Thừa kế thế vị và và hoàn thiện quy định của Bộ Luật Dân Sự về thừa kế thế vị - Pdf 34

A.MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển cúa nền kinh tế thị trường, các quan hệ xã hội
ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Vì thế các quyền và lợi ích của công
dân cũng đòi hỏi pháp luật bảo hộ ở mức cao hơn. Sự vững mạnh của quốc
gia không chỉ dựa trên sự phát triển của nền kinh tế mà còn được đánh giá
trên cơ sở pháp luật bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân như
thế nào? Do vậy nhà nước luôn tạo điều kiện tốt nhất cho công dân thực hiện
quyền của mình một cách đầy đủ và toàn diện .
Với bản chất là một quan hệ tài sản, quan hệ thừa kế dưới tác động của
nền kinh tế thị trường cũng trở nên phong phú và ngày càng phức tạp trong
các giao lưu dân sự. Chính vì vậy, chế định về thừa kế có vị trí quan trọng và
thực sự cần thiết trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam.
Trong thực tế, việc quy định rõ về người được hưởng thừa kế, người không
được hưởng thừa kế là một nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân. Tuy nhiên chế định về ở nước ta hiện nay được quy
định khá đầy đủ trong BLDS năm 2005 nhưng chưa dự liệu hết được các
trường hợp xảy ra trên thực tiễn. Số lượng các án tranh chấp về thừa kế tồn
đọng ngày càng tăng và có tính chất phức tạp hơn do pháp luật về thừa kế và
những quy định pháp luật khác có liên quan đến thừa kế chưa thực sự đồng
bộ, thống nhất. Ngoài ra những sai sót của tòa án trong việc xác định những
người thừa kế theo pháp luật theo nói chung và người được hưởng thừa kế thế
vị nói riêng cũng như người không được hưởng di sản đã gây ra những ảnh
hưởng nhất định tới quan hệ thừa kế. Vì vậy việc quy định rõ những người
được hưởng thừa kế trong đó có thừa kế thế vị là một trong những nhiệm vụ
rất quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích cho nhưng người được hưởng thừa

1


kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng. Chính vì tầm quan trọng của vấn đề
trong khuôn khổ bài tập lần này em xin thực hiện bài luận với đề tài: “Thừa


2. Khái niệm quyền thừa kế và các quy định của pháp luật về
quyền thừa kế
2.1. Khái niệm quyền thừa kế
Theo nghĩa rộng quyền thừa kế là pháp luật thừa kế về thừa kế là tổng
hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người
chết cho những người còn sống. Thừa kế là một chế định của pháp luật dân
sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản
của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định,
đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các
quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.
Theo nghĩa chủ quan thì thừa kế được hiểu là quyền của người để lại di
sản và quyền của người nhận di sản. Quyền chủ quan này phải phù hợp với
các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng.
Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể
có những quyền và nghỉa vụ nhất định. Trong quan hệ này, người có tài sản,
trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác. Những
người có quyền nhận di sản họ có thể nhận hoặc không nhận di sản (trừ
những trường hợp pháp luật có quy định khác). Đối tượng của thừa kế là tài
sản, quyền tài sản thuộc quyền của người chết để lại trong một số trường hợp
người để lại di sản chỉ để lại hoa lợi, lợi tức phát sinh tài sản. Tuy nhiên trong
một số trường hợp, các quyền tài sản gắn liền với nhân thân người đã chết

3


không thể chuyển cho những người thừa kế ( như tiền cấp dưỡng …) vì pháp
luật quy định chỉ người đó mới có quyền được hưởng.

