1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC
NGUYỄN NGỌC NGHĨA
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
VÀ KIẾN THỨC-THÁI ĐỘ -THỰC HÀNH VỀ
BỆNH RĂNG MIỆNG CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
TẠI HUYỆN VĂN CHẤN -TỈNH YÊN BÁI NĂM 2009
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Thái nguyên – Năm 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC
NGUYỄN NGỌC NGHĨA
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
VÀ KIẾN THỨC-THÁI ĐỘ -THỰC HÀNH VỀ
BỆNH RĂNG MIỆNG CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường tiểu học Nghĩa Lộ và Nậm Búng
và các đồng chí lãnh đạo địa phương tại 2 nơi tôi đã tiến hành nghiên cứu này.
Các anh, chị và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên cũng như
chia sẻ những khó khăn, vướng mắc cùng tôi đồng hành trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu để hoàn thành bản luận văn này./.
Ngày 28 tháng 10 năm 2009
Tác giả
Nguyễn Ngọc Nghĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5
3.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ............................................... 33
3.2. Tình hình bệnh lý răng miệng của học sinh .............................................. 35
3.3. Đánh giá về kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về CSRM ............ 39
3.4. Một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng ............................................44
Chƣơng 4: Bàn luận ...................................................................................... 48
4.1. Tình hình thực trạng bệnh lý RM, của HS trường tiểu học ……........…………....48
4.2. Thực trạng về kiến thức, thái độ và thực hành của HS ............................. 54
4.3.Các yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng ................................................ 59
KẾT LUẬN ............................................................................................ 65
KHUYẾN NGHỊ ..................................................................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BÀI BÁO KHOA HỌC
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Nội dung
Trang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7
Bảng 4.27. Liên quan giữa chăm sóc sức khoẻ răng miệng với BRM ................. 48
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ phân bố theo dân tộc ............................................................36
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh….....................................…….38
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ sâu răng sữa và răng vĩnh viễn .............................................. 39
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ về phương pháp thực hành VSRM.........................................43
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ về thói quen ăn vặt của học sinh ...........…………………….46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ART
Atraumatic Restorative Treatment (Trám răng không sang chấn)
BRM
Bệnh răng miệng
Răng hàm mặt
SR
Sâu răng
smt
Sâu mất trám răng sữa
SMT
Sâu mất trám răng vĩnh viễn
VQR
Viêm quanh răng
VV
Vĩnh viễn
WHO Tổ chức Y tế thế giới ( World Health Organization )
YTHĐ
Y tế học đường
ĐẶT VẤN ĐỀ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
phòng bệnh răng miệng là công tác trọng tâm của ngành Răng Hàm Mặt. Tổ chức
và phát triển Nha học đường (NHĐ) là biện pháp phòng và làm giảm dần bệnh
răng miệng cho lứa tuổi trẻ em ở trường học [ 14], [ 15].
Chương trình Nha học đường đã triển khai rộng khắp đến 63 tỉnh, thành
phố trong cả nước nhưng tỷ lệ bệnh răng miệng ở tuổi học sinh vẫn còn cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
10
Các nghiên cứu can thiệp đều cho thấy nếu làm tốt công tác NHĐ thì tỷ lệ
bệnh răng miệng sẽ giảm. Việc đẩy mạnh công tác phòng bệnh RM đặc biệt là
chương trình nha học đường là thiết thực cho sức khoẻ học sinh và hữu ích cho
việc tiết kiệm ngân sách quốc gia, giảm gánh nặng cho ngành Y tế và giảm chi
phí cho xã hội góp phần cải thiện sức khoẻ cộng đồng [5], [16].
Văn Chấn là huyện miền núi của tỉnh Yên Bái. Trong những năm qua,
chương trình nha học đường đã được triển khai và thực hiện đến các trường học ở
các xã trong huyện nhằm làm giảm tỷ lệ mắc bệnh răng miệng và nâng cao sức
khỏe cho học sinh tuổi học đường nói riêng và sức khỏe nhân dân trên địa bàn
huyện nói chung. Tuy nhiên việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt,
công tác tổ chức còn mang tính hình thức và chưa được quan tâm đúng mức, do
đó tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh tại các trường phổ thông còn cao .
