canh, cao vỏ
quả mướp đắng, cao cây xuyên tâm liên, cao lá trái mấm, cao hạt vối rừng, cao
lá cây sầu đâu, cao củ hương phụ (củ gấu).
20
Hình 2.3. Một số sản phẩm cho người bệnh tiểu đường
2.4. Tình hình nghiên cứu lâm sàng về tác dụng của chất chiết lá dâu đối với
sự giảm đường huyết
2.4.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Từ xa xưa người Trung Quốc đã sử dụng lá cây dâu tằm trong các bài
thuốc chữa trị và ngăn ngừa bệnh tiểu đường, tuy nhiên chưa có sự đề cập nào
tới các thành phần có tác dụng mà hoàn toàn dựa theo kinh nghiệm.[17]
Trong những năm gần đây, từ các công trình chuyên sâu, các nhà khoa học
Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ công bố về thành phần, dược tính và cơ chế hoạt
động của các thành phần chức năng có trong lá dâu tằm. Các kết quả nghiên cứu
đã cho thấy trong lá dâu chứa một lượng lớn các thành phần dinh dưỡng và các
chất có hoạt tính sinh học, nhất là các hoạt chất có khả năng làm giảm lượng
đường máu, huyết áp, mỡ máu và trì hoãn quá trình lão hóa. Đặc biệt là hợp chất
DNJ - đây là chất có chức năng chế ngự sự tăng đường máu và phòng ngừa bệnh
tiểu đường.
21
Năm 1976, lần đầu tiên DNJ được tách từ rễ và lá của cây dâu bởi Yagi và
dụng thực vật thiên nhiên, trường đại học Y Phương Nam (tên cũ Đại học Y khoa
Quân đội số 1- Trung Quốc) đã đánh giá tác dụng của sản phẩm trên người. Kết
quả là với liều lượng 20ml/người/ngày, dùng đều đặn trong 3 tháng, còn 3 tháng
sau đó thì tùy theo biểu đồ máu của người dùng thì cho thấy hiệu quả rõ rệt, mức
độ đường máu của bệnh nhân trở về mức bình thường là 50,88%.
Các nghiên cứu trên người này đã cho thấy rằng loại bột chiết giàu DNJ tách
chiết được từ lá dâu có tác dụng làm hạ thấp lượng đường máu, do đó loại sản
phẩm này có thể sử dụng trong việc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường hệ không phụ
thuộc insulin (tiểu đường tuýp 2).
2.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam chưa có các nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề tách
chiết hợp chất DNJ từ lá dâu tằm và dùng để sản xuất các thực phẩm chức năng.
Năm 2007, Viện Công nghiệp thực phẩm (chủ trì là TS.Đặng Hồng Ánh) đã
thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất bột lá dâu tằm giầu 1-
deoxynojirimycin” [6], do thời gian thực hiện ngắn (01 năm) và kinh phí có hạn
nên kết quả mới dừng lại ở quy mô thí nghiệm thăm dò.
Ngoài ra, còn có một số công trình khác nghiên cứu về tách chiết lá dâu
tằm của tác giả Phạm Thiện Ngọc, Lê Ngọc Liễn, Đại học Y Hà Nội khi thực
hiện đề tài “Chiết suất, xác định hàm lượng polyphenol và đánh giá tác dụng
chống Oxy hóa của các mẫu bột chiết lá dâu”[4] vào năm 2005 và
TS.BS.Nguyễn Quang Trung, bệnh viện Uông Bí – Quảng Ninh khi thực hiện đề
tài “Đánh giá tác dụng bột chiết lá dâu trên các chỉ số lipid và trạng thái chống
oxy hóa trong máu ở chuột nhắt trắng gây rối loạn lipid máu và đái tháo đường
thực nghiệm” vào năm 2006 [5], tuy nhiên đây chỉ là những nghiên cứu về dược
tính của một thành phần khác trong lá dâu.
Trước những tác dụng của lá dâu nói chung và hợp chất DNJ nói riêng, cần
phải ứng dụng được sản phẩm bột lá dâu tằm giàu DNJ này để tạo ra một số sản
phẩm chức năng mang tính hàng hóa với mục đích phòng chống, hỗ trợ điều trị
cho người bệnh tiểu đường với tiêu chí dễ sử dụng, giá thành hạ nhằm đa dạng
hóa các sản phẩm chức năng cho người bệnh tiểu đường ở trên thị trường Việt
Máy hút chân không - TQ.
Máy đo màu MINOTA- CHROMAMETER CR200/231
Cân phân tích - SHIMADZU & MONO BLOC - Nhật Bản
3.2. Nội dung
- Nghiên cứu xác định giống, độ già và phương pháp bảo quản thích hợp
- Nghiên cứu quy trình sản xuất bột lá dâu có hàm lượng DNJ cao
- Nghiên cứu tỉ lệ phối chế bột triết lá dâu với bột lá dâu khô và với chất
điều vị
24
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1.Phương pháp chung
Về mặt tổng thể đề tài sử dụng phương pháp thực nghiệm, có sự hỗ trợ
của các lý thuyết toán học để xác định các điều kiện tối ưu trên mối quan hệ
giữa các yếu tố ảnh hưởng đồng thời và kiểm chứng các cơ sở giả thuyết.
Phương pháp toán học các thực nghiệm trong nghiên cứu tìm tối ưu
Tối ưu hoá một số quá trình, đặc biệt là quá trình trích ly đối với lá dâu mà
cụ thể là xác định các giá trị tối ưu của các biến số nhiệt độ, thời gian và tỷ lệ
nguyên liệu/dung môi bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm.
Bằng ngôn ngữ, tối ưu hoá quá trình là tìm giá trị của các yếu tố X
i
để tại đó
quá trình trích ly đạt hiệu suất cao nhất (tức là hàm lượng DNJ được chiết tách lớn
nhất), nghĩa là các hàm mục tiêu Y
i
đạt cực trị.
Để đạt được mục đích nghiên cứu chúng tôi chọn ma trận DOEHLERT. Ma
trận này cho phép tìm được vùng tối ưu trong khoảng giới hạn đã chọn. Ma trận cho
phép phân chia rất cân đối các điểm thí nghiệm trong giới hạn theo bất kỳ hướng
nào. Dựa vào ma trận, ta có thể thêm các biến số khác nữa mà không làm mất đi tính
đúng đắn của ma trận.
X
2
2
+ b
33
X
3
2
+ b
12
X
1
X
2
+ b
13
X
1
X
3
+ b
23
X
2
X
3
.
Trong đó : Y- Hàm mục tiêu ( hay các đại lượng cần xác định)
b- Các hệ số hồi quy
X- Các biến số.