ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VIẾT GIANG
THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VIẾT GIANG
THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2005
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Trung Tập
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THẾ VỊ
6
1.1.
Khái quát chung về thừa kế
6
1.1.1.
Khái niệm thừa kế
6
1.1.2.
Quyền thừa kế
7
1.1.3.
Quan hệ pháp luật thừa kế
9
1.2.
1.3.2.
Giai đoạn sau năm 2005
16
Chương 2: THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
18
DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2005
2.1.
Nguyên tắc và điều kiện hưởng thừa kế thế vị
18
2.1.1.
Nguyên tắc hưởng thừa kế thế vị
18
2.1.1.1. Thừa kế thế vị không phát sinh trên cơ sở thừa kế theo di chúc
18
2.1.1.2. Người thừa kế phải là con cháu trực hệ của người chết trước
hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản
Chủ thể thừa kế thế vị
24
2.2.2.
Di sản thừa kế thế vị
29
2.2.3.
Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế thế vị
31
2.3.
Các trường hợp được hưởng và loại trừ thừa kế thế vị
35
2.3.1.
Các trường hợp được hưởng thừa kế thế vị
35
2.3.1.1. Thừa kế thế vị theo quan hệ huyết thống
LUẬT VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ VÀ PHƢƠNG HƢỚNG
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ
THẾ VỊ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
3.1.
Thực trạng áp dụng các quy định về thừa kế thế vị ở nước ta
55
3.2.
Phương hướng hoàn thiện các quy định về thừa kế thế vị
trong Bộ luật Dân sự năm 2005
57
3.2.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về thừa kế thế vị
57
3.2.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về thừa kế
thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2005
72
nhiều mối quan hệ như: quan hệ giữa cha mẹ với con đẻ, quan hệ giữa cha mẹ
nuôi và con nuôi, quan hệ giữa con riêng của vợ chồng với bố dượng, mẹ
kế… nên việc hiểu và áp dụng những quy định này trong việc giải quyết phân
chia di sản liên quan đến vấn đề thừa kế thế vị trên thực tế vẫn còn nhiều bất
cập về cả lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: "Thừa kế thế vị theo
quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005" làm luận văn thạc sĩ luật
học để đáp ứng được yêu cầu về tính cấp thiết trong lý luận và trong thực tiễn
thi hành, áp dụng pháp luật. Trong một chừng mực nhất định, tác giả mong
muốn từ việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ thêm vấn đề về hiệu lực
6
điều chỉnh cũng như góp phần hoàn thiện hơn các quy phạm pháp luật về thừa
kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thừa kế thế vị là một nội dung quan trọng trong các quy định pháp
luật về thừa kế. Liên quan đến vấn đề này từ trước đến nay đã nhiều cuốn
sách, công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau của các tác giả như: Luật
sư Lê Kim Quế có cuốn sách "Câu hỏi và giải đáp pháp luật về thừa kế"; Tiến
sĩ Đinh Văn Thanh và Luật sư Trần Hữu Biền có cuốn sách "Hỏi đáp về pháp
luật thừa kế"; Phó giáo sư, Tiến sĩ Phùng Trung Tập có 2 cuốn sách "Thừa kế
theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 từ trước đến nay" và
"Luật thừa kế Việt Nam"; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện có cuốn sách "Bình luận
khoa học về thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Hồng Bắc về "Vấn đề thừa kế theo pháp luật ở Việt Nam"; Luận văn
thạc sĩ của Chế Mỹ Phương Đài về "Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật
Dân sự Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ của Lê Đức Bền "Thừa kế theo pháp luật
của cháu, chắt theo quy định của pháp luật Việt Nam"... Ngoài ra, còn có
- Làm rõ sự hình thành và phát triển của các quy định về thừa kế thế vị
trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
- Phân tích các trường hợp được thừa kế thế vị và các trường hợp
không được thừa kế thế vị, so sánh các quy định về thừa kế thế vị trong Bộ
luật Dân sự năm 2005 với các quy định pháp luật trước đó về vấn đề này để
thấy được tính kế thừa, phát triển cũng như tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng
các quy định về thừa kế thế vị.
- Làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về thừa kế thế vị.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về thừa
kế thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2005.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung quy định pháp luật về thừa kế
thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2005, có so sánh với các quy phạm pháp luật
liên quan đến vấn đề thừa kế thế vị ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử, tập
8
trung nghiên cứu các quy định từ năm 1995 đến nay, đặc biệt là quy định về
thừa kế thế vị của Bộ luật Dân sự năm 2005.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước
về pháp luật. Đặc biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước về sở hữu tư
nhân, về thừa kế trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập.
Đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngoài ra, tác giả còn sử
dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phương pháp
phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp...