Từ những nhu cầu thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : "Nghiên
cứu thực trạng và kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh răng miệng của học sinh tiểu
học tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái năm 2009 " với các mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng bệnh răng miệng và kiến thức, thái độ, thực hành của
học sinh trường tiểu học Nghĩa Lộ và Nậm Búng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
về chăm sóc sức khoẻ răng miệng..
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng của học sinh hai
chất đường và vi khuẩn Streptococcus Mutans và giải thích bệnh căn sâu răng
bằng sơ đồ KEY như sau:
Đường
Vi
khuẩn
Răng
Sơ đồ Key (sơ đồ 1) [48]
Theo sơ đồ Key, việc phòng bệnh sâu răng tập trung vào chế độ ăn hạn chế
đường, tiến hành vệ sinh kỹ răng miệng song kết quả phòng bệnh sâu răng vẫn bị
hạn chế [18]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
12
Sau nm 1975 ngi ta lm sỏng t hn cn nguyờn bnh sõu rng v gii
thớch bng s WHITE thay th mt vũng trũn ca s KEY (cht ng)
bng vũng trũn cht nn (Substrate) nhn mnh vai trũ nc bt (cht trung ho Buffers) [26] v pH ca dũng chy mụi trng xung quanh rng. Ngi ta cng
thy rừ hn tỏc dng ca Fluor khi gp Hydroxyapatite ca rng kt hp thnh
Fluoroapatit rn chc, chng c s phõn hu ca axớt to thnh thng tn sõu
rng.
Răng
Vi khuẩn
Chất nền
- Trám bít hố rãnh
- Độ Ca ++ NPO4 quanh răng
- pH > 5,5
Với những nghiên cứu về căn nguyên của sâu răng, người ta thấy sâu răng
là một bệnh, các lỗ sâu chỉ là dấu hiệu của bệnh đang hoạt động. Theo Peter
Cleaton 98% những nguy cơ chủ yếu gây sâu răng ở trẻ em là do ăn uống thiếu
Fluor, vệ sinh răng miệng kém và ăn chất ngọt (đường) mà không kiểm soát được
[52]. Năm 1995 Hội Nha khoa Hoa Kỳ đã đưa ra khái niệm sâu răng là bệnh
nhiễm trùng với vai trò gây bệnh của vi khuẩn và giải thích nguyên nhân sâu răng
bằng sơ đồ với ba vòng tròn của các yếu tố vật chủ (răng: gồm men răng, ngà
răng, xương răng) môi trường( thức ăn có khả năng lên men chứa carbohydrate)
và tác nhân (vi khuẩn chủ yếu là Streptococcus Mutans và Lactobacillus) như
sau:
Vật chủ
Tác nhân
BÖnh
lý
M«i
tr-êng
Nguyên nhân sâu răng theo Hội Nha khoa Hoa kỳ [18] (sơ đồ 3)
Cũng từ những hiểu biết mới về căn nguyên của sâu răng, người ta cho rằng
bất cứ một phương pháp nào có thể ngăn cản được phản ứng sâu răng theo chiều
từ trái sang phải (mất khoáng) hoặc làm gia tăng chiều từ phải sang trái (tái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Khi lợi viêm, sẽ có biến đổi giải phẫu như bờ viền lợi tròn, tấy đỏ và phù nề,
mềm. Nhóm vi khuẩn thường kết hợp với viêm lợi là xoắn khuẩn Actinomyces
(Gram dương, hình sợi) và Eikenella (Gram âm, hình que) [11], [41].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
15
Viêm lợi hoại tử loét cấp tính đặc trưng bởi sự hoại tử của gai lợi, chảy
máu tự phát, có mùi hôi. Người ta cho rằng đây là bệnh có liên quan đến stress.
