Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây bương lông điện biên tại đoan hùng phú thọ - Pdf 36

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------------

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

“BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY
BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN (DENDROCALAMUS GIGANTEUS)
TẠI ĐOAN HÙNG - PHÚ THỌ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo Chuyên ngành

Chính quy Lâm

Khoa Lớp

nghiệp Lâm

Khoá học

nghiệp K43 - LN

Giảng viên hướng dẫn

- N01 2011 2015
1. TS.


Sinh viên

Nguyên Thị Phương


5

CT

Công thức

DTTN

Diện tích tự nhiên

HC

Hom cành

IBA

P-indol butyric acid

KHLN

Khoa học lâm nghiệp

KS

Kỹ sư

trạng thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, hiện nay đã được gây trồng ở
khá nhiều nơi và có trên 200 loài tre trên cả nước. Đây là loại lâm sản ngoài gỗ có
giá trị kinh tế và có đặc điểm sinh trưởng nhanh và tái sinh mạnh, trồng một lần khai
thác nhiều lần nên luôn có nguồn thu hàng năm nếu trồng tre, do vậy còn được mệnh
danh là cây của người nghèo. Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì
tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được
nhiều khách nước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi
sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre ...
Trong số các loài tre trong cả nước thì có cây Bương lông điện biên là một
trong số các loài cây đem lại lợi ích kinh tế cho người dân. Để có được lợi ích kinhtế
cao thì

biện pháp kỹ thuật nhân giống cũng rất

quan trọng

nhằm phát triển cây Bương lông điện biên cho năng suất, chất lượng cao cung cấp
nguyên liệu

cho sản xuất

công nghiệp.

Bương

lông điện biên

(Dendrocalamus giganteus), có tên gọi khác là Mạy púa mơi, Bương lớn, Bương lớn
điện biên. Là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao
15 - 20 m, đường kính gốc 20 - 25 cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 - 30 cm, ít

rễ của hom Bương lông điện biên.
Xác định một số biện pháp kỹ thuật nhân giống như hom thân, hom gốc, hom
cành chét.
Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống Bương lông điện biên.
1.3.

Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Nhằm giúp cho sinh viên nắm vững hơn những kiến thức đã học, đồng thời
được

trải nghiệm giữa lý thuyết và

thực tiễn để tiếp thu học hỏi nhiều

kinh nghiệm về đặc điểm, quá trình sinh trưởng phát triển cây Bương lông điện biên.
Quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội biết được phương pháp giải quyết vấn đề
khoa học , tiếp cận các phương pháp nghiên cứu ngoài hiện trường.
Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu
đề tài.
Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng khoa


8

học tiến bộ vào nhân giống cây.
Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật nhân giống trong thực
tiễn tại địa bàn nghiên cứu.
Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng khoa

dựng

nông thôn mới, việc

trong giai đoạn xây

phát triển vùng

nguyên liêu tre, trúc theo Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg ngày 18 tháng 02 năm
2011

của Thủ tướng Chính

phủ cần được quan tâm nghiên

cứu theo

hướng phát triển bền vững.
Các nghiên cứu về cây Bương lông điện biên rất ít, đặc biệt là nghiên cứu về
biện pháp kỹ thuật lâm sinh, nhân giống và chế biến ... Chính vì vậy, đề tài nghiên
cứu được đặt ra là rất cần thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.


2.2.

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

longispathus,

Melocana

baccifera,


Neohouzeaua dulloa và Oxytenathera nigrociliata đã được sử dụng để trồng rừng ở
Ân Độ tỷ lệ thành công đạt 44 - 76% khi trồng vào tháng 4, đạt 3 - 38% vào tháng 6
và chồi mầm một tuổi đạt tỷ lệ sống cao hơn cây 2 - 3 tuổi. Nhân giống bằng phương
pháp chiết thân đối với loài Bambusa longispiculata đạt tỷ lệ ra rễ 25% nhưng tỷ lệ
ra rễ tăng lên 54% khi có xử lý với hooc môn tăng trưởng IBA 200 ppm. Sử dụng
hooc môn IBA và NAA khi giâm hom thân (mỗi hom 1 đốt,
đạt

tỷ

lệ

ra rễ

gồm 2

mấu)