2.2. Những quy định của pháp luật về quyền thừa kế.

sung trong BLDS năm 2005

3. Quy định của pháp luật về thừa kế thế vị
Thừa kế thế vị là một trong những nội dung quan trọng của chế định thừa
kế. Nó chỉ xuất hiện trong trường hợp thừa kế theo pháp luật vì vậy BLDS đã
có những quy định cụ thể về vấn đề này. Điều 677 BLDS năm 2005 đã quy
định cụ thể về vấn đề thừa kế thế vị như sau:”Trong trường hợp con của
người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di
sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha mẹ cháu được hưởng nếu còn
sống; nếu cháu chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì
chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ chắt được hưởng nếu còn
sống”. Ngoài ra nó còn được quy định trong một số điều của bộ luật này như
Điều 676, 678.
II. THỪA KẾ THẾ VỊ VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
THỪA KẾ THẾ VỊ

1. Khái niệm chung về thừa kế thế vị
Thừa kế thế vị là một trong những nội dumng rất quan trọng của thừa
kế .Để giải quyết thỏa đáng quyền thừa kế thế vị của các cháu nội ngoại hoặc
chắt nội ,ngoại trong trường hợp cha mẹ của cháu hoặc chắt chết trước hoặc
chết cùng thơi điểm với ông nội bà nội ,ông ngoại ,bà ngoại hoặc cụ Điều 677
BLDS năm 2005 đã quy định cụ thể về vấn đề thừa kế thế vị như sau:”Trong
trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm

5


với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha mẹ cháu
được hưởng nếu còn sống; nếu cháu chết trước hoặc cùng thời điểm với
người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ chắt

trước khi chết. Trên cơ sở đó Điều 677 của BLDS đã quy định về các trường
hợp thừa kế thế vị để quyền hưởng di sản kế một cách chính đáng của cháu,
chắt được đảm bảo.

2. Quy định của BLDS về các trường hợp thừa kế thế vị
2.1. Cháu thế vị cha hoặc mẹ để hưởng di sản của ông, bà
Cháu được thay thế vị trí của cha hoặc mẹ để hưởng di sản của ông, bà
trong các trường hợp cụ thể sau:
Trong trường hợp cha đẻ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông
nội, hoặc bà nội thì con được thay thế vị trí của cha để hưởng phần di sản mà
lẽ ra cha sẽ được hưởng nếu còn sống.
Trong trường hợp mẹ chết trước hoặc chết cùng thòi điểm với ông ngoại
hoặc bà ngoại thì con được thay thế vị trí của mẹ để hưởng phần di sản mà lẽ
ra mẹ sẽ được hưởng nếu còn sống.
Các trường hợp này đều có chung một một điểm là giữa người để lại di
sản và người được thừa kế thế vị đều có quan hệ huyết thống. Tuy nhiên thừa
kế thế vị không chỉ có hai trường hợp trên mà mà còn có những trường hợp
khác được quy định tại Điều 678 của BLDS : “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi
được hưởng di sản thừa kế của nhau và và còn được thừa kế theo quy định tại
điều 676 của bộ luật này”. Quy định này cho ta thấy rằng thừa kế thế vị
không chỉ phát sinh giữa những người có quan hệ huyết thống mà còn phát
sinh trong cả mỗi quan hệ nuôi dưỡng.

7


Trong trường hợp quan hệ giữa người để lại di sản và người được thừa
kế thế vị là quan hệ huyết thống, quan hệ giữa người được thế vị và người thế
vị là là nuôi dưỡng thì không đương nhiên được thừa kế thế vị, có nghĩa là có
thì thể được thừa kế thế vị nếu người để lại di sản coi người thế vị như cháu

