MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ Tài, chữ Mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Khi con người đã trải qua những biến cố, những thăng trầm của cuộc
sống, đọc lại những vần thơ ấy của Nguyễn Du, chắc ai cũng sẽ có những suy
tư sâu sắc hơn về cuộc đời, sẽ thấy mình trưởng thành hơn và rút ra được
nhiều bài học cho bản thân. Nguyễn Du không phải là một nhà triết học
nhưng những gì mà ông đã viết thì lại hết sức triết lý, điều đó nhắc cho chúng
ta nhớ tới câu nói “bẩm sinh mỗi người là một nhà triết học”.
Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm vô cùng giá trị, trong
đó có Truyện Kiều. Đây là kiệt tác văn học của Việt Nam, là tác phẩm hội tụ
đầy đủ tinh hoa của ngôn ngữ Việt. Từ nền văn chương dân tộc, Truyện Kiều
đã gia nhập vào thế giới văn chương siêu việt nhất của nhân loại. Đại thi hào
Nguyễn Du đã cùng với Khuất Nguyên (340 – 278 TCN), Đỗ Phủ (712 –
770), Lý Bạch (701 – 762) của Trung Hoa; William Shakespeare (1564 –
1616), Charles Dickens của Anh; Aleksandr Sergeyevich Pushkin (1799 –
1837), Lev Nikolayevich Tolstoy (1828 – 1910), Fyodor Mikhailovich
Dostoevsky (1821 – 1881) của Nga; Dante Alighieri (1265-1321) của Ý;
Miguel de Cervantes y Saavedra (1547 – 1616) của Tây Ban Nha; Victor
Hugo (1802 – 1885), Honoré de Balzac (1799 - 1850) của Pháp và Johann
Wolfgang von Goethe (1749 – 1832) của Đức,… đi vào cõi bất tử.
Truyện Kiều đã sánh vai cùng các kiệt tác của thế giới từ cổ đại Ai Cập,
cổ đại Trung Hoa đến Âu Mỹ hiện đại trong bộ Từ điển Các tác phẩm của
thâm trầm, kín đáo, sâu sắc nhưng cũng rất bản lĩnh và mãnh liệt.
3
Một khía cạnh khác mà chúng ta cũng cần lưu ý, đó là mỗi một dân tộc
đều có những giá trị thẩm mỹ của riêng dân tộc đó. Dù ở trong hệ quy chiếu
nào thì tư tưởng thẩm mỹ từng dân tộc cũng có những đặc trưng riêng. Điều
ấy, càng nhấn mạnh rằng, dân tộc Việt Nam cũng có hệ thống tư tưởng thẩm
mỹ của riêng mình, nó được kết tinh trong lịch sử dân tộc ở những danh nhân
văn hóa như Nguyễn Du. Vì vậy, tìm hiểu tư tưởng thẩm mỹ của những con
người ấy, những nền văn hóa ấy là điều hết sức cần thiết.
Trong tình hình thực tiễn hiện nay, Đảng ta đã có những chủ trương
đúng đắn, phù hợp với tình hình cụ thể của dân tộc, đặc biệt là những chủ
trương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người. Trong văn kiện Hội nghị
lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa XI có khẳng định: “Văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất
nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”
[5,48]. “Tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm
mỹ cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên. Phát huy vai trò của văn
học – nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm của con người. Bảo
đảm quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của mỗi người dân và của cộng
đồng” [5, 50]. “Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật tạo mọi điều kiện
cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá
trị tư tưởng và nghệ thuật, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân tộc, dân chủ,
tiến bộ, phản ảnh chân thật, sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và
công cuộc đổi mới đất nước. Đẩy mạnh sáng tác, quảng bá tác phẩm, công
trình về đề tài cách mạng, kháng chiến, lịch sử dân tộc, công cuộc đổi mới
đất nước. Từng bước xây dựng hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt
Nam” [5, 55]. Văn kiện cũng khẳng định, cần phải định hướng được tư tưởng
Quốc gia Hà Nội tái bản có bổ sung năm 2002 và 2008; Mỹ học Mác – Lênin
cao cấp, Nxb Đại học Sư phạm, 2004 và gần đây nhất là Giáo trình Mỹ học
5
Mác – Lênin, và chủ biên cuốn Giáo trình Lịch sử mỹ học, Nxb Giáo dục Việt
Nam ấn hành năm 2010.
