Thừa kế thế vị và hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự về thừa kế
thế vị
Trong giai đoạn phát triển của quá trình lập pháp, các quan hệ thừa kế luôn là một
trong những mối quan hệ quan trọng. Với bản chất là một quan hệ tài sản, quan hệ
thừa kế dưới tác động của nền kinh tế thị trường cũng trở nên phong phú và phổ
biến trong giao lưu dân sự, Chính vì thế, chế định thừa kế có vị trí quan trọng và
thuacj sự cần thiết trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam. Vấn đề
quan trọng luôn được đặt ra hàng đầu trong giải quyết tranh chấp thừa kế là việc xác
định ai là người thừa kế di sản.Để xác định những người có quyền hưởng thừa kế
phải dựa vào mối quan hệ của người đó với người để lại di sản.Nếu thừa kế theo di
chúc là sự biểu hiện ý chí của người để lại di sản thì việc xác định những người
thuộc diện hưởng thừa kế chỉ xảy ra khi di sản được chia theo pháp luật. Thừa kế
thế vị là một trường hợp của thừa kế theo pháp luật. Với mong muốn tìm hiểu về
trường hợp thừa kế đặc biệt này, sau đây em xin đi sâu phân tích để làm rõ đề tài:
“Thừa kế thế vị và hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự về thừa kế thế vị”.
Đây là vấn đề đòi hỏi kiến thức sâu rộng, do sự am hiểu về vấn đề này của em còn
hạn hẹp nên bài viết không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được những
ý kiến đánh giá của thầy cô về bài viết để em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THẾ VỊ
1. Khái niêm thừa kế và quyền thừa kế
1.1. Khái niệm thừa kế
Thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự dịch chuyển tài sản và
quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền
hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di
chúc hoặc theo pháp luật.
1.2 Khái niệm quyền thừa kế
Xuất phát từ những quan hệ xã hội đời thường và được điều chỉnh bởi các quy
nhân này phải có một trong ba mối quan hệ với người để lại di sản: quan hệ hôn
nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. Tuy nhiên, không phải bất cứ cá
nhân nào có một trong ba quan hệ này với ngườ để lại di sản cũng được hưởng thừa
kế mà việc thừa kế được xác định theo hàng. Tương tự như vậy, không phải ai trong
các hàng thừa kế cũng được hưởng di sản mà điều này còn phụ thuộc vào nguyên
tắc ưu tiên của hàng thừa kế.
Theo quy định tại Điều 674 BLDS 2005 thì: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo
hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.
2.1.1. Diện thừa kế
Diện thừa kế là phạm vi những người có thể được hưởng di sản do người chết để lại
được xác định theo một trong ba quan hệ: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống,
quan hệ nuôi dưỡng.
Người thừa kế theo pháp luật phải có một trong ba quan hệ này đối với người để lại
di sản:
Quan hệ hôn nhân: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”
(Điều 8, Luật HN&GĐ 2000). Như vậy, chỉ coi là quan hệ hôn nhân giữa một người
nam và một người nữ nếu họ kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ và chồng có
quyền và nghĩa vụ đối với nhau và một trong những quyền của vợ chồng được pháp
luật thừa nhận là “vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của
pháp luật về thừa kế” (Khoản 1, Điều 31, Luật HN&GĐ 2000). Quan hệ hôn nhân
hợp pháp được xác lập bằng việc đăng kí kết hôn theo đúng trình tự, thủ tục quy
định trong Luật HN&GĐ 2000.
