Các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện và kiến nghị hoàn thiện - Pdf 36

Các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ lý, trả lại đơn khởi
kiện và kiến nghị hoàn thiện

Thụ lý là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ
án dân sự để giải quyết. Đây là việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình giải quyết
vụ án dân sự, là cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng. Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004 có nhiều quy định mới về thụ lý và trả lại đơn khởi kiện. Bài viết
sau xin được tìm hiểu vấn đề: “Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý, trả lại
đơn khởi kiện”.

NỘI DUNG
Quy định của pháp luật về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện
Quy định của pháp luật về thụ lý vụ đơn khởi kiện
Điều kiện thụ lý vụ đơn khởi kiện
Việc thụ lý đơn khởi kiện cũng đồng nghĩa với việc thụ lý vụ án, vì vậy các điều
kiện để thụ lý đơn khởi kiện cũng là các điều kiện để thụ lý vụ án dân sự. Cụ thể
như sau:
Thứ nhất, về chủ thể khởi kiện. Khởi kiện là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ
pháp luật tố tụng dân sự. Tòa sẽ chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi
kiện của các chủ thể, và các chủ thể này phải là cá nhân có năng lực hành vi tố tụng
dân sự đồng thời phải có quyền lợi bị xâm phạm; hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện
vụ án dân sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác, ngoài


ra, vụ án khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo các quy định
của BLTTDS 2004.
Thứ hai, người khởi kiện phải cung cấp đầy đủ chứng cứ, tài liệu cho tòa án theo
quy định tại Điều 165 BLTTDS. Đây là cơ sở để tòa giải quyết đúng đắn vụ án, nếu
đương sự không thể tiến hành thu thập đủ chứng cứ thì có thể yêu cầu Tòa giúp đỡ
thu thập chứng cứ.

đến.
- Về vấn đề phân công người xem xét đơn khởi kiện:
Theo quy định tại tiểu mục 6.3 Phần 1 Nghị quyết 02/2006 thì: Chánh án hoặc Phó
chánh án được chánh án ủy nhiệm (và Chánh tòa hoặc phó chánh tòa được chánh án
ủy quyền đối với Tòa án nhân dân tỉnh) phân công cho một Thẩm phán xem xét đơn
khởi kiện.
Trong năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Thẩm phán được
phân công xem xét đơn khởi kiện sẽ phải ra một trong các quyết định sau:
Một là, tiến hành thủ tục thụ lý vụ án, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
mình.


Hai là chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo bằng văn bản
cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác.
Ba là, trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu thuộc một trong các trường
hợp quy định tại Điều 168 BLTTDS và thông báo cho người khởi kiện biết.
* Yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện
Điều 169 BLTTDS có quy định: “trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các
nội dung quy định tại khoản 2 Điều 164 BLTTDS thì tòa án thông báo cho người
khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do tòa án ấn định nhưng không
quá 30 ngày; trường hợp đặc biệt, tòa án có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày”.
Trong trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi bổ sung thì đơn khởi kiện theo đúng
quy định của bộ luật thì tòa án sẽ tiếp tục thụ lý, còn nếu không chịu sửa đổi bổ
sung thì tòa sẽ trả lại đơn kiện cùng chứng cứ, tài liệu kèm theo.
* Xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiện
Điều 171 BLTTDS quy định: “sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm
theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án thì tòa phải xác
định tiền tạm ứng án phí và thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến tòa
làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án
phí.



- Thứ ba, sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con,
thay đổi cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho
mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhà mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu
do chưa đủ điều kiện khởi kiện.
- Thứ tư, hết thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về
việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện không đến nộp tiền, trừ trường hợp
có lý do chính đáng.
- Thứ năm, chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Đó là trường hợp đương sự có thỏa
thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện (về nội dung đơn khởi
kiện, về hình thức đơn khởi kiện) nhưng đương sự đã tiến hành khởi kiện khi còn
thiếu một trong các điều kiện đó.
- Thứ sáu, vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đó là những
trường hợp không thuộc một trong các tranh chấp quy định tại các Điều 25, 27, 29
và 31 của BLTTDS.
- Thứ bảy, trường hợp đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 2
Điều 164 BLTTDS, tòa đã thông báo yêu cầu họ sửa đổi, bổ sung trong một thời
hạn nhất định, nhưng họ lại không tiến hành sửa đổi bổi sung, thì Tòa sẽ trả lại đơn
khởi kiện (khoản 2 Điều 169 BLTTDS).
Việc trả lại đơn khởi kiện này sẽ được tòa thực hiện bằng văn bản kèm theo ghi rõ
lý do trả lại đơn khởi kiện.
Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện


Điều 170 BLTTDS quy định: “trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do chánh án tòa án trả lại, người
khởi kiện có quyền khiếu nại với chánh án tòa án đã trả lại đơn khởi kiện”.