- Là nhà nghiên cứu mỹ học có thâm niên và uy tín của nước ta, ngoài
việc chủ biên và đồng chủ biên một số công trình, tác giả Đỗ Huy đã có nhiều
cống hiến cho ngành khoa học này bằng rất nhiều ấn phẩm có giá trị. Đó là:
Mỹ học với tư cách là một khoa học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996;
Mỹ học khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2001; Đạo đức học, mỹ học và đời sống văn học nghệ thuật, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2002, v.v..
Trong thời gian gần đây những công trình mỹ học thực sự mới ra đời
không nhiều, chủ yếu là tái bản, bổ sung những ấn phẩm đã xuất bản trước đó.
Giáo trình đại cương về những khuynh hướng cơ bản trong lịch sử mỹ học
của tác giả Đỗ Huy và Vũ Trọng Dung chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia ấn
hành năm 2011 đã được giới nghiên cứu mỹ học nói riêng, bạn đọc nói chung
quan tâm. Đây là một trong những công trình nghiên cứu thể hiện tâm huyết
của đội ngũ các nhà khoa học. Công trình này đã đi vào nghiên cứu những nội
dung cơ bản trong suốt tiến trình của lịch sử mỹ học phương Tây từ thời cổ
đại thuộc các khuynh hướng, trường phái khác nhau, đồng thời đề cập đến mỹ
học mácxít ở Việt Nam đương đại với nhiều vấn đề cấp bách mà thực tiễn
đang đặt ra cần giải quyết.
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác về mỹ học. Tất
cả các công trình đó đều đã trình bày khá rõ những vấn đề cơ bản của mỹ học.
Nhưng chưa có một công trình nào nói về Tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du
trong tác phẩm “Truyện Kiều”.
Hán để tạo nên một ngôn ngữ văn học mới, dồi dào, uyển chuyển. Quyển từ
điển này cố gắng phản ánh sự kiện quan trọng ấy của lịch sử ngôn ngữ và lịch
sử văn học Việt Nam. Tác giả đã thu thập tất cả những từ đơn, từ kép, những
thành ngữ và tổ từ, những hình tượng và điển tích văn học, thỉnh thoảng có
7
thêm những nhận xét về ngôn ngữ học, về tu từ học và về văn học được
Nguyễn Du dùng trong Truyện Kiều. Nó sẽ giúp chúng ta hiểu được phần nào
tình hình tiếng Việt thời điểm đầu thế kỷ XIX và cấu tạo của tiếng Việt hiện
đại, đồng thời giúp chúng ta hiểu được những yếu tố nào do Nguyễn Du sáng
tạo để làm giàu cho ngôn ngữ dân tộc. Đây không phải là cuốn từ điển thông
thường mà chủ yếu là từ điển về một tác phẩm nhằm phục vụ sự nghiên cứu
ngôn ngữ và văn chương của Nguyễn Du, cho nên nó không giải thích như
các từ điển khác. Nó chỉ chú trọng nêu lên những nghĩa do Nguyễn Du dùng
trong tác phẩm, còn những nghĩa khác thì không nói đến.
Trong cuốn Truyện Kiều – Những lời bình do tác giả Hoài Phương biên
soạn và tuyển chọn, tập trung rất nhiều bài viết, nhiều ý kiến đóng góp, phê
bình của rất nhiều học giả trong nước và nước ngoài về Nguyễn Du và Truyện
Kiều. Chẳng hạn như bài Cảm hứng chủ đạo và nội dung xã hội của Truyện
Kiều do Nguyễn Ngọc viết; bài Quyền sống của con người trong Truyện Kiều
do Hoài Thanh viết. Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết liên quan đến các
khía cạnh nội dung trong Truyện Kiều nhưng tư tưởng thẩm mỹ trong tác
phẩm này thì chưa được rõ ràng, đầy đủ.