Bệnh này thường có tỷ lệ thấp ở các nước phát triển và cao hơn ở các nước chậm
phát triển và trẻ em nghèo đói. Tuy nhiên, viêm lợi không phải là thể báo trước
của viêm quanh răng. Viêm lợi mạn có thể tồn tại trong một thời gian dài mà
không gây ra viêm quanh răng. Ngược lại có nhiều tác nhân để viêm lợi trở thành
viêm quanh răng, đó là các tác nhân gây bệnh kết hợp với vi khuẩn và phản ứng
bất thường của vật chủ.
- Viêm quanh răng là thời kỳ tiến triển nặng hơn của bệnh quanh răng: lợi,
xương và các tổ chức khác giữ răng sẽ bị phá huỷ. Răng có thể bị rụng hoặc lung
lay hoặc thay đổi vị trí. Ở thời kỳ này đòi hỏi những sự điều trị kết hợp với giữ
cho khỏi mất răng [18].
Theo nghiên cứu của các tác giả ở các nước thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu
Á đều cho thấy tỷ lệ trẻ em bị bệnh sâu răng và viêm quanh răng cao ở mức trên
90%. Trẻ em bệnh quanh răng có tỷ lệ mắc cao, có nhiều nơi trên 90% trẻ em
mắc bệnh này. Tuy nhiên bệnh quanh răng ở trẻ em thường được biểu hiện là
viêm lợi, tỷ lệ viêm lợi khác nhau theo tuổi [39], [34].
Bệnh viêm quanh răng liên quan đến tuổi ở thời kỳ răng sữa. Năm 1983
Spencer nghiên cứu 128 trẻ em Úc 5 - 6 tuổi thấy mức độ viêm lợi nhẹ quanh
răng sữa, ít viêm lợi nặng và thấy ít liên quan đến vệ sinh răng miệng.
2
Nigeria
89
3
Mỹ
89
4
Phần Lan
72
5
Thụy Sỹ
97
Theo WHO năm 1997, các nước trong khu vực có trên 80% dân số bị
sâu răng và viêm lợi. Chỉ số SMT lứa tuổi 12 ở mức cao từ 0,7 đến 5,5 ( ở
Trung Quốc là 0,7, ở Lào là 2,4, ở Campuchia là 4,9, ở Philippin là 5,5, Việt
Nam là 0,8) [9], [45], [52].
1.1.2. Tình hình bệnh răng miệng ở Việt Nam
Nguyễn Thị Ngân Hà, Hoàng Tử Hùng nghiên cứu tại Đà Nẵng cho thấy 77,4%
HS có nhu cầu điều trị chỉnh hình răng mặt, có 67,5% PHHS có yêu cầu điều trị
chỉnh hình răng hàm cho con [13].
1.1.2.2. Diễn biễn bệnh răng miệng theo tuổi và thời gian
Theo điều tra của Viện Răng hàm mặt năm 2001, tỷ lệ sâu răng sữa giảm
dần theo tuổi vì ở hai lứa tuổi 6-8 và 9-11 đang là lứa tuổi thay răng nên càng lớn
số răng càng thay nhiều nên tỷ lệ sâu răng cũng như chỉ số smt giảm đi . Ở tuổi
từ 6-8 smt là 5,84 , ở tuổi từ 9-11 là 2,03. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn và chỉ số
SMT tăng dần theo tuổi vì tuổi càng lớn thời gian phơi nhiễm với tác nhân gây
bệnh càng dài. Sâu răng ở tuổi từ 6-8 là 26%, ở tuổi 15-17 là 68,6%. SMT ở tuổi
từ 6-8 là 0,49, ở tuổi từ 15-17 là 2,45. Năm 2002, Nguyễn Hoàng Anh và Hoàng
Tử Hùng khảo sát tình hình sức khoẻ răng miệng HS tại tỉnh Long An cho thấy
tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMT tăng dần theo lứa tuổi [27] .