6. Tính mới và những đóng góp của luận văn
Trên cơ sở phân tích nội dung quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ
1.1.1. Khái niệm thừa kế
Mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản của mình cho người khác sau
khi chết. Thừa kế là tất yếu của xã hội tư hữu. Trong nghiên cứu của mình
Ph.Ăngghen đã viết:
Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc
chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc
mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại
trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong
thực tiễn người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích
nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với mẹ [1, tr. 79].
Theo quan niệm truyền thống, thừa kế được hiểu là việc người đang
còn sống thừa hưởng tài sản của người đã chết. Theo Từ điển Tiếng Việt thì:
"Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho" [14, tr. 972]. Theo Từ điển Luật
học thì: "Thừa kế là sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác
theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật" [45, tr. 486]. Từ điển giải
thích thuật ngữ luật học của Trường Đại Học Luật Hà Nội định nghĩa: "Thừa
kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống" [42, tr. 123].
Như vậy, theo cách hiểu, định nghĩa trên thì bản chất của thừa kế
chính là sự dịch chuyển tài sản và quyền sở hữu tài sản của người chết cho tổ
chức, cá nhân có quyền hưởng thừa kế và người thừa kế trở thành chủ sở hữu
của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Đó là sự tiếp nối
giữa việc để lại di sản của người đã chết với việc nhận di sản của người còn
sống và sự tiếp nối này luôn làm phát sinh các quan hệ sở hữu về tài sản. Do
11
sự chuyển dịch tài sản từ người chết sang người sống. Do đó, về lý luận thì
quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc
dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một
trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền và nghĩa vụ, phương
thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.
Theo nghĩa hẹp thì quyền thừa kế là quyền của người để lại di sản và
quyền của người nhận di sản. Theo đó công dân có quyền để lại tài sản cho
người khác, nhận tài sản, từ chối nhận di sản, khởi kiện hoặc không khởi kiện
về thừa kế. Tuy nhiên, quyền thừa kế của công dân theo nghĩa hẹp này phải phù
hợp với các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng.
Quyền thừa kế vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan.
Theo nghĩa chủ quan: quyền thừa kế chính là quyền của con người,
quyền của người để lại di sản và quyền của người hưởng di sản. Người để lại
di sản có quyền lập di chúc, chỉ định người hưởng di sản, còn người hưởng di
sản có quyền nhận di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Theo nghĩa khách quan: quyền thừa kế được hiểu là một chế định
pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh quan hệ giữa người để lại di
sản với người hưởng di sản. Quyền thừa kế ở phương diện khách quan mang
tính quyết định đối với quyền thừa kế ở phương diện chủ quan. Nghĩa là, pháp
luật quy định cho cá nhân (chủ thể) trong quan hệ thừa kế được hưởng các
quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định.
Mỗi nhà nước có những quy định về vấn đề sở hữu và thừa kế khác
nhau. Quy định về thừa kế do quy định về sở hữu quyết định và thường tồn tại
một cách tương ứng với nhau. Mối quan hệ giữa sở hữu và thừa kế phát sinh
trong xã hội có liên quan mật thiết với nhau, song song tồn tại cùng nhau. Do
đó, quyền sở hữu và quyền thừa kế cũng có mối quan hệ hết sức mật thiết và
chặt chẽ. Pháp luật quy định chế độ sở hữu về tài sản của cá nhân, quy định
quyền của cá nhân đối với tài sản của mình, trong đó có quyền thừa kế. Vì
hướng tới và là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi
tham gia quan hệ này. Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2005
14
thì: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết
trong khối tài sản chung với người khác" [27], mà theo quy định tại Điều 163
Bộ luật Dân sự năm 2005 thì "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản" [27]. Do đó, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và
phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung với người khác, là toàn bộ
vật, tiền, giấy tờ có giá thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đã chết,
quyền về tài sản của người đó. Như vậy, quan hệ pháp luật thừa kế có đặc
điểm của quan hệ vật quyền, là một quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối.
1.2. KHÁI NIỆM THỪA KẾ THẾ VỊ VÀ NHỮNG TRƢỜNG HỢP PHÁT
SINH THỪA KẾ THẾ VỊ
1.2.1. Khái niệm thừa kế thế vị
Theo nghĩa triết tự thì thế vị là sự thay thế vị trí. Theo Từ điển Giải
thích thuật ngữ Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội thì "Thừa kế thế vị là
thừa kế bằng việc thay vị trí để hưởng thừa kế" [42, tr. 125]. Theo cách hiểu
trên thì thừa kế thế vị có thể được hiểu là việc một người theo quy định pháp
luật được thay thế vị trí của một người đã chết để hưởng di sản thừa kế của
một người khác chết sau người đã chết đó.
Nghiên cứu thừa kế dưới góc độ quan hệ pháp luật thì người thừa kế
phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp
người được thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di
sản. Pháp luật đã quy định việc dịch chuyển di sản thừa kế trong các trường
hợp này gọi là thừa kế thế vị.