Cũng là những bài bình luận, đánh giá về Truyện Kiều chúng ta không
thể không nhắc tới cuốn sách mới xuất bản năm 2008: Nghiên cứu Truyện
Kiều những năm đầu thế kỷ XXI. Trong cuốn sách này tập hợp rất nhiều
những bài viết bình luận về tác phẩm Truyện Kiều và những giá trị đặc sắc
của nó nhưng về giá trị thẩm mỹ trong Truyện Kiều thì chưa được phản ánh
phục người đọc rằng Truyện Kiều vĩ đại không chỉ vì phương pháp sáng tác
mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác. Bởi vì thực ra những gì mà Nguyễn
Du thể hiện qua Truyện Kiều khiến chúng ta chỉ có thể hình dung đến một chủ
nghĩa hiện thực phôi thai, một chủ nghĩa hiện thực trong giai đoạn sơ kỳ của
nó mà thôi” [25, 11].
9
Ngoài ra còn rất nhiều các bài nghiên cứu cũng như sách khác viết về
Truyện Kiều nhưng do điều kiện thời gian có hạn, tác giả chưa thể khai thác
được đầy đủ những tài liệu liên quan nên về lịch sử vấn đề còn hạn chế nhiều.
Nhìn chung, khi xem xét quá trình nghiên cứu về Truyện Kiều, tôi nhận thấy
từ xưa đến nay các nhà nghiên cứu đã chú ý đến việc lý giải tính cách, phẩm
chất, hành động, cách ứng xử của các nhân vật Truyện Kiều, đến giá trị hiện
thực, nhân đạo của tác phẩm này,… nhưng hầu như chưa có ai xem xét
Truyện Kiều dưới góc độ thẩm mỹ, mỹ học. Đây là một khó khăn và cũng là
sự thách thức lớn đối với tôi khi lựa chọn đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm hiểu các tư tưởng của Nguyễn Du về cái
Đẹp, cái Xấu, cái Bi, cái Hài, cái Anh hùng và những tình cảm thẩm mỹ trong
thời đại của ông, qua đó đóng góp vào việc tôn vinh nhà văn hóa lớn của dân
tộc ta.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Trình bày lịch sử Việt Nam giai đoạn Nguyễn Du sống – đầu thế kỷ
XIX cũng như thân thế, sự nghiệp của ông.
- Nghiên cứu về Truyện Kiều và những tài liệu viết về tác phẩm này để
từ đó khái quát được tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du được thể hiện như thế
nào trong kiệt tác này của ông.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
11
Chương 1
ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG THẨM MỸ CỦA
NGUYỄN DU TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU
1.1. Một số vấn đề lý luận về tư tưởng thẩm mỹ
Về khái niệm tư tưởng, theo Đại từ điển Tiếng Việt, tư tưởng dt được
định nghĩa là 1. Sự suy nghĩ: tập trung tư tưởng làm việc. 2. Quan điểm và ý
nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội: có tư tưởng tiến
bộ, đấu tranh tư tưởng [40, 1757].
Theo Giáo trình Lý luận văn học, Phạm Đăng Dư – PTS. Lê Lưu Oanh
có khẳng định: “Người ta thường hiểu tư tưởng là một phán đoán khái quát về
hiện thực. Trong phán đoán đó bao giờ cũng chứa đựng một quan hệ có tính
quy luật giữa các hiện tượng, sự vật của đời sống. Chẳng hạn, nếu nói “con
người” thì tuy khái niệm đó cũng khái quát, nhưng chưa bao hàm tư tưởng.