sản thù chắt được hưởng phần di sản mà cha, mẹ mình được hưởng nếu còn
sống vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp ông, bà chết trước người để lại di sản, cha, mẹ chết sau ông,
bà nhưng chết cùng thời điểm với người để lại di chúc thì chắt được hưởng
phần di sản mà cha, mẹ chắt được hưởng nếu còn sống vào thời điểm mở thừa
kế.
Trường hợp ông, bà không được hưởng di sản của cụ và cha mẹ chết
trước cụ thì thì chắt cũng được thế vị cha, mẹ để hưởng thừa kế đối với di sản
của cụ (nếu không còn người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất).
Trong trường hợp có sự đan xen có sự đan xen cả quan hệ huyết thống
và quan hệ nuôi dưỡng giữa các đời thì việc thừa kế thế vị của chắt chỉ đương
nhiên đặt ra khi con nuôi chết trước người để lại di sản là cha, mẹ nuôi, đồng
thời con đẻ của người con nuôi cũng đã chết trước người để lại di sản (nhưng
chết sau cha, mẹ) thì cháu của người nuôi đó (tức là chắt của người để lại di
sản) được hưởng phần di sản mà cha, mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống
vào thời điểm người để lại di sản chết.
Như vậy ở trường hợp chắt được thế vị của cha, mẹ chắt để hưởng di sản
của cụ cũng được áp dụng đối với những người có quan hệ huyết thống và
quan hệ nuôi dưỡng .Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm của vị trí thừa kế nên
điều kiện của chắt thế vị cha, mẹ chắt để hưởng di sản của cụ phức tạp hơn

9


đòi hỏi những người áp dụng luật phải có nhìn nhận đúng đắn để xác định
đúng những người được hưởng thừa kế thế vị đối với di sản của người để lại
di sản.
3. Nghĩa vụ của người được hưởng thừa kế thế vị
Cháu chắt khi được hưởng thừa kế thế vị cũng phải thực hiện nghĩa vụ về
tài sản của người chết để lại cũng giống như cháu chắt phải thực hiện nghĩa

được chia theo pháp luật mà người được hưởng thừa kế theo hàng (cha, mẹ
của người thừa kế thế vị) được hưởng nếu còn sống.
Trường hợp thứ hai, hàng thừa kế là căn cứ để chắt được hưởng thừa kế
thế vị trong trường hợp: cụ chết, ông, bà là người thừa kế duy nhất ở hàng
thừa kế thứ nhất nhưng ông, bà không có quyền được hưởng do vi phạm Điều
643 BLDS 2005. Do vậy những người ở hàng thứ hai được hưởng thừa kế,
trong đó có cháu, nhưng cháu lại là người chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với cụ,nên chắt được thừa kế thế vị để hưởng suất thừa kế được chia theo
pháp luật mà người thừa kế theo hàng (cháu) được hưởng nếu còn sống. Như
vậy, nếu cháu không thuộc hàng thừa kế thứ hai thì chắt cũng không được
hưởng thừa kế thế vị trong trường hợp trên và khi đó quyền lợi của chắt chưa
được đảm bảo một cách triệt để.
Mặt khác, theo quy định về thừa kế theo pháp luật tại Điều 676 và thừa
kế thế vị theo Điều 677 BLDS thì cháu, chắt thuộc phạm vi những người thừa
kế theo pháp luật của ông, bà, cụ. Theo đó mối quan hệ thừa kế theo hàng và
thừa kế thế vị của cháu, chắt, được thể hiện trong các trường hợp:
Trường hợp không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất do đã chết, trong đó có
cha hoặc mẹ của cháu thì cháu được thế vị mà không phải là thừa kế theo
hàng.

11


Trường hợp không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất do không có quyền
hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì cháu
được hưởng thừa kế theo hàng thứ hai.
Trong trường hợp ở hàng thừa kế thứ nhất còn những người thừa kế khác
ngoài cha hoặc mẹ cháu thì mặc dù cha, mẹ cháu không có quyền hưởng, bị
truất quyền hưởng hoặc từ chối nhận di sản thì cháu không được hưởng di sản
vì cháu không thuộc hàng thừa kế thứ hai. Khi đó, di sản được chia cho những