80% ở Bambusa

arundinacea, 70% ở Dendrocalamus strictus (S. Nautiyal et al 2008) [22].
Có 607 ha rừng tre của 9 loài (Dendrocalamus strictus, D.asper,
D.hamiltonii, Bambusa bambos, B.nutans, B.balcooa, Pseudooxytanthera, Guadua

Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống, trồng, khai thác tre đã được quan tâm
nghiên

cứu khá sớm ở Việt Nam, từ những

năm 60 của thế kỷ 20 như:

Phạm Quang Độ (1963), Trồng và khai thác tre nứa trúc [5]. Nguyễn Tử Ưởng
(1965 - 1968), Nghiên cứu phương thức kinh doanh rừng Nứa lá nhỏ [12], Nguyễn
Thị Phi Anh (1967) , Kỹ thuật gây trồng Tre, Diễn ở Cầu Hai [1] .Trần Xuân Thiệp
(1976), Nghiên cứu thực nghiệm kinh doanh cây Vầu đắng tại Bắc Quang - Hà
Giang [14]. Lê Quang Liên (2001), “Nhân giống Luồng bằng chiết cành” [9].
Trần Xuân Thiệp (1976) đã đưa ra kết quả thực nghiệm kinh doanh rừng Vầu
đắng (Arundinaria sp ) tại Bắc Quang - Hà Tuyên [14]. Ngô Trí Lực (1971), trong
báo cáo bước đầu tìm hiểu một số đặc tính tự nhiên và kinh doanh rừng Nứa lá nhỏ
(Neohoazeana dullooa A.Camus) đã phân chia quá trình phát triển của cây nứa
thành các giai đoạn măng - non - trung niên - già sau đó là hiện tượng khuy chết của
nứa sau 20 - 30 năm [10].
Từ năm 1998, Phân viện nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ được
Cục Phát triển Lâm nghiệp cấp kinh phí để thí nghiệm trồng Tre tầu (Sinocalamus
latiflorus Munro) lấy măng. Đề tài đã tập hợp được một số kỹ thuật gây trồng, nhân
giống có thể áp dụng cho thực tiễn sản xuất (Đỗ Văn
Bản, 2005) [2].
Năm 2000, Lê Quang Liên và cộng sự đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ
thuật trồng tre trúc để lấy măng” cho 2 loài Luồng (Dendrocalamus barbatus) và tre
Gầy (Dendrocalamus sp.), trong đó có khảo nghiệm 3 công thức bón phân NPK và
khẳng định muốn trồng tre trúc để lấy cây hay lấy măng có năng suất cao thì cần
phải trồng thâm canh, trong đó phân bón gồm phân chuồng kết hợp với phân hóa

“Nhân giống Trúc sào (Phyllostachys edulis (Carr.) Houz. De Lehaie) bằng phương
pháp giâm hom thân ngầm tại tỉnh Cao Bằng” đã sử dụng 5 loại chất điều hòa sinh
trưởng là ABT1, NNA, 2,4 - D, Atonik, IBA với các nồng độ khác nhau, kết quả cho
thấy các chất điều hòa sinh trưởng có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ hình thành cây
măng và cây hom. Tỷ lệ hình thành cây hom có xử lý Atonik 25ppm đạt 57,2% là
cao nhất, các chất khác cho tỷ lệ từ 35,2% đến 42,9% [13].
Các nghiên

cứu trên đây là cơ sở để đề tài lựa chọn phương thức


phương pháp nhân giống phù hợp nhằm giảm giá thành, nâng cao hiệu quả trồng
rừng, phát triển vùng trồng Bương lông điện biên làm nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến, đặc biệt trong giai đoạn 2012 - 2020.
Công trình nghiên cứu tổng hợp có nhiều nội dung khoa học đã được thực
hiện 5 năm liên tục từ 1976 - 1980, đó là đề tài nghiên cứu “Kỹ thuật trồng và kinh
doanh rừng luồng tập trung có năng suất cao, chất lượng tốt và bền vững” do Trần
Nguyên Giảng, chủ nhiệm Bộ môn Lâm học, Viện Khoa học Lâm nghiệp chủ trì, đã
được tổng kết và công bố vào năm 1981 với một số kết quả rất đáng lưu ý sau đây:
- Tạo giống luồng bằng hom thân thay thế giống gốc và chét.