Ngoài quan hệ hôn nhân hợp pháp, trong thực tiễn xuất hiện khái niệm “hôn nhân
thực tế” quy định về những trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng,
đời sống chung hạnh phúc, mục đích hôn nhân đạt được, nhưng không có giấy đăng
kí kết hôn. Vấn đề này được ghi nhận là một giải đáp tình thế nhằm giải quyết
những vấn đề con chung của vợ chồng, tài sản của vợ chồng, vấn đề thừa kế di sản
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nhất là bảo vệ quyền lợi của
vợ và chồng cần lưu ý:
Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau
đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được tòa án cho ly
hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì
người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau
đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
Đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng được pháp luật thừa nhận:
Đó là các trường hợp có nhiều vợ nhiều chồng trước ngày 13/1/1960 ở miền Bắc,
trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam, cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc (trong khoảng
thời gian từ 1954 đến năm 1975) lấy vợ, lấy chồng khác và cuộc kết hôn sau không
bị tòa án hủy bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này,
người chồng (vợ) được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của tất cả những
người vợ (chồng) và ngược lại.
- Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và ngược lại:
Cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ được thừa kế theo pháp luật của nhau không chỉ là quy định
của pháp luật thừa kế của Việt Nam mà là của hầu hết các nước trên thế giới. Con
đẻ được hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ không kể là con trong giá thú hay con ngoài
giá thú và ngược lại.
- Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại:
Trước đây, đã có giai đoạn pháp luật chỉ cho phép con nuôi được thừa kế của bố mẹ
nuôi chứ không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của bố mẹ đẻ và anh chị em ruột,
ngược lại cha đẻ, mẹ đẻ của người đang làm con nuôi cũng không thuộc diện thừa
kế theo pháp luật của người con đẻ đó. Tuy nhiên, theo quy định của BLDS 1995,
BLDS 2005 thì cha mẹ nuôi và con nuôi được thừa kế di sản của nhau và nếu một
người đi làm con nuôi của người khác thì vừa có thể được thừa kế theo pháp luật
của cha mẹ nuôi, vừa có thể được thừa kế theo pháp luật của cha mẹ đẻ và cha mẹ
phần bằng nhau, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu
không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất
quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản (nguyên tắc hàng trước được ưu tiên).
Khi tất cả các hàng thừa kế đều không còn người thừa kế thì di sản thuộc về Nhà
nước.
2.2. Khái niệm chung về thừa kế thế vị
Điều 677 BLDS 2005 quy định về thừa kế thế vị như sau: “Trong trường hợp con
của người để lai di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản
thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn
sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì
chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.
Theo nguyên tắc chung, người thừa kế là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế,
nhưng pháp luật thừa kế nước ta quy định trường hợp khi con của người để lại di
sản chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì quyền thừa
kế thế vị của cháu vẫn được đảm bảo và nếu cháu cũng đã chết trước hoặc chết
cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cũng tương tự, quyền thừa kế thế vị
của chắt cũng sẽ không bị xâm phạm. Quy định của điều luật này có sự khác biệt so
với quy định về thừa kế thế vị tại Điều 680 BLDS 1995. Điều 680 BLDS 1995 chỉ
quy định thừa kế thế vị trong trường hợp con hoặc cháu chết trước người để lại di
sản mà không quy định đến trường hợp cháu hoặc chắt có được thừa kế thế vị hay
không nếu cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt chết cùng vào một thời điểm với
ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại. Điểm mới này đã giải quyết thỏa đáng
quyền thừa kế thế vị của các cháu nội, ngoại hoặc các chắt nội, ngoại trong trường
hợp cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt chết trước hoặc cùng m
ột thời điểm với ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại.
Quy định trên không những phù hợp về mặt thực tế mà còn phù hợp với bản chất
của thừa kế thế vị. Tuy nhiên, quy định này mới chỉ liệt kê các trường hợp thừa kế
thế vị mà chưa định nghĩa thế nào là thừa kế thế vị. Theo từ điển giải thích thuật
kiện này, nhưng ở một hoàn cảnh đặc biệt hơn là cháu sinh ra sau khi ông, bà chết
nhưng đã thành thai trước khi ông, bà chết cũng là người thừa kế thế vị tài sản của
ông, bà chết; chắt sinh ra sau khi cụ chết nhưng đã thành thai trước khi cụ chết cũng
là người thừa kế thế vị tài sản của cụ. Thừa kế thế vị sẽ không phát sinh nếu như
trường hợp cháu hoặc chắt bị tước quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di
sản của ông, bà hoặc cụ.