động xét xử của Tòa án. Nhiều quy định về thừa kế thế vị của BLDS 1995
tiếp tục được thừa kế trong BLDS 2005 tuy nhiên trên thực tế pháp luật đã
gặp nhiều khó khăn do chưa có văn bản hướng dẫn thi hành dẫn đến việc
thiếu thống nhất giữa các cấp Tòa án.
Vì vậy, trong khuôn khổ bài này em xin đưa ra quan điểm cá nhân về
những bất cập trong quy định của pháp luật về thừa kế thế vị. Trên cơ sơ đó
đề ra một số giải pháp để hoàn thiện quy định của BLDS về thừa kế thế vị.
Qua việc tìm hiểu quy định về thừa kế thế vị tại Điều 677 của BLDS
cũng như trong quan hệ thừa kế thế vị nói chung ta còn thấy một số tồn tại
như sau:
Thứ nhất, nếu hiểu theo câu chữ của Điều 677 BLDS 2005 thì cháu hoặc
chắt không được thừa kế thế vị nếu cha mẹ của cháu hoặc chắt không có
quyền hưởng di sản của ông, bà hoặc cụ. Tuy nhiên không phải trong mọi
trường hợp cha, mẹ của cháu hoặc chắt chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với ông, bà hoặc cụ, mà không có quyền hưởng di sản thì cháu, chắt không
được thừa kế thế vị. Cụ thể là:

13


Người thừa kế không có quyền hưởng di sản có thể do pháp luật quy
định do vi phạm khoản 1 Điều 643, có thể do người để lại di sản định đoạt (bị
truất quyền thừa kế) hoặc cũng có thể do người thừa kế từ chối nhận di sản
một cách hợp pháp. Tuy nhiên, quyền từ chối nhận di sản chỉ phát sinh kể từ
thời điểm mở thừa kế, mà người được thế vị lại chết trước hoặc cùng thời
điểm với người để lại di sản nên không thể có trường hợp người được thế vị
không có quyền hưởng di sản do từ chối nhận di sản.
Rõ ràng trong trường hợp cha me, của cháu hoặc chắt không có quyền
hưởng di sản của ông, bà hoặc cụ do vi phạm khoản 1 Điều 643 của BLDS thì
đương nhiên thì cháu chắt cũng không thể thế vị để nhận di sản của ông, bà

truất quyền hưởng di sản đó đã bị vô hiệu cho người được chỉ định trong di
chúc không còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp này,
những người thừa kế thế vị sẽ được hưởng chung một phần theo luật được
chia từ phần di sản còn để chia theo pháp luật.
Từ những hạn chế bất cập nêu trên pháp luật cần có các quy định rõ ràng
hơn về thừa kế thế vị trong trường hợp người con hoặc cháu chết trước hoặc
chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà không có quyền hưởng do bị
truất thì cháu chắt của người để lại di sản vẫn có thể được thừa kế thế vị nếu
di sản vẫn còn để chia theo pháp luật.
Thứ hai, Điều 677 của BLDS mới chỉ quy định mang tính chất xuôi
chiều: ông, bà chết trước hoặc cùng thời điểm với cụ, cha, mẹ chết sau ông,
bà nhưng cũng vẫn chết trước hoặc cùng thời điểm với cụ thì con của người
cha, mẹ đã chết đó (tức là chắt của người để lại di sản) được hưởng phần di
sản mà cha hoặc mẹ chắt sẽ được hưởng nếu còn sống. Vì thế giả sử cha, mẹ