quyết các vấn đề dân sự diễn ra hàng ngày trong cuộc sống, một vài con số thống kê
có thể nói lên phần nào điều đó.
Theo số liệu thống kê ba năm trở lại đây trong báo cáo tổng kết công tác xét xử của
Tòa án nhân dân tối cao, thì: năm 2007, Tòa án nhân dân các cấp giải quyết được
171.681 vụ việc trong tổng số 18.992 vụ việc đã thụ lý, đạt 90,84%. Năm 2008: Tòa
án nhân dân các cấp đã thụ lý 192.336 vụ việc; đã giải quyết 174.732 vụ, chiếm
90,8% (vượt 3,8% so với chỉ tiêu đề ra). Năm 2009: Tòa án nhân dân các cấp đã thụ
lý là: 214.174 vụ việc; giải quyết được 194.358 vụ việc, chiếm 90,7%.
Kết quả này có được phần lớn là do quy định tương đối chặt chẽ trong thực tiễn thi
hành và áp dụng luật. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được kể trên, vấn
đề thụ lý, trả lại đơn khởi kiện cũng bộc lộ không ít hạn chế, gây khó khăn trong
công tác thực hiện và thi hành pháp luật.
Hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện
Vấn đề thụ lý, trả lại đơn khởi kiện có nhiều hạn chế. Bài viết chỉ nêu ra một số hạn
chế và kiến nghị giải pháp hoàn thiện như sau:


Một là, về thủ tục nhận đơn khởi kiện quy định tại Điều 167 và mục 6 chương 1
Nghị quyết 02/2006.
Trước hết, theo tinh thần tiểu mục 6.3 thì khi có đơn nộp đến tòa, tòa mới thực hiện
việc phân công thẩm phán xem xét đơn kiện. Điều này vừa không hợp lý vừa mất
thời gian lại không khách quan. Để giải quyết vấn đề này, nên quy định: mỗi tòa cần
có một bộ phận chuyên trách để đứng ra giải quyết đơn với nhiệm vụ như: trực tiếp
nhận đơn, xem xét về thụ lý, chuyển đơn đến tòa khác, trả lại đơn kiện…. Nhờ vậy,
sẽ góp phần giảm thời gian thụ lý, đảm bảo chuyên môn, nâng cao trách nhiệm của
bộ phận trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này.
Bên cạnh đó, quy định tại khoản 2 Điều 167 và tiểu mục 6.4.b chương 1 Nghị quyết
02/2006 sẽ dẫn đến cách hiểu, nếu Tòa thấy mình không có thẩm quyền giải quyết
vụ án thì vừa phải thông báo cho người khởi kiện, lại vừa phải gửi quyết định
chuyển hồ sơ vụ việc cho họ và những người có liên quan. Quy định này là không

luật đó, có thể dẫn đến cách hiểu, bị đơn chỉ được phản tố trong thời hạn 15 ngày
hoặc không quá 30 ngày (trường hợp được gia hạn), kể từ ngày nhận được thông
báo về việc thụ lý vụ án. Điều này gây ra nhiều cách hiểu khác nhau và dẫn đến tình
trạng áp dụng pháp luật không thống nhất. Do đó cần quy định một cách rõ ràng, đó
là: nên để cho bị đơn thực hiện quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn
cho đến trước khi mở phiên tòa sơ thẩm nhằm đảm bảo quyền lợi của bị đơn trong
tiến trình giải quyết vụ án.
Bốn là, quy định về hình thức văn bản tại điều 170, 171, 172 BLTTDS không cụ
thể. Điều 170 chỉ quy định khiếu nại bằng văn bản còn giải quyết khiếu nại thì
không quy định. Điều 171 không quy định về hình thức văn bản xác nhận việc tòa
thụ lý vụ án; đặc biệt điều 172 và tiểu mục 10.2 Nghị quyết 02/2006 còn quy định
việc phân công thẩm phán giải quyết vụ án không phải ra quyết định. Các quy định
này là không phù hợp, theo tôi, nên sửa lại hình thức văn bản đó là: quyết định để
phù hợp với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi


cho công tác quản lý và tăng cường tính minh bạch trong hoạt động của cơ quan tòa
án.
KẾT LUẬN
Thụ lý, trả lại đơn khởi kiện là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình giải quyết
tranh chấp tại Tòa án. Nếu không có thụ lý đơn kiện thì sẽ không làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ của tòa án và các bên đương sự trong việc giải quyết các tranh
chấp dân sự. Chính vì thế, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý và trả
lại đơn khởi kiện có ý nghĩa rất lớn, góp phần đáng kể trong quá trình giải quyết vụ
án một cách dễ dàng, tạo điều kiện cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp
pháp của mình một cách kịp thời. Tuy nhiên, trên thực tế, trong quá trình thi hành
và áp dụng các quy định của bộ luật, ít nhiều đã bộc lộ những hạn chế và thiếu sót.
Để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, các nhà làm luật cần có các quy định khắc phục
những điểm khuyết trong các quy định của pháp luật đã xảy ra trong thực, và dự
liệu trước được các khó khăn có thể xảy ra trong tương lai, qua đó có những quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status