-

Các phương thức trồng rừng luồng thuần loài và hỗn loài với các cây gỗ họ

-

Đậu bản địa có khả năng cố định N trong môi trường đất chua.
Kỹ thuật trồng rừng luồng trên đất xấu (trảng cỏ + cây bụi chịu hạn).

lượng nhân giống hạn chế không được nhiều và khó sản xuất đại trà.
2.3.

Tình hình kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

2.3.1.

Điều

kiện tự nhiên
2.3.1.1 Vị trí
địa lý
Đoan Hùng là một huyện đồi núi trung du, nằm tại ngã ba ranh giới giữa tỉnh
Phú Thọ với hai tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang. Diện tích tự nhiên của huyện Đoan
Hùng là 302,4 km2. Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau:
+ Phía Đông Nam giáp huyện Phù Ninh


+ Phía Nam giáp huyện Thanh Ba
+ Phía Tây Nam và phía Tây giáp huyện Hạ Hòa, đều là các huyện của tỉnh
Phú Thọ.
+ Phía Tây Bắc, Đoan Hùng giáp huyện Yên Bình của tỉnh Yên Bái.
+ Phía Bắc và phía Đông, huyện Đoan Hùng giáp các huyện của tỉnh Tuyên
Quang, kể từ Bắc sang Đông lần lượt là các huyện: Yên Sơn (phía Bắc) và Sơn
Dương (phía Đông). Trên phần phía Đông Bắc huyện có đoạn cuối của sông Chảy
(phần hạ du thủy điện Thác Bà), đổ nước vào sông Lô ngay tại
phần

lớn




giữa là các thung lũng nhỏ hẹp thích hợp cho trồng rừng sản xuất, cây công nghiệp
và cây ăn quả.
Tiểu vùng 2 (tiểu vùng ven sông Lô, sông Chảy) có diện tích là 10.800 ha bao
gồm 13 xã (Chí Đám, Vân Du, Hùng Quan, Nghinh Xuyên, Phương Trung, Phong
Phú, Thị trấn Đoan Hùng, Hữu Đô, Phú Thứ, Đại Nghĩa, Hùng Long, Sóc Đăng, Vụ
Quang), chiếm 35,7 diện tích tự nhiên, là vùng chuyển tiếp có dạng núi thấp xen kẽ
các dải đồng bằng hẹp ven sông Lô, sông Chảy. Đất vùng ven sông nên chủ yếu là
đất phù sa cổ và 1 phần sình lầy, thích hợp cho trồng cây lương thực, rau màu, cây
công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi và cây ăn quả.
Tiểu vùng 3 (tiểu vùng hạ huyện) có diện tích là 7.097,47 ha, bao gồm 6 xã
(Minh Phú, Chân Mộng, Vân Đồn, Tiêu Sơn, Yên Kiện, Minh Tiến) chiếm khoảng
23,5% tổng diện tích tự nhiên, dạng núi thấp, xen kẽ vùng đồi bát úp có nhiều cánh
đồng dạng lòng chảo, có độ cao phổ biến từ 25 - 50 m, có ưu thế về chăn nuôi, trồng
cây công nghiệp dài ngày và cây nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng.
2.3.1.3.

Khí hậu

Đoan Hùng thuộc vùng trung du Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng của nhiệt đới gió
mùa nóng ẩm, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa lượng mưa cao, cường độ mạnh
chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, trời nắng gắt đôi khi có
những đợt lốc xoáy cục bộ và mưa đá. Mùa khô ít mưa, có gió mùa Đông Bắc thổi
vào, trời rét, nhiệt độ thấp.
Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:
-

Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24°C, mùa nóng nhiệt độ từ 27 28°C, mùa lạnh nhiệt độ từ 15 - 16°C.


1.150m/s. Vì vậy công tác phòng hộ đê được cấp chính quyền và nhân dân trong
vùng rất coi trọng.
-

Ngòi: với 28 ngòi (ngòi Nạp Xuyên, ngòi Quế Lâm, ngòi Sống, ngòi Ruỗn,
ngòi Rằm ...), cứ bình quân 3,36 km2 lưu vực có 1 km ngòi dài tạo nên cho
huyện một hệ thống tưới tiêu phong phú, vừa để tiêu nước khi mưa lũ và đưa
nước lên các xã vùng thượng huyện vào mùa khô.
2.3.1.5.
Đặc điểm đất đai
Đoan Hùng có những nhóm đất chính sau:

-

Nhóm đất Feralít đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét: Đất có thành
phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, tầng đất dày, thấm nước tốt, lượng

chất hữu cơ trung bình, lân dễ tiêu nghèo. Độ pH của đất thay đổi từ trung tính đến
chua ở các mức độ khác nhau. Loại đất này thích hợp với đất sản xuất nông lâm
nghiệp.
-

Nhóm đất Feralít đỏ vàng phát triển trên nền phù sa cổ: Đất có hàm lượng
chất hữu cơ và đạm tổng số nghèo, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo,
kali tổng số và trao đổi giàu và trung bình. Nhóm đất này thích hợp với đất
sản xuất nông lâm nghiệp.

