1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN VŨ TOÀN NGƢỜI ĐẠI DIỆN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
3
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn Trần Vũ Toàn
4
MỤC LỤC
1.1.3.
Vai trò của người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự
11
1.1.4.
Sự khác nhau giữa người đại diện và người bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của đương sự
13
1.2.
Phân loại người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự
15
1.3.
Sơ lược các quy định của pháp luật về người đại diện trong
pháp luật tố tụng dân sự từ năm 1945 đến nay
19
1.3.1.
Giai đoạn năm 1945 đến năm 1989
19
1.3.2.
Giai đoạn năm 1989 đến nay
22
Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN
HÀNH VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
25
2.1.
Căn cứ phát sinh đại diện và những trường hợp không được
làm người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự
25
2.1.1.
Căn cứ phát sinh đại diện trong tố tụng dân sự
2.3.2.
Hậu quả của việc chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự
61
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
62
3.1.
Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về người đại
diện trong pháp luật tố tụng dân sự
62
3.1.1.
Đánh giá chung việc thực hiện các quy định của pháp luật về
người đại diện trong tố tụng dân sự
62
3.1.2.
Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về xác định
địa vị pháp lý của người đại diện trong tố tụng dân sự
64
3.1.3.
Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về chỉ định
người đại diện trong tố tụng dân sự
71
3.1.4.
Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về quyền và
nghĩa vụ người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự
73
3.1.5.
Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về không được
BLDS
: Bộ luật dân sự
BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự
PLTTGQCVADS
: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết
các vụ án dân sự 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người đại diện là một chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam. Và với xu thế phát triển của xã hội văn minh, đại diện luôn là
một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội cũng như trong môi trường
pháp lý.
Trong những năm vừa qua, từ hoạt động của mình, người đại diện của
đương sự trong tố tụng dân sự đã và đang khẳng định được vị thế, vai trò của
mình trong tố tụng, ngày càng chứng tỏ là một trong những thành phần khó có
thể thiếu trong tố tụng dân sự.
Kế thừa có chọn lọc các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế năm 1994, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995 chế định người
đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự được quy định và ngày một hoàn
thiện hơn trong BLDS năm 2004. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những quy định
được pháp luật ghi nhận một cách chung nhất, khái quát nhất về địa vị pháp lý
cùng những vấn đề có liên quan đến người đại diện của đương sự trong tố
nghiên cứu về người tham gia tố tụng dân sự. Tuy nhiên không có nhiều công
trình nghiên cứu về người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự như luận án
tiến sĩ luật học: "Bảo đảm bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự" của
Nguyễn Công Bình, một số bài viết: "Người đại diện và người bảo vệ quyền
lợi của đương sự trong vụ án dân sự", của Nguyễn Công Bình, đăng trên Tạp
chí Luật học số 6/1998; "Đại diện theo ủy quyền, từ pháp luật nội dung đến tố
tụng dân sự", của Nguyễn Minh Hằng, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
số 5/2005; "Quyền người đại diện của đương sự được quy định tại Điều 243
Bộ luật tố tụng dân sự", của TS. Nguyễn Văn Dũng, đăng trên Tạp chí Nghề
luật, số 04/2006; "Người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của đương sự
9
trong tố tụng dân sự", của tác giả Hoàng Thu Yến, đăng trên Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 5/2006; "Bố mẹ có quyền đại diện cho người con bị tâm
thần khởi kiện xin li hôn hay không", của Tưởng Duy Lượng, đăng trên Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 6/2006; "Người mù không có người đại diện có quyền
khởi kiện dân sự", của Từ Văn Thiết, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số
18/2006; "Một số suy nghĩ về đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự",
của Tưởng Duy Lượng, đăng trên Tạp chí Khoa học pháp luật, số 01(38),
2007; "Chế định đại diện theo qui định của pháp luật Việt Nam - nhìn từ góc
độ Luật so sánh", của Ngô Huy Cương, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp
luật số 4/2009
Những công trình nghiên cứu này cũng chỉ đề cập một cách khái quát,
chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện đối với chế định
người đại diện pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài "Người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự hiện
nay ở Việt Nam" nhằm những mục tiêu chủ yếu sau đây:
- Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận của người đại diện trong tố
tụng dân sự như khái niệm, đặc điểm, lịch sử hình thành; vai trò, giá trị pháp
viện, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, đánh giá và tổng kết
kinh nghiệm.