15


chết trước ông, bà thì khi ông, bà chết trước hoặc cùng thời điểm với cụ thì
chắt có được hưởng thừa kế thế vị hay không? Theo quan điểm cá nhân thì để
đảm bảo quyền lợi cho chắt được hưởng ngay cả trong trường hợp trên pháp
luật nên có những quy định cho chắt được hưởng thừa kế thế vị.
Cũng theo quy định tại Điều 677 BLDS thì thừa kế thế vị mới chỉ quy
định đến cháu chắt được hưởng. Tuy nhiên khi áp dụng luật, xét theo quan hệ
bắc cầu và có thể hiểu theo tinh thần điều luật thì chút có được hưởng thừa kế
thế vi hay không ? và thế vị cứ thế có được áp dụng đến vô hạn hay không?
Một thực tế là nếu có quy định của luật cho chút được hưởng thừa kế thế vị
thì cũng rất hiếm khi có trường hợp nào. Tuy nhiên để có văn bản áp dụng,
cũng như khi có đủ điều kiện được hưởng thừa kế thế vị trong trường hợp
chút được hưởng di sản thừa kế của kỵ thì pháp luật nên quy định thừa kế đến

3. Nếu con của người để lại di sản khi còn sống đã từ chối hưởng di sản
của bố, mẹ hoặc bị bố mẹ truất quyền hưởng di sản thì cháu, chắt vẫn được
hưởng di sản thừa kế.
Thứ ba, theo quy định của Điều 678 BLDS năm 2005 thì quan hệ thừa kế
thế vị còn phát sinh trên cả mối quan hệ nuôi dưỡng. Tuy nhiên điều luật trên
lại chưa quy định rõ trường hợp nào thì được thừa kế thế vị, do vậy có nhiều
cách khác nhau khi gặp các trường hợp:
Một là, khi người nhận nuôi con nuôi, chết trước hoặc cùng thời điểm
với cha, mẹ đẻ thì người con nuôi của họ có được thừa kế thế vị không?
Hai là, khi người con nuôi chết trước hoặc cùng thời điểm với cha, mẹ
nuôi thì con đẻ của người con nuôi có được thừa kế thế vị không ?

17


Ba là, khi người con nuôi chết trước hoặc cùng thời điểm với cha, mẹ
nuôi thì con nuôi của người con nuôi có được thừa kế thế vị không?
Trước đây, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1999 của Tòa
án Nhân Dân tối cao đã hướng dẫn con nuôi chỉ có quan hệ thừa kế với cha
nuôi, mẹ nuôi mà không có quan hệ thừa kế với cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ của
người nuôi. Do đó con nuôi không phải là người thừa kế theo pháp luật của
cha, mẹ đẻ và con đẻ của người nuôi. Tuy nhiên, văn bản hướng dẫn trên đã
hết hiệu lực thi hành và đến nay vẫn chưa có một văn bản nào thay thế để
hướng dẫn chi tiết Điều 678 nói trên.
Vì vậy, theo quan điểm cá nhân trong trường hợp người con nuôi chết
trước hoặc chết cùng thời điểm với cha nuôi, mẹ nuôi thì con ruột của người
con nuôi được hưởng phần di sản mà người con nuôi đáng lẽ được hưởng nếu
còn sống. Còn trong trường hợp khi, người nhận nuôi con nuôi chết trước
hoặc cùng thời điểm với cha nuôi, mẹ nuôi thì con nuôi của người con nuôi
không được thừa kế thế vị. Từ đó ta thấy rằng BLDS hiện hành nên quy định


19


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học luật Hà Nội, giáo trình luật dân sự Việt Nam tập 1,
Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội - 2006
2. Bộ luật dân sự năm 2005
3. Phan Thị Kim Chi, Luận văn thạc sĩ luật học, Diện và hàng thừa kế theo quy
định của BLDS năm 2005, Hà Nội – 2006
4. Đoàn Hải Yến, Khóa luận tốt nghiệp, Một số vấn đề về người thừa kế theo
pháp luật, Hà Nội – 2011
5. Phùng Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam, Nxb.Hà Nội – 2008
6. Phùng Trung Tập, Về cháu, chắt nội, ngoại thừa kế thế vị và hưởng di sản
thừa kế theo hàng của ông, bà nội, ngoại, các cụ nội, ngoại, Tạp chí Tòa án,
TANDTC, số 24/ 2005, tr. 13 –

20


MỤC LỤC

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status