Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ BÁ HƢNG
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC MIỆNG
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT
NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Minh Tuấn
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
lieu mien
mien phi
phi
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Bảng chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài...................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .......................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài ........................................... 3
4. Phương pháp tiếp cận đề tài .......................................................................... 5
5. Những điểm mới của luận văn ...................................................................... 5
6. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC ............................ 7
1.1.
VÀI NÉT VỀ THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ ............................ 7
1.2.
KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI CHÚC ................ 8
1.2.1. Khái niệm di chúc ................................................................................ 8
1.2.2. Phân loại di chúc ................................................................................ 10
1.2.3. Đặc điểm của di chúc ......................................................................... 11
1.3.
Chương 2: CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC ............... 34
2.1.
NGƯỜI LẬP DI CHÚC ..................................................................... 34
2.1.1. Yêu cầu về độ tuổi của người lập di chúc .......................................... 34
2.1.2. Yêu cầu về nhận thức ......................................................................... 37
2.2.
Ý CHÍ CỦA NGƯỜI LẬP DI CHÚC ............................................... 38
2.2.1. Người lập di chúc hoàn toàn tự nguyện ............................................. 38
2.2.2. Người lập di chúc không bị đe dọa .................................................... 40
2.2.3. Người lập di chúc không bị lừa dối.................................................... 40
2.3.
VỀ NỘI DUNG CỦA DI CHÚC ....................................................... 41
2.3.1. Ngày, tháng, năm lập di chúc ............................................................. 41
2.3.2. Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc ....................................... 42
2.3.3. Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản .......................... 44
2.3.4. Di sản để lại và nơi có di sản ............................................................. 44
2.3.5.
Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ ......... 47
2.3.6. Quyết định để lại di sản cho nhiều người thừa kế theo di chúc ......... 47
2.4.
VỀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC .................................................... 48
3.2.1. Tranh chấp về hiệu lực của di chúc do dì chúc miệng nhưng
không có hai người làm chứng ghi chép như quy định, tuy là di
chúc có điều kiện nhưng Tòa án vẫn xử theo di chúc ........................ 69
3.2.2
Tranh chấp về hiệu lực của di chúc miệng và di chúc bằng
văn bản ............................................................................................... 71
3.2.3. Phân chia di sản trong trường hợp di chúc miệng lập không
đúng thủ tục ........................................................................................ 74
3.2.4. Công nhận di chúc miệng trong trường hợp di chúc miệng lập
không đúng thủ tục ............................................................................. 75
3.3.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NHÀM HOÀN THIỆN
THỪA KẾ THEO DI CHÚC MIỆNG ............................................... 77
3.3.1. Quy định chung vè di chúc miệng...................................................... 77
3.3.2. Quy định về người đi công chứng, chứng thực di chúc ..................... 77
3.3.3. Những bất cập trong việc công chứng, chứng thực di chúc ............... 78
3.3.4. Về hình thức di chúc miệng chung của vợ, chồng ............................. 79
3.3.5. Điều kiện người làm chứng di chúc miệng ........................................ 80
3.3.6. Sự đồng ý của cha, mẹ đối với con từ đủ mười lăm tuổi đến
chưa đủ mười tám tuổi để lại di chúc miệng ........................................ 81
3.3.7. Quy định pháp luật về việc hủy bỏ di chúc miệng ............................. 81
3.3.8. Di chúc phi văn bản khác ................................................................... 82
Kết luận chƣơng 3 ......................................................................................... 82
KẾT LUẬN .................................................................................................... 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 86
DLBK
:
Dân luật bắc kỳ
HVTKHL
:
Hoàn việt trung kỳ hộ luật
TANDTC
:
Tòa án nhân dân tối cao
VKSNDTC
:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
DSST
:
Dân sự sơ thẩm
chúc miệng nói riêng. Với việc nghiên cứu đề tài, tác giả muốn hoàn thiện
hơn nữa những quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc
miệng, nhằm mục đích nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnh của những quy
định này trong Bộ luật dân sự.
1
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cũng như thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc nói chung và đặc
biệt là điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng đã được hầu hết các luật gia, các
nhà lập pháp của các nước trên thế giới nghiên cứu. Có thể dễ dàng nhận thấy
rằng, Bộ luật dân sự của các nước đều quy định về quyền định đoạt bằng di chúc
của chủ sở hữu tài sản nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác.
Quyền định đoạt bằng di chúc là quyền dân sự được Nhà nước bảo hộ, được ghi
nhận trong Hiến pháp của Nhà nước ta và của các nước khác trên thế giới.
Ở nước ta, việc nghiên cứu về thừa kế theo di chúc nói chung và nghiên
cứu về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng nói riêng đã có từ xa xưa.