6. Những kết quả đạt đƣợc của luận văn
Luận văn về đề tài "Người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự
hiện nay ở Việt Nam" cho ta cái nhìn đẩy đủ hơn về khái niệm, đặc điểm, vai
trò người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, qua đó phản ánh đẩy đủ
bản chất của quan hệ "đại diện" trong pháp luật tố tụng dân sự.
Luận văn phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành
cũng như thực tiễn phát sinh. Qua đó, đề xuất một số giải giải pháp nhằm
11
hoàn thiện những quy định của pháp luật về người đại diện trong tố tụng dân
sự. Những đóng góp của luận văn có giá trị không chỉ giúp cho hoạt động
thực thi pháp luật mà còn trong nghiên cứu khoa học; những kiến nghị, đề
xuất của luận văn là cơ sở để ban hành những văn bản pháp luật có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về người đại diện trong tố
tụng dân sự.
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về người
đại diện trong tố tụng dân sự.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về người
đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự và một số kiến nghị.
12
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN
quyết" [24, tr. 346], còn theo Từ điển Từ và ngữ Hán Việt thì đương sự là
người có liên quan trực tiếp đến một việc. Trong khoa học pháp lý thì đương
sự được hiểu "là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một việc
khiếu nại hoặc một vụ án " [7, tr. 165].
Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, đương sự được hiểu là người tham gia
tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích
công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách và được liệt kê
cụ thể tại khoản 1 Điều 56 BLTTDS. Theo quy định này, "đương sự trong vụ
án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" [25].
Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể thường tự mình
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ. Tuy vậy, trong một số trường hợp,
người khác có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ và từ đó đã
hình thành quan hệ đại diện. Những người thực hiện quyền, nghĩa vụ của các
chủ thể trong các quan hệ pháp luật được gọi là người đại diện. Theo quy định
tại Điều 139 BLDS năm 2005, "đại diện là việc một người (sau đây gọi là
người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người
được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện" [26].
Như vậy, đại diện được hiểu là một quan hệ pháp luật, một mối liên hệ pháp
lý. Đó là mối liên hệ giữa người đại diện với người được đại diện. Chủ thể
của quan hệ đại diện bao gồm người đại diện và người được đại diện.
Trong tố tụng dân sự, người nhân danh người khác - người được đại
diện - tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
được gọi là người đại diện. Người đại diện trong tố tụng dân sự có thể là cá
nhân hoặc cũng có thể là pháp nhân nhưng phải là người có năng lực hành vi
14
tố tụng dân sự. Người đại diện thực hiện hành vi nhân văn được người đại
diện nên cần phải có một giới hạn nhất định cho hành vi đó. Giới hạn này
được gọi là phạm vi thẩm quyền đại diện. Phạm vi thẩm quyền đại diện là
nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự mà mình
đại diện trước tòa án.
1.1.2. Đặc điểm của ngƣời đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự
Đầu tiên, người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự được hình
thành trên cơ sở quan hệ "đại diện". Đại diện trong tố tụng dân sự được hiểu
là một quan hệ pháp luật, một mối liên hệ pháp lý trong tố tụng dân sự. Quan
hệ đại diện đó có thể được xác lập theo quy định của pháp luật, theo quyết
định của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo sự ủy quyền. Đó là mối liên hệ
giữa người đại diện với đương sự được đại diện. Người đại diện là người nhân
danh người được đại diện tham gia vào quan hệ tố tụng dân sự vì quyền và lợi
ích hợp pháp của người được đại diện. Đương sự được đại diện có thể là
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan ủy quyền cho
người đại diện tham gia vào các quan hệ tố tụng dân sự, tiếp nhận các hậu quả
pháp lý từ quan hệ đại diện trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Người đại
diện là người có trách nhiệm phải thực hiện những công việc nhất định trong
phạm vi đại diện của mình.
Về chủ thể, thông thường người đại diện của đương sự phải là các cá
nhân. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự quy định có trường hợp ngoại lệ
như cơ quan tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người
khác cũng là người đại diện của đương sự. Đó là: cơ quan dân số, gia đình, trẻ
em, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình trong trường hợp do
Luật Hôn nhân và gia đình quy định; Công đoàn cấp trên của Công đoàn cơ
sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp càn bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do Luật lao động quy định; cơ
16
quan tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có quyền khởi kiện
vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách. Trong trường hợp này, pháp luật
định trong Bộ luật dân sự được pháp luật bảo hộ. Khi các quyền này bị vi
phạm thì những người được hưởng quyền có thể yêu cầu Nhà nước bảo vê.