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, thừa kế thế vị được quy định tại
- Thừa kế thế vị của cháu: Phát sinh khi bố hoặc mẹ chết trước hoặc
chết cùng một thời điểm với ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Chỉ khi
thuộc một trong hai trường hợp này thì con được thay vị trí bố hoặc mẹ để
hưởng di sản thừa kế, tức là cháu của người để lại di sản được hưởng thừa kế
di sản của ông bà.
16
- Thừa kế thế vị của chắt: Phát sinh trong khi ông bà chết trước cụ,
cha hoặc mẹ chết sau ông bà nhưng lại chết trước hay chết cùng thời điểm với
cụ - người để lại di sản. Do đó, tương tự như trường hợp thừa kế thế vị của
cháu, khi thuộc một trong các trường hợp này thì con của người cha hoặc
người mẹ đã chết đó (tức chắt của người để lại di sản) được hưởng phần di
sản mà cha hoặc mẹ của chắt (tức cháu của người để lại di sản) được hưởng
nếu như còn sống.
Tuy nhiên để được thừa kế thế vị thì cháu, chắt phải còn sống vào thời
điểm mở thừa kế. Những người thừa kế thế vị được hưởng phần di sản mà bố
hoặc mẹ mình (hoặc ông, bà) được hưởng nếu còn sống. Thừa kế thế vị phản
ánh đúng thực tế xã hội, bảo vệ trực tiếp quyền lợi của cháu, chắt để có thể
hưởng di sản của ông bà hoặc các cụ. Quy định này hoàn toàn phù hợp với
bản chất "thế vị" của cháu, chắt đối với bố hoặc mẹ của mình để nhận di sản
thừa kế từ ông bà hoặc các cụ.
1.3. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ Ở VIỆT NAM
Thừa kế là một chế định pháp lý quan trọng trong pháp luật dân sự của
mỗi quốc gia. Theo các giai đoạn lịch sử khác nhau, với mỗi chế độ xã hội
khác nhau thì quy định pháp luật cũng có sự khác nhau và quy định về thừa kế
thế vị không phải là ngoại lệ. Ở nước ta, quy định về thừa kế thế vị xuất hiện
có quyền lợi và nghĩa vụ như con đẻ, con nuôi không chỉ có quyền thừa kế
theo pháp luật của cha nuôi, mẹ nuôi mà còn có quyền thừa kế theo pháp luật
của cha đẻ, mẹ đẻ và của những người khác cùng huyết thống. Trên cơ sở đó,
sắc lệnh này quy định người đang là con nuôi của người khác mà chết trước
cha mẹ đẻ, thì các con của người đó được thừa kế thế vị. Có thể nói quy định
này là đóng góp và tiến bộ lớn nhất của sắc lệnh 97, thể hiện đúng bản chất
chế độ xã hội dân chủ, công bằng của Nhà nước ta sau Cách mạng tháng Tám
thành công.
Năm 1956, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 1742-BNC ngày 18/9/1956
(sau đây gọi là Thông tư 1742) để hướng dẫn một số vấn đề trong việc giải
quyết tranh chấp về thừa kế. Tuy thông tư này chưa quy định cụ thể về thứ
18
bậc thừa kế nhưng theo quy định tại Điều 4, Điều 5 của Thông tư này đã xác
định rõ vợ chồng hoặc các con của người chết là những người thừa kế hàng
đầu, cháu chắt của người chết có quyền thay mặt cho cha mẹ đã chết trước
ngày mở thừa kế. Như vậy, thông tư này quy định về thừa kế thế vị chỉ giới
hạn trong phạm vi những người thân thích bậc dưới thuộc dòng máu trực hệ,
tức là cháu, chắt của người để lại di sản.
Năm 1957, Chỉ thị số 772/CT-TATC ngày 10/07/1957 của Tòa án nhân
dân tối cao ra đời đã quy định không dùng pháp luật cũ làm căn cứ cho việc
xét xử của các tòa án kể từ năm 1957. Như vậy, đến thời điểm này không có
bất kỳ một văn bản pháp luật nào quy định về việc giải quyết những tranh
chấp liên quan đến thừa kế thế vị.
Năm 1968, Thông tư số 594/TT-NCLP ngày 27/08/1968 của Tòa án
nhân dân tối cao "Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế" (sau đây gọi là
Thông tư 594) ra đời để giải quyết yêu cầu thực tiễn xét xử. Thông tư này quy
định: "Trong hàng thừa kế thứ nhất, nếu người con lại chết trước người để lại
1.3.2. Giai đoạn sau năm 2005
Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành và có hiệu lực từ ngày
01/01/2006 là sự kế thừa và hoàn thiện Bộ luật Dân sự năm 1995 và quy định
về thừa kế thế vị trong Bộ luật này nói riêng. Theo quy định của Bộ luật Dân
sự năm 2005 thì thừa kế thế vị được quy định tại Điều 677 như sau:
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước
hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được
hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn
sống; nếu cháu cũng đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với
người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ
của chắt được hưởng nếu còn sống [27].