Chúng ta có thể kể đến nhiều bộ luật như: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia
Long, Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung Kỳ,...
Kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, các điều kiện có
hiệu lực của di chúc miệng cũng đã được các nhà lập pháp nghiên cứu, nhưng
"Luật thừa kế Việt Nam bản án và bình luận bản án" của tiến sĩ Đỗ Văn Đại:
“Thừa kế theo di chúc trong luật dân sự Việt Nam” của Giáo sư Vũ Văn Mẫu
... Tuy nhiên, những công trình trên chỉ dừng lại việc nghiên cứu về một số
quy định thừa kế và các điều kiện có hiệu lực di chúc nói chung mà chưa
nghiên cứu về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng.
Nhận thức được vấn đề này, tác giả luận văn đã nghiên cứu trong một
diện hẹp về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miêng để nhằm làm sáng tỏ
việc xác định các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật
dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005. Với kết quả nghiên cứu của đề
tài: "Điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng theo quy định của Bộ luật
dân sự Việt Nam" sẽ giúp các cơ quan lập pháp ban hành các văn bản dưới
luật để hoàn thiện những quy định về điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng,
đồng thời giúp các cơ quan áp dụng pháp luật trong việc nhận thức đúng đắn
và toàn diện khi giải quyết những tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của
di chúc nói chung và di chúc miệng nói riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhàm làm sáng tỏ quy định của Bộ luật
dân sự về điều kiện có hiệu lực di chúc, cơ sở lý luận thực tiễn của các quy
định pháp luật về điều kiện có hiệu lực di chúc miệng thông qua việc phân
tích các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về điều kiện có hiệu lực của
3
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
4
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
hiệu lực của di chúc ở các nước như Nhật Bản, Cộng hòa Pháp, Mỹ, Thái Lan
với Việt Nam để làm nổi bật những nét đặc thù và tính hiện đại của pháp luật
Việt Nam quy định về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng.
Trong quá trình nghiên cứu, một số các quy định của pháp luật có liên
quan đến nội dung của đề tài cũng được tìm hiểu như: Năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự, giao dịch dân sự... theo pháp luật dân sự Việt
Nam để có sự so sánh, đối chiếu, với mục đích làm nổi bật những quy định
của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng. Ngoài ra luận
văn phân tích tình hình giải quyết của tòa án từ 2001 đến 2005 về các tranh
chấp thừa kế nói chung,và phân tích những vụ án cụ thể liên quan đến di chúc
miệng. Để từ đó rút ra những hướng hoàn thiện, quy định pháp luật về điều
kiện có hiệu lực di chúc miệng.
4. Phƣơng pháp tiếp cận đề tài
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó,
những phương pháp khoa học khác như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống
kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra.
quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng trong Bộ luật
dân sự năm 2005, qua đó có những kiến nghị khoa học nhằm hoàn thiện
những quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng
trong Bộ luật dân sự năm 2005.
+ Luận văn chỉ ra được những bất cập trong việc hiểu không đúng các
quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng trong việc
áp dụng pháp luật, đồng thời có những kiến nghị để các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành những văn bản hướng dẫn cần thiết.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về di chúc
Chương 2: Các điều kiện có hiệu lực di chúc
Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc
miệng tại tòa án và phương hướng hoàn thiện pháp luật về hình thức di
chúc miệng.
6
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân lao
động. Vì vậy, pháp luật thừa kế trước hết đảm bảo cho công dân yên tâm lao
động, sản xuất, hưởng thành quả lao động của mình và có quyền để lại thành
quả lao động đó cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật khi người
đó chết. Pháp luật về thừa kế trong chế độ xã hội chủ nghĩa đã động viên,
khuyến khích được nhân dân trong việc tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội.
1.2. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI CHÚC
1.2.1. Khái niệm di chúc
Di chúc đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, với đủ các hình
thức di chúc khác nhau. Trong Kinh Cựu – bộ sách lớn nhất, cổ nhất và
nguyên vẹn nhất còn được lưu truyền đến nay, người xưa chép lại rằng, người
xưa đã chép lại rằng bản di chúc của Noe đã viết bằng tay, rồi được ông đóng
con dấu của mình lên để chứng thực; hay như việc Jacob, bằng lời nói, để lại
cho joseph tài sản gấp đôi so với những người con khác của mình ...[27]
Có thể câu chuyện từ trong kinh sách tôn giáo không thể là bằng chứng
xác thực cho bất cứ một vấn đề thực tiễn nào, nhưng ít nhất từ những mẩu
chuyện như thế, ta cũng có thể nhận thấy rằng: ngay trong lòng thế giới cổ
đại, di chúc đã xuất hiện,và xuất hiện với rất nhiều hình thức đa dạng khác
nhau, có thể bằng bản viết tay,cũng có thể chỉ bằng lời nói.