Đây chính là năng lực pháp luật tố tụng dân sự.
Khoản 1 Điều 57 BLDS năm 2005 định nghĩa: Năng lực pháp luật tố
tụng dân sự là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp
luật quy định. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực pháp luật tố tụng
dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình.
Cá nhân có năng lực dân sự từ khi sinh ra, pháp nhân có năng lực từ
khi được thành lập hoặc đăng ký hoạt động. Tuy nhiên, không phải cứ có năng
lực pháp luật dân sự là cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện các quyền,
nghĩa vụ dân sự của mình ngay được mà phải đáp ứng một số yêu cầu nhất
định về độ tuổi, trí tuệ (đối với cá nhân); người đại diện (đối với pháp nhân)
Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của người đại diện luôn gắn liền với
quyền và nghĩa vụ của người được đại diện, phụ thuộc vào người được đại
diện. Bởi lẽ người đại diện là người "thay mặt" cho đương sự thực hiện những
quyền và nghĩa vụ mà đáng lẽ đương sự phải thực hiện. Chính vì là "thay
mặt" nên người đại diện chỉ có thể thực hiện được những quyền, nghĩa vụ của
đương sự. Người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự không tự nhiên có
các quyền, nghĩa vụ khác ngoài quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Đối
với người đại diện theo ủy quyền, họ chỉ được thực hiện các quyền, nghĩa vụ
trong phạm vi ủy quyền.
1.1.3. Vai trò của ngƣời đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự
Theo cách giải thích trong Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà
Nẵng năm 2003 thì khái niệm "vai trò "được hiểu là "tác dụng, chức năng của
một vật, một cá thể, một sự kiện một cái gì đó" [24, tr. 1095]. Như vậy, nói
18
đến vai trò của người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự là nói đến những
tác động, ảnh hưởng của người đại diện đối với từng cá nhân, tổ chức trong tố
nào để thực hiện tốt đúng chức trách của họ - những người bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp cho đương sự.
1.1.4. Sự khác nhau giữa ngƣời đại diện và ngƣời bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của đƣơng sự
Trong tố tụng dân sự, ngoài người đại diện của đương sự còn có người
khác được đương sự nhờ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của mình. Người này được gọi là người bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp
của đương sự, "người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là
người có đủ các điều kiện do pháp luật quy định và được đương sự yêu cầu
tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ" [24, tr. 120].
Sở dĩ có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là bởi
vì trong nhiều trường hợp đương sự (hoặc người đại diện của đương sự)
thường không đủ kiến thức, hiểu biết cũng như trình độ chuyên môn về luật
pháp để tự bảo vệ quyền và lợi ích cho mình (hoặc cho người mà họ đại diện)
và họ phải nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích cho mình. Tuy nhiên,
trong hoạt động tố tụng, người đại diện đôi khi không đồng nhất là người bảo
vệ quyền lợi cho đương sự.
Xét về tổng thể thì quy định của pháp luật về người đại diện và người
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tương đối giống nhau như cùng
mục đích là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, có một số quyền và
nghĩa vụ tương tự nhưng bên cạnh đó còn một số điểm khác biệt nhất định.
Thứ nhất, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham
gia tố tụng dân sự độc lập với đương sự.
Tuy cùng tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho
đương sự nhưng việc tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
20
pháp của đương sự khác với người đại diện của đương sự. Người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng song song cùng
đương sự. Khi tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Tuy vậy, khác với người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự không thay mặt đương sự tham gia tố tụng
mà đến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên họ có quyền
hạn rất lớn trong việc thực hiện, tham gia tố tụng, không bị hạn chế trong việc
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự. Trong khi đó, người đại diện
lại là người thay mặt cho đương sự tham gia tố tụng, các quyền và nghĩa vụ
cơ bản của người đại diện phụ thuộc vào các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
người đại diện. Đặc biệt, nếu là người đại diện do đương sự ủy quyền thì họ
chỉ được thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong phạm vi ủy quyền.
Người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự không bị lệ thuộc hẳn
vào đương sự như người đại diện của đương sự, trong một số trường hợp họ
có nhiều quyền hạn hơn người đại diện và đương sự trong tố tụng dân sự như
quyền nghiên cứu hồ sơ, quyền xác minh các tình tiết của vụ án và họ lại là
người có kinh nghiệm tham gia tố tụng trong phiên tòa, khi tranh luận, họ
thường là chủ thể chính của việc tranh luận.