Bên cạnh những điều kiện của người thừa kế theo pháp luật, muốn phát sinh quan
hệ thừa kế thế vị cần có những điều kiện đặc thù khác. Điều 677 BLDS 2005 quy
định: “Trong trường hợp con của người để lai di sản chết trước hoặc cùng một thời
điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của
cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm
với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt
được hưởng nếu còn sống”. Theo quy định trên, cháu hoặc chắt được thừa kế thế vị
của ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại với những điều kiện:
- Cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt chết trước hoặc cùng một thời điểm với ông, bà
nội, ông, bà ngoại hoặc các cụ nội, cụ ngoại.
- Cháu hoặc chắt chỉ được thừa kế thế vị hưởng di sản của ông, bà hoặc của các cụ
phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt được hưởng nếu còn sống.
2. Các trường hợp thừa kế thế vị
2.1. Thừa kế thế vị trong trường hợp thông thường
Như đã trình bày ở trên, vấn đề thừa kế thế vị được quy định tại Điều 677 BLDS
2005. Theo quy định này thì thừa kế thế vị là viieecj con thay thế vị trí của bố hoặc
mẹ để hưởng di sản từ ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc cụ nội, cụ ngoại
nếu bố, mẹ đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với những người này. Phần
di sản mà người con được hưởng trong khối di sản của người để lại di sản thừa kế
nói trên là phần di sản mà bố hoặc mẹ của người đó được hưởng nếu còn sống.
Điều 677 BLDS 2005 chỉ quy định “con” của người để lại di sản mà không quy
ngoại, bà ngoại thì cháu được thay thế vị trí của mẹ hưởng di sản thừa kế của ông
ngoại, bà ngoại để lại. Quan hệ giữa “ông, bà”, “cháu”, “bố, mẹ” trong trường hợp
này đều dựa trên mối quan hệ huyết thống.
Khoản 1 Điều 63 Luật HN&GĐ 2000 quy định về con chung của vợ chồng như sau:
“Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con
chung của vợ chồng”. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cha, mẹ và con,
Điều 63 Luật HN&GĐ 2000 còn quy định thêm nội dung “Con sinh ra trước ngày
đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng”. Bên
cạnh đó, Điều 63 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ 2000 (Nghị định số 71/2001/NĐ-CP) còn
hướng dẫn: Con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày người chồng chết hoặc kể
từ ngày bản án, quyết định của Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật
thì được xác định là con chung của 2 người. Như vậy, con được sinh ra trong thời kì
hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó, cũng như con sinh ra trước
ngày đăng kí kết hôn nhưng được cha mẹ thừa nhận đều được pháp luật công nhận
là con chung của vợ chồng. Quan hệ giữa cha, mẹ và con trong trường hợp này dựa
trên sự kiện thụ thai và sinh đẻ, con được sinh ra trong thời kì này mặc nhiên được
suy đoán là con đẻ của vợ chồng. Đương nhiên cha mẹ và con đẻ có quyền thừa kế
của nhau theo quy định của pháp luật và theo quy định về thừa kế thế vị. Trường
hợp người chồng không công nhận mối quan hệ huyết thống này thì có quyền chứng
minh mình không phải là cha đứa trẻ và Tòa án sẽ xác nhận về những chứng cứ
chứng minh này (điểm b, mục 5 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày
23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng 1
số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000).
Đối với trường hợp con ngoài giá thú, việc xác định mẹ cho con ngoài giá thú thì
người mẹ phải có nghĩa vụ chứng minh trước cơ quan pháp luật mình đã sinh ra đứa
trẻ đó (bằng giấy chứng sinh hoặc 1 chứng cứ nào đó tương tự). Đối với việc xác
định quan hệ cha - con cho con ngoài giá thú, điểm b mục 5 Nghị quyết số
Nếu cụ không còn người có quyền hưởng di sản ở hàng thứ nhất thì trường hợp chắt
thay thế vị trí của cha mẹ mình hưởng di sản của cụ sẽ phát sinh trong trường hợp
ông, bà không được quyền hưởng di sản của cụ và cha, mẹ của chắt chết trước hoặc
chết cùng thời điểm với cụ, khi đó chắt được thế vị cha, mẹ mình để hưởng thừa kế
đối với di sản của cụ.