Di chúc là cơ sở quan trọng nhất để thể hiện ý chí của cá nhân nhằm
chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết và cũng là cơ sở để xác
lập quyền sở hữu di sản của người hưởng di sản thừa kế đối với di sản thừa kế
Trong thực tế cuộc sông tồn tại hai khái niệm Di chúc và Chúc thư. Di
chúc được gọi nhiều thuật ngữ khác nhau như Di chúc, Chúc thư, Chúc ngôn.
(Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2005). Về chữ viết trong di chúc cũng được
pháp luật quy định: Đối với người dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng
chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình. Bởi lẽ trên đất nước ta có nhiều dân
tộc cùng sinh sống, nên pháp luật dân sự cũng đã tính đến yếu tố lịch sử, nhận
thức,… tạo điều kiện cho mọi cá nhân thực hiện quyền lập di chúc, nếu cá
nhân đó có năng lực lập di chúc theo luật định.
Đối với di chúc bằng văn bản, pháp luật quy định có 4 loại di chúc
bằng văn bản: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc bằng
văn bản có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có chứng thực của công
chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và
di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được chứng nhận, chứng thực.
9
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Quyền của người lập di chúc được pháp luật quy định tại Điều 651 Bộ
luật dân sự năm 1995, bao gồm những quyền sau:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
phi
+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn chứng nhận của công chứng Nhà nước
+ Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực
- Di chúc miệng: là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản
thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của mình cho người
khác sau khi mình chết.
1.2.3. Đặc điểm của di chúc
Di chúc có những đặc điểm riêng biệt so với các giao dịch dân sự khác
ở những điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất: Di chúc thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc.
Ý chí đơn phương này được thể hiện qua việc người lập di chúc toàn
quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi
chết. Người lập di chúc không phải bàn bạc với bất kỳ ai trong việc định đoạt
tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (trường hợp lập di chúc chung vợ chồng
thực chất thì vẫn là phần tài sản của ai thì người đó có quyền định đoạt).
Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với những người thừa kế
về nội dung di chúc. Người lập di chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa,
cưỡng ép trong việc lập di chúc. Di chúc thể hiện ý chí của người lập di chúc,
không bị sự chi phối nào của người khác. Bằng việc lập di chúc, người để lại
di sản đã xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo di chúc.
Ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện việc người
lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai
và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm số tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có
quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc. Người
lập di chúc có thể cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người
nào đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
Đặc điểm thứ hai: Di chúc thể hiện sự định đoạt tài sản của người lập di
chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho người khác, sau khi người lập di chúc chết.
Nếu như các loại hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí thỏa thuận của các
chủ thể nhằm chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác thì di chúc lại
nhằm chuyển dịch tài sản của người đã chết sang cho người còn sống. Người
thừa kế theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế.
Thực tế cho thấy không phải bất cứ ai trước khi chết cũng lập di chúc,
mà có người trước khi chết họ chỉ để lại những lời dặn dò, ví dụ: Dặn dò các
12
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
con phải thương yêu nhau, phải cố gắng học tập, tránh xa các thói hư, tật xấu...
Với khái niệm về di chúc tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 646
Bộ luật dân sự năm 2005) thì di chúc phải thể hiện việc chuyển dịch tài sản
của người lập di chúc cho người khác sau khi người lập di chúc chết. Vì vậy,
nếu như một tài liệu nào đó của người chết để lại mà không hàm chứa nội
dung chuyển tài sản cho người khác, thì không thể được coi là di chúc. Pháp
luật cho phép công nhân có quyền định đoạt tài sản, trong đó có việc để lại di
sản thừa kế theo di chúc, nhưng pháp luật cũng chỉ công nhận khi di chúc của
công nhân đó thỏa mãn những điều kiện nhất định. Trong thực tiễn đã có
không ít những di chúc không tuân theo những quy định của pháp luật về hình
hiệu lực của di chúc. Mặt khác, xác định đúng thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định di chúc nào là di chúc có hiệu lực trong trường
hợp một người có nhiều di chúc. Di chúc thể hiện ý chí đơn phương của người
lập di chúc và người lập di chúc có quyền thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội
dung di chúc hay hủy bỏ di chúc. Sự thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể được
thể hiện dưới hình thức người đó lập di chúc mới ghi nhận về việc thay đổi hay
hủy bỏ di chúc, nhưng cũng có thể bằng di chúc mới (mặc dù không nói rằng
thay đổi hay hủy bỏ di chúc) người lập di chúc định đoạt tài sản mà nội dung
định đoạt khác với di chúc đã viết trước đó. Việc đánh giá hiệu lực của di
chúc như vậy dựa theo quy định tại khoản 5 Điều 670 Bộ luật dân sự năm
1995: "Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản, thì chỉ có
bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực pháp luật".