1.2. PHÂN LOẠI NGƢỜI ĐẠI DIỆN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
DÂN SỰ
Xuất phát từ tính đa dạng của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nên
người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự cũng rất đa dạng. có nhiều cách
để phân loại người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự.
Dựa vào ý chí của người được đại diện mà pháp luật phân người đại
diện ra thành người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền.
Việc xác lập người đại diện theo ủy quyền phụ thuộc ý chí của người được đại
diện và người đại diện.
22
+ Theo quy định tại Điều 140 thì người đại diện theo pháp luật là
người đại diện được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc quyết định của
cơ quan có thẩm quyền (theo quyết định của Tòa án ), tòa án không ra quyết
định chấp nhận người đại diện mà người đại diện được tòa án chấp nhận bằng
Việc Tòa án chỉ định người đại diện cho đương sự bảo đảm quyền bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước tòa. Tuy nhiên, trong tố tụng dân
sự các đương sự còn có quyền tự định đoạt nên tòa án chỉ tiến hành chỉ tiến
hành chỉ định người đại diện cho đương sự trong trường hợp đương sự là
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc
người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong những trường hợp được
quy định tại khoản 1 Điều 75 BLTTDS.
+ Người đại diện theo ủy quyền cũng là người thay mặt cho đương sự
thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng thông qua một văn bản ủy
quyền thể hiện ý chí của người đại diện và người được đại diện. Phạm vi đại
diện được ghi nhận một cách cụ thể trong văn bản ủy quyền đó, có thể đại
diện một phần hay toàn bộ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ việc dân
sự trong vụ án ly hôn, đương sự không thể ủy quyền cho người khác tham gia
thay mình. Khác với hai loại đại diện trên, đương sự được đại diện là người có
năng lực hành vi tố tụng nên người đại diện chỉ được tham gia tố tụng khi
được đương sự ủy quyền thay mặt họ trong tố tụng dân sự.
Trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức
chủ hộ gia đình không trực tiếp tham gia tố tụng mà ủy quyền cho luật sư
hoặc người khác tham gia thì người được ủy quyền cũng chính là người đại
diện theo ủy quyền.
Trong tố tụng dân sự, vị trí người đại diện có thể được phân loại dựa
theo hai tiêu chí cơ bản sau:
Thứ nhất: Dựa theo vị trí của người được đại diện, có thể phân người
đại diện thành người đại diện cho nguyên đơn, người đại diện cho bị đơn và
24
người đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan trong vụ án dân
sự. Có những trường hợp quyền và nghĩa vụ của người đại diện cũng chính là
quyền và nghĩa vụ của người mà họ đại diện thay, trường hợp đồng nguyên
đơn hoặc đồng bị đơn… nên pháp luật chỉ cho họ được quyền đại diện cho
(người đứng đầu pháp nhân đại diện cho pháp nhân ) hoặc được cơ quan, tổ
chức ủy quyền tham gia vào tố tụng dân sự, thay mặt cho cơ quan, tổ chức
thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phá
của cơ quan, tổ chức mà mình đại diện.
1.3. SƠ LƢỢC CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Nghiên cứu về người đại diện trong tố tụng dân sự có thể thấy rằng
cùng với sự hoàn thiện của pháp luật dân sự cũng như pháp luật tố tụng dân
sự thì các quyền và nghĩa vụ của đương sự ngày càng được qui định một cách
cụ thể, rõ ràng cùng với đó là sự hoàn thiện về chế định người đại diện trong
pháp luật dân sự nói chung cũng như tố tụng dân sự nói riêng. Từ chỗ không
có khái niệm một cách trực tiếp về người đại diện trong tố tụng dân sự thì với
sự ra đời của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 thì vị trí
pháp lý của người đại diện đã được qui định trong trình tự giải quyết các vụ
án dân sự tại tòa án.
Căn cứ vào sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước và
pháp luật Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay, có thể chia các thời kỳ hình
thành và phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về
người đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự thành các giai đoạn sau đây.
1.3.1. Giai đoạn năm 1945 đến năm 1989
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa ra đời, bộ máy tư pháp được tổ chức lại; Chủ tịch nước Hồ Chí
Minh là người luôn quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của