Trong viêm lợi lứa tuổi dậy thì sự tăng sinh lợi không tương ứng với tình
trạng mảng bám răng và vệ sinh răng miệng của bệnh nhân [18].
Ở tuổi dậy thì, phản ứng tổ chức đối với mảng bám mạnh mẽ hơn, sau tuổi
dậy thì, mức độ nặng của viêm lợi giảm xuống. Năm 1991 theo điều tra cơ bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
18
toàn quốc của Viện RHM tỷ lệ sâu răng, viêm lợi cũng tăng theo lứa tuổi: 12 tuổi
(SR là 57,3%, viêm lợi là 95%). Bệnh SR và viêm quanh răng tăng theo lứa tuổi
như vậy phù hợp với thời gian phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ càng dài thì tỷ
lệ bệnh càng cao [38], [39].
Từ những năm của thập kỷ 60 đến 90 đã có những nghiên cứu tình trạng sâu
răng ở Việt Nam nói chung và ở trẻ em nói riêng cho thấy tỷ lệ bệnh RM tăng
dần theo lứa tuổi và tăng dần theo thời gian.
Từ 1908 Liên đoàn Nha khoa Quốc tế (FDI) đã quan tâm đến dự phòng sâu
răng và tìm kiếm các biện pháp phòng ngừa. Tại các hội nghị của FDI năm 1951,
1960 và 1966 đều kết luận việc fluor hoá nước uống là biện pháp phòng bệnh có
hiệu quả và ít tốn kém nhất. Tuy nhiên vào những năm 60 -70 ngành Nha khoa của
hầu hết các nước đều tập trung vào chữa, phục hồi SR và viêm quanh răng, công việc
tốn kém, ít hiệu quả [18].
Theo báo cáo của WHO năm 1978 hàng năm Mỹ tốn 100 triệu giờ công lao
động, 9 tỷ USD cho việc chữa răng, phí tổn điều trị hơn 10 USD cho một răng ở
trẻ em. Chi phí cho điều trị răng một năm ở Anh là 180 triệu bảng Anh, còn ở
Pháp là 8 tỷ france và 25 triệu giờ công lao động [12].
Sau đó các nước phát triển tập trung vào phòng bệnh, coi như một chính
sách lớn của Nhà nước và của ngành Y tế. Kết quả là 20 năm trở lại đây, tỷ lệ sâu
răng ở các nước Bắc Âu, Anh, Mỹ... đã giảm đi một nửa. Đây là một thành tựu
lớn từ đó WHO đã kêu gọi các nước chậm phát triển đẩy mạnh công tác phòng
bệnh RM như các nước phát triển đã làm [5]. Như vậy vai trò của công tác chăm
sóc răng miệng (CSRM) tại cộng đồng rất lớn.
Tại Australia 50% thời gian của bác sỹ nha khoa là làm công tác phòng bệnh
[4]. Kem đánh răng có fluor là biện pháp cá nhân hàng đầu, fluor hoá nước là biện
pháp cộng đồng tốt nhất, có tác dụng ở mọi giai đoạn của sâu răng. Cả hai biện pháp
trên là nguyên nhân chính làm giảm tỷ lệ sâu răng ở Australia [56].
- Năm 1984 WHO đã đưa ra các biện pháp dự phòng sâu răng và viêm
quanh răng như sau :
+ Dự phòng SR: fluor hoá nước uống, đưa fluor vào muối, súc miệng bằng
dung dịch fluor cho trẻ em, dùng kem đánh răng có fluor, trám bít hố rãnh răng,
chế độ ăn dự phòng, hướng dẫn vệ sinh RM, phát hiện sớm và điều trị dự phòng.
+ Dự phòng bệnh quanh răng: Làm sạch mảng bám răng là biện pháp can
thiệp phòng chống bệnh quanh răng. Đánh răng là việc làm quan trọng để làm
sạch mảng bám răng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
kem đánh răng có fluor, và sữa đóng hộp có fluor trước 8 tuổi .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.Lrc-tnu.edu.vn