2.2. Thừa kế thế vị trong trường hợp có nhân tố con nuôi
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì giữa con nuôi với
các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ
giống như con đẻ. Theo đó, quyền thừa kế của người được nhận nuôi được đảm bảo
như đối với người con đẻ trong gia đình người nhận nuôi con nuôi – nghĩa là người
con nuôi và những người khác trong gia đình người nhận nuôi như cha đẻ, mẹ đẻ
của người nhận nuôi; con đẻ của người nhận nuôi, anh, chị, em ruột của người nhận
nuôi sẽ là những người thừa kế theo pháp luật của nhau và quan hệ thừa kế thế vị
theo quy định tại Điều 677 cũng sẽ phát sinh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật
định.
Vấn đề thừa kế thế vị có nhân tố con nuôi trong BLDS hiện nay được quy định tại
Điều 678, theo đó: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và
còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này”
2.3. Thừa kế thế vị của con riêng, cha dượng, mẹ kế
Quy định về thừa kế thế vị giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế được ghi nhận tại
Điều 27 Pháp lệnh thừa kế 1990, Điều 682 BLDS 1995 và cho đến nay, vấn đề này
được sửa đổi, bổ sung tại Điều 679 BLDS 2005. Theo đó: “Con riêng và bố dượng,
mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được
thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và
Điều 677 của Bộ luật này”. Có thể hiểu điều luật này như sau: Thừa kế theo pháp
luật là thừa kế theo hàng thừa kế, trình tự và điều kiện thừa kế do pháp luật quy
định. Điều 676 BLDS 2005 quy định về những người thừa kế theo pháp luật được
sắp xếp thành những hàng thừa kế nhất định, trong đó không có quy định về quan
thừa kế vi phạm nghiêm trọng hoặc có hành vi trái đạo đức xã hội bị pháp luật tước
quyền hưởng di sản, Luật Dân sự nước ta cũng như Luật Dân sự của các nước khác
trên thế giới đều có quy định về những người không được quyền hưởng di sản thừa
kế.
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm
với người để lại di sản nhưng người đó khi còn sống đã bị kết án về một trong các
hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 thì cháu có được thừa kế
thế vị hay không? Có hai quan điểm chính được đưa ra xung quanh vấn đề này:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trường hợp này cháu không được hưởng thừa kế thế
vị bởi vì thừa kế thế vị chỉ phát sinh trong trường hợp con của người để lại di sản
chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản nếu còn sống. Nếu cháu
cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được
hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Cơ sở thừa
kế thế vị của cháu, chắt là dựa vào quyền thừa kế theo pháp luật của bố hoặc mẹ của
họ nếu còn sống. Vì vậy, cháu không thể thừa kế thế vị của ông, bà nếu cha hoặc mẹ
của cháu khi còn sống không có quyền hưởng (do bị tước quyền) thừa kế theo pháp
luật của ông, bà.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Để bảo vệ quyền hưởng di sản của cháu, chắt khi bản
thân họ không bị tòa án tước quyền, không bị người để lại di sản truất quyền hưởng
di sản, họ có năng lực thừa hưởng thì pháp luật nên cho họ hưởng thừa kế thế vị
thay cho cha, mẹ họ bị tước. Hơn nữa, trong thực tế, có những người con của người
không được hưởng di sản thừa kế không hề mong muốn cha, mẹ mình có những
hành vi không còn xứng đáng hưởng di sản thừa kế của người đã chết nhưng không
ngăn cản được vì một lý do nào đó không hề có lỗi trong hành vi xử sự của cha, mẹ
của họ.