So với Bộ luật Dân sự năm 1995 thì Bộ luật Dân sự năm 2005 bổ sung
thêm quy định về trường hợp thừa kế thế vị của cháu, chắt khi cha hoặc mẹ
của cháu, chắt chết cùng một thời điểm với ông bà hoặc các cụ. Quy định bổ
sung này đã trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích của cháu, chắt và tránh được
trường hợp di sản của ông, bà hoặc các cụ được chia cho người khác. Điều
đáng nói là Bộ luật Dân sự năm 2005 còn có một số điều luật liên quan đến
quy định về thừa kế thế vị tại các Điều 641, Điều 678, Điều 679. Theo đó, bộ
21
luật này quy định con nuôi, con riêng cũng có quyền thừa kế thế vị của cha
mẹ nuôi và cha mẹ đẻ, của cha dượng và mẹ kế.
Có thể nói, sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đánh dấu mốc
quan trọng trong pháp luật thừa kế nói chung và quy định về thừa kế thế vị
nói riêng ở nước ta. Bộ luật này là sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn
khi nền kinh tế đất nước ta đang bước sang giai đoạn mới và có hàng loạt bộ
luật mới ra đời ở các lĩnh vực khác nhau như: Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đầu tư năm 2005... Từ khi ra đời có hiệu
2.1.1. Nguyên tắc hƣởng thừa kế thế vị
Thừa kế thế vị là một phần của pháp luật thừa kế. Do vậy, thừa kế thế
vị phải phù hợp với các nguyên tắc chung của pháp luật nói chung và pháp
luật thừa kế nói riêng. Theo đó, thừa kế thế vị tuân theo 4 nguyên tắc cơ bản
sau đây:
- Thừa kế thế vị không phát sinh từ di sản chia theo di chúc.
- Người thế vị phải là con cháu trực hệ của người chết trước hoặc chết
cùng thời điểm với người để lại di sản.
- Người thừa kế thế vị phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc
sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi
người để lại di sản chết.
- Người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ
của họ được hưởng nếu còn sống.
2.1.1.1. Thừa kế thế vị không phát sinh trên cơ sở thừa kế theo di chúc
Nguyên tắc này có thể hiểu ngắn gọn là thừa kế thế vị chỉ đặt ra đối
với phần di sản chia theo pháp luật mà không phát sinh đối với quan hệ thừa
kế theo di chúc. Nói khác đi, con cháu của người chết trước hoặc chết cùng
thời điểm với người để lại di chúc không được thế vị cha, mẹ mình để hưởng
di sản thừa kế theo di chúc.
Nguyên tắc này được thể hiện rõ theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 675 Bộ luật Dân sự năm 2005: "Những người thừa kế theo di chúc đều
23
chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức
được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế" [27]
thì thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật. Ngoài ra, nguyên tắc này còn
được thể hiện tại Điều 641 Bộ luật Dân sự năm 2005 với quy định:
Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của
Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng tương tự cách hiểu này.
2.1.1.3. Người thừa kế thế vị phải là người còn sống vào thời điểm
mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã
thành thai trước khi người để lại di sản chết
Đây là nguyên tắc quan trọng và cơ bản đối với pháp luật thừa kế nói
chung và thừa kế thế vị nói riêng. Sở dĩ như vậy vì thừa kế là sự chuyển dịch
tài sản từ người chết sang cho người đang sống. Nếu người thừa kế không còn
sống vào thời điểm mở thừa kế thì việc chuyển dịch tài sản sẽ mất đi tính chất
và ý nghĩa của việc thừa kế.
Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 635 Bộ luật Dân sự
năm 2005: "Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm
mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã
thành thai trước khi người để lại di sản chết" [27].
Theo đó, có hai vấn đề cần được hiểu rõ khi tiếp cận nguyên tắc này.
Đó là hiểu như thế nào về điều kiện người thừa kế thế vị "phải còn sống vào
thời điểm mở thừa kế" và "một thai nhi sẽ được thừa kế thế vị trong trường
hợp nào?"
Quy định điều kiện người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở
thừa kế được coi là điều kiện cần, phản ánh năng lực chủ thể của người thừa
kế. Tuy nhiên, một người còn sống vào thời điểm mở thừa kế không đồng
nghĩa với việc người đó có đủ năng lực chủ thể thừa kế. Nói khác đi, đây chỉ
là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ của người thừa kế theo pháp
luật Việt Nam. Một người đang sống có thể không có năng lực chủ thể thừa
kế trong một số trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật. Theo quy
định tại Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì mọi cá nhân đều có năng lực
25