-

Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Đất này được hình thành do sản

chiếm 0,005% tổng số lao động). Cơ cấu dân số của huyện Đoan Hùng là dân số trẻ,
tỉ lệ người trong độ tuổi lao động, trẻ em ở độ tuổi đi học và chưa đi học lớn, chiếm
trên 80% tổng dân số toàn huyện.
b) Lao động
Trong giai đoạn 2010 - 2020 huyện sẽ phấn đấu tạo công ăn việc làm cho
người lao động, đưa thêm các ngành nghề mới vào sản xuất, xây dựng các trung tâm
đào tạo và hướng nghiệp, tạo thêm lực lượng lao động mới có tay nghề và trình độ
kỹ thuật cao. Công tác đào tạo, dạy nghề đã được các cấp, các ngành quan tâm. Các


trường, lớp, trung tâm dạy nghề phát triển dưới nhiều hình thức, dạy nghề ngắn hạn
phát triển mạnh. Thông qua việc thực hiện
tiêu và các

dự

án phát triển

các chương

trình, mục

kinh

tế

- xã hội,

chương trình quốc gia về giải quyết việc làm; trong giai đoạn từ 2010 - 2013 huyện
đã tạo việc làm mới và làm thêm cho gần 25.000 lao động với các nghề chính như

ứng tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp.
c) Hệ thống điện - nước


Hệ thống điện phục vụ đời sống và sản xuất kinh doanh của người dân trên
địa bàn huyện được cung cấp từ đường dây 35KV từ Thác Bà, đường dây 10KV sau
trạm trung gian Tây Cốc và trạm trung gian Thanh Ba 10KV. Đến nay, hệ thống lưới
điện trên địa bàn huyện khá hoàn chỉnh, tất cả các xã, thị trấn trong huyện đều có ít
nhất là 1 trạm biến áp, 100% số thôn được sử dụng điện lưới quốc gia (có 98% số hộ
và 100% số dân được dùng điện lưới quốc gia để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt).
Toàn huyện có 5 nhà máy nước phục vụ sinh hoạt cho nhân dân, số hộ gia
đình được dùng nước sạch trên địa bàn huyện mới chỉ đạt khoảng 20%, số còn lại
nước sinh hoạt chủ yếu là giếng đào, một số hộ vùng cao dùng nước khe, suối để
phục vụ sinh hoạt và sản xuất.
d) Giáo dục
Toàn huyện có 4 trường trung học phổ thông với 112 lớp học; 56 trường
trung học cơ sở và tiểu học với 549 lớp học; có 29 nhà mẫu giáo với 144 lớp học.
Tổng số giáo viên các cấp học là 1.516 người, trong đó THPT là 116 người, THCS
là 544 người, tiểu học là 578 người và 278 giáo viên nhà trẻ mẫu giáo. e) Y tế
Trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện, 28 trạm y tế cấp xã, thị trấn. Toàn huyện
có 174 cán bộ y bác sĩ, 162 giường bệnh, y tế dự phòng đã được chú trọng. Hàng
năm thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng, hiến máu
nhân đạo... Công tác kế hoạch hóa gia đình ngày càng được quan tâm và đạt được
những thành quả khả quan. f) Văn hoá - thông tin
Hiện nay trên địa bàn huyện có đài phát thanh, truyền hình, 100% các xã đã
được phủ sóng truyền hình. Hệ thống thông tin liên lạc được thông suốt, tất cả các
xã, thị trấn trong huyện đã có điểm bưu điện văn hoá xã. Hàng năm vào những
ngày lễ lớn của đất nước phòng văn hoá đã tổ chức thực hiện tốt
hoạt động thông tin tuyên truyền.
2.4.

nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển như hiện nay, nguồn lao động
có trình độ khoa học kỹ thuật còn thiếu.
Ở một số xã vùng sâu của huyện có địa hình dốc nên khó khăn cho công tác
xây dựng, quản lý và bảo vệ rừng cũng như triển khai các hoạt động sản xuất lâm
nghiệp trên địa bàn.
Khí hậu của huyện nhìn chung là thuận lợi, song có một số yếu tố hạn chế
như sương muối, gió hại, có các tháng khô hạn là những trở ngại cho các hoạt động
sản xuất lâm nghiệp trong khu vực.
Hệ thống cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội ở một số xã còn thiếu và thấp kém.
Mạng lưới giao thông liên xã chưa được cải thiện đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát
triển sản xuất và lưu thông hàng hóa, trong đó có sản phẩm từ rừng trồng sản xuất
của khu vực.
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


3.1.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây Bương lông điện biên.
3.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về:
-

Kỹ thuật chọn cây mẹ và cành chét

-


biên
3.4.

Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1.

Phương pháp bố trí thí nghiệm

Nghiên cứu bổ sung biện pháp nhân giống vô tính bằng 2 hình thức: (i) nhân
giống bằng chiết cành, (ii) nhân giống bằng giâm hom cành.
Bố trí thí nghiệm trên 2 cấp tuổi (1 tuổi, 2 tuổi) để lựa chọn tuổi cây giống và
cành chét,

mỗi cấp tuổi 15 cây, với 3 lần lặp/cấp tuổi. Thử nghiệm

phương pháp đốn ngọn cây tuổi 1 và tuổi 2 để tạo cành chét, mỗi cấp tuổi 15 cây,
với

3 lần lặp/cấp tuổi, xác định số lượng cành chét được

lượng chét có thể làm hom, thời gian tạo cành chét.

tạo ra và

số


Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tạo cây con: Áp dụng phương pháp thực
nghiệm và kế thừa các tài liệu, tư liệu có liên quan như: Kỹ thuật nhân giống Luồng

Điều tra cây mẹ xem có bao nhiêu cành chét triển vọng và mắt ngủ triển vọng


trên 1 cây.
Cành chét triển vọng là những cành đùi gà có đường kính từ 1cm trở lên, ở
phần 2 bên cành đùi gà mỗi bên có 3 mắt ngủ và có rễ khí sinh xung quanh đùi gà,
cây mẹ không bị khuy, cành không sâu bệnh.
Mắt ngủ triển vọng là những mắt ngủ nằm ở các mấu của đốt Bương mỗi một
mấu có một mắt ngủ, mắt ngủ không bị thối, không sâu bệnh, còn non, khi con
người tác động bằng các biện pháp cơ giới như ngả cây, đốn ngọn thì những mắt ngủ
đấy mọc ra những cành chét.
* Phương pháp tạo hom cành chét
Cành chét là vật liệu chủ yếu trong quá trình tạo cây con Bương lông điện
biên bằng hom cành. Bương lông điện biên là loài rất ít cành nhánh để tạo hom
giống, vì vậy cần có các biện pháp kỹ thuật tạo cành chét, đề tài nghiên cứu đưa ra
một số phương pháp tạo cành chét.
Chất lượng cành chét tốt là những cành bánh tẻ ở tuổi 1 - 2 có đường kính
cành chét >1 cm, hai bên cành đùi gà mỗi bên có 3 mắt ngủ, mắt ngủ không bị thui,
có rễ khí sinh, cành không bị sâu bệnh, cây mẹ không bị khuy.
Chất lượng cành chét trung bình là những cành bánh tẻ ở tuổi 1 - 2 có đường
kính cành chét >1 cm, hai bên cành đùi gà mỗi bên có 2 hoặc 3 mắt ngủ, mắt ngủ
không bị thui, không có rễ khí sinh, cành không bị sâu bệnh, cây mẹ không bị khuy.
Chất lượng cành chét xấu là những cành quá non hoặc quá già có đường kính
cành chét
Sau khi bó cành chiết khoảng 10 - 15 ngày, kiểm tra thấy cành nào ra rễ khi
chuyển sang màu vàng có lông tơ cắt cành khỏi thân đem cấy vào bầu đất, dưỡng
cây con trong vườn ươm khi cây ra rễ thứ cấp thì đem đi trồng. Bầu đất gồm 90%
đất cát pha + 9% phân chuồng hoai + 1% Super lân. Đặt bầu thành luống tưới ẩm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status