Theo em, pháp luật quy định không cho cháu (chắt) được thừa kế thế vị trong
trường hợp cha hoặc mẹ của cháu, chắt khi còn sống đã bị kết án về một trong các
hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005. Vì cha mẹ của cháu, chắt
thực tế thi hành BLDS 2005, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với
những quy định mới của BLDS nói chung và thừa kế nói riêng chưa kịp ban hành là
một nguyên nhân gây khó khăn cho hoạt động xét xử của Tòa án. Nhiều quy định
về thừa kế thế vị của BLDS 1995 tiếp tục được thừa kế trong BLDS 2005 nhưng
thực tiễn pháp luật đã gặp nhiều vướng mắc do chưa có hướng dẫn đầy đủ, dẫn đến
việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các cấp Tòa án. Bên cạnh đó, cũng có trường
hợp do nhận thức của thẩm phán chưa thật sự đúng đắn hoặc do sai sót của thẩm
phán khi giải quyết vụ án chưa xác định đúng khối di sản thừa kế, xác định sai thời
điểm mở thừa kế, xác định chưa đúng những người thuộc diện và hàng thừa kế thế
vị,… Từ thực tế đó, em xin đưa ra một số ý kiến đóng góp về những điều luật cần
sửa đổi hoặc cần có hướng dẫn cụ thể nhằm giải quyết những khó khăn vướng mắc
khi Tòa án xét xử những vụ án tranh chấp về thừa kế có liên quan đến thừa kế thế
vị.
2. Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về thừa kế thế vị
2.1. Thừa kế thế vị có nhân tố con nuôi
Trường hợp người nhận nuôi con nuôi chết trước hoặc cùng một thời điểm với cha
mẹ đẻ của họ thì người con nuôi của họ không được thừa kế thế vị. Theo hướng dẫn
của Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 19/10/1990 thì: “Con nuôi chỉ có quan hệ thừa kế
với cha nuôi, mẹ nuôi mà không có quan hệ thừa kế với cha mẹ đẻ và con đẻ của
người nuôi. Do đó, con nuôi không phải là thừa kế theo pháp luật của cha mẹ và con
đẻ của người nuôi”. Mặt khác, giữa người con nuôi với cha mẹ đẻ của người nhận
nuôi con nuôi không tồn tại bất cứ quan hệ nào, họ không có quan hệ huyết thống,
cũng không có nghĩa vụ nuôi dưỡng, do đó không có quan hệ thừa kế thế vị.
Trường hợp người con nuôi chết trước hoặc cùng một thời điểm với cha nuôi, mẹ
nuôi thì người con đẻ của người con nuôi không được thừa kế thế vị vì giữa con đẻ
của người con nuôi với người con nuôi có quan hệ huyết thống với nhau, còn giữa
cha mẹ của người con đẻ với ông bà đã nhận nuôi dưỡng cha mẹ họ không có quan
hệ nuôi dưỡng. Như vậy, người con đẻ của người con nuôi không thể được coi là
Nếu cha hoặc mẹ của cháu, chắt khi còn sống đã bị kết án về một trong các hành vi
quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 thì cháu, chắt vẫn được thừa kế thế vị để
bảo vệ quyền hưởng di sản của cháu, chắt khi bản thân họ không bị tòa án tước
quyền, không bị người để lại di sản truất quyền hưởng di sản, họ có năng lực thừa
hưởng.
KẾT LUẬN
Quan hệ thừa kế về bản chất là quan hệ sở hữu nên việc giải quyết các tranh chấp
trên thực tế không thỏa đáng hoặc không đảm bảo quyền và lợi ích của các đương
sự sẽ gây ra rất nhiều hậu quả và gây bất bình long dân. Do vậy, cần phải xác định
đúng, chính xác diện và hàng thừa kế sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp trên
thực tế được dễ dàng, nâng cao hiệu quả công tác xét xử, tạo niềm tin vào Nhà nước
và Pháp luật.