Tóm lại, khi người lập di chúc còn sống thì di chúc dù có phù hợp với
các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung, thì di chúc cũng chưa
phát sinh hiệu lực. Do di chúc chưa phát sinh hiệu lực (khi người lập di chúc
chưa chết) nên những người thừa kế theo di chúc chưa có bất kỳ một quyền
nào đối với tài sản mà họ sẽ được hưởng. Quyền đối với tài sản vẫn thuộc về
người lập di chúc cho đến khi người lập di chúc chết.
1.3. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH
THỨC DI CHÚC
1.3.1. Hình thức di chúc trong Luật Hồng Đức
Quốc triều hình luật là bộ luật được giữ và lưu truyền đến này,
nó là minh chứng cho thành tựu đáng kể trên lĩnh vực pháp luật và điển
chế của triều đại nhà Lê. Trong Quốc triều hình luật vấn đề thừa kế được quy
định từ Điều 374 đến Điều 400
Pháp luật thời Lê thừa nhận hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di
14
đối với hình thức thừa kế theo di chúc thì trong Hoàng Việt Luật Lệ lại không
quy định về hình thức của di chúc mà chỉ có quy định về người thừa kế theo di
chúc có quyền nhận di sản sau khi cha mẹ chết (mục 10 quyển 6 Hộ Luật)
1.3.3. Hình thức di chúc dƣới thời pháp thuộc
So với pháp luật triều Lê và Nguyễn thì pháp luật về thừa kế thời pháp
15
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
thuộc theo khuân mẫu của bộ luật dân sự Napoleon đã quyết định một cách
chi tiết hơn trong các bộ Dân luật Bắc Kỳ (DLBK) và Hoàng Việt Trung Kỳ
Hộ Luật (HVTKHL). Pháp luật thời kỳ này cũng thừa nhận hai hình thức chia
thừa kế là chia theo di chúc và chia theo pháp luật. Về hình thức di chúc được
quy định như sau: Bộ Dân luật Bắc kỳ được ban hành bằng một Nghị định của
Thống sứ Bắc kỳ ngày 30-3-1931. Bộ luật bao gồm 1.464 điều, được chia làm
4 quyển. Quyển thứ nhất bao gồm 12 thiên quy định về gia đình, chế độ hôn
sản và thừa kế, trong đó có 17 điều luật quy định về thừa kế theo di chúc. Nội
dung của bộ luật phản ánh được những phong tục, tập quán của người Việt
Nam như: Việc thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng truyền thống và đặc trưng của
người Việt Nam…
Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định người lập di chúc có quyền dành một
phần di sản để thờ cúng. Việc chăm sóc nuôi dưỡng nhau giữa những người
của người lập chúc thư (Điều 326 Dân luật Bắc kỳ). Chúc thư phải ghi rõ ngày,
tháng năm lập chúc thư; tên, họ, tuổi, nơi trú quán của người làm chứng. Chúc
thư khi đã làm xong thì lý trưởng đọc to cho mọi người cùng nghe rồi lý
trưởng, người lập chúc thư, người viết hộ (nếu có) và những người làm chứng
cùng ký tên vào văn bản. Có bao nhiêu người được thừa kế thì chúc thư được
làm thành bấy nhiêu bản gốc để gửi cho mỗi người thừa kế một bản.
Khi người lập chúc thư muốn thay đổi một phần hay toàn bộ chúc thư,
thì bản chúc thư sau phải tiến hành đúng những thủ tục trên và phải nêu rõ
việc người lập chúc thư thay đổi một phần hay toàn bộ bản chúc thư, nếu
không nói rõ thì chỉ những điều khoản nào không hợp hoặc có trái với bản
chúc thư sau mới bị bỏ mà thôi.
Điều 113 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: Khi người vợ chết trước, người
chồng trở thành chủ sở hữu duy nhất tất cả của cải chung trong đó có cả phần
của vợ (tức là tài sản riêng của vợ). Còn nếu chồng chết thì người vợ chỉ có
quyền hưởng dụng tài sản riêng của chồng khi không còn người thừa kế nào
bên nội, bên ngoại của chồng (Điều 346). Nếu người vợ góa tái giá thì tài sản
riêng của chồng phải trả lại nhà chồng, tài sản riêng của vợ được mang theo
đi, còn tài sản của vợ chồng thì để lại cho con (Điều 360).
Bộ luật Trung kỳ hay còn gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật gồm
1709 điều, được chia làm 5 quyển. Có thể nói, Bộ luật này hầu như sao chép
lại nhiều điều khoản trong Bộ luật Bắc kỳ, ví dụ: Điều 341 Bộ luật Trung kỳ
17
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
18