Nhưng nếu nói “người với người là bạn”, “Người ta là hoa đất”, “Con người,
hai tiếng tự hào”,… thì trước mắt ta đó là những tư tưởng. Tư tưởng chẳng
những bao giờ cũng nói lên một quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật, mà
còn biểu thị một thái độ, một nhiệt tình khẳng định, phủ định một ý muốn.
Lênin nói: “Tư tưởng – đó là nhận thức và khát vọng (mong muốn) của con
người”. Tư tưởng đó dĩ nhiên gắn liền với một thế giới quan, một lập trường
giai cấp nhất định”[4,97]. Còn theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Hậu thì:
“Bản thân cuộc sống, bản thân hành động cũng mang tính triết học, cũng nói
lên tư tưởng”[9, 7].
Vậy, tư tưởng chính là sự suy nghĩ, quan điểm của con người đối với
hiện thực khách quan và xã hội nói chung. Những quan điểm, quan niệm, luận
điểm ấy được xây dựng trên một nền tảng triết học (thế giới quan và phương
pháp luận nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một
13
không dung nạp những tư tưởng triết lý trừu tượng và nhất là những tư tưởng
duy lý. Nó chỉ dung nạp những tư tưởng thơ ca, không phải là một quy tắc,
mà là nhiệt tình sinh động, là cảm hứng chủ đạo,… Trong cảm hứng chủ đạo,
nhà thơ trở nên yêu tư tưởng như yêu cái đẹp,… Nhà thơ quan sát tư tưởng
không phải bằng lý trí, không phải bằng lý tính, không phải bằng cảm giác và
không phải chỉ bằng một năng lực nào đó của tâm hồn mà bằng tất cả tồn tại
tinh thần đầy đủ và hoàn chỉnh của mình”[3, 312].
Tư tưởng trong nghệ thuật bao giờ cũng được nghệ sĩ bộc lộ trong khi
tái hiện cuộc sống cụ thể. Nó không sống độc lập bên cạnh hình tượng, không
phải chỉ thể hiện dưới dạng những lời bình luận của tác giả, mà nó nằm ngay
trong cơ cấu hình tượng của tác phẩm và được toát ra từ chính cơ cấu này.
Đây chính là tư tưởng của cả K. Marx và F. Engels khi đánh giá Arixtôphan
và Honoré de Balzac. Tư tưởng tác phẩm bao giờ cũng phải tìm cho được
hình tượng của mình – có thể là nhân vật, cũng có thể là các hình tượng khác.
Do đó, trong nghệ thuật không có giới hạn nào ngăn cách tư tưởng và hình
thức. Chúng đều là một thể toàn vẹn và thống nhất.
Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội, một
hành động biểu hiện thế giới tinh thần của con người nên nó mang tính tư
tưởng một cách tất yếu. Tư tưởng tác phẩm chính là sự đánh giá và bộc lộ ý
nghĩa của những gì đã được thể hiện, là cách giải quyết vấn đề đã đặt ra trong
tác phẩm theo một khuynh hướng nhất định, vốn có ở lập trường, quan điểm
của tác giả. Nói cách khác, tư tưởng tác phẩm chính là sự bộc lộ, miêu tả tư
tưởng tác giả bằng tác phẩm văn học. “Tư tưởng là linh hồn của tác phẩm văn
học” (Nhà văn V. G. Korolenco).
Trong Truyện Kiều, tư tưởng chủ đạo là sự đau xót cho số phận bạc
mệnh của con người và khẳng định chính xã hội phong kiến tàn bạo mới là
15
cái Đẹp, về những biểu hiện của các quan hệ thẩm mỹ trong cuộc sống: cái
thẩm mỹ trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong sáng tạo nghệ thuật.
Thẩm mỹ thuộc lĩnh vực tri giác cảm tính của con người đối với thế
giới xung quanh. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó khuyết đi khía cạnh tư
duy, lý tính. Con người tổng thể không chỉ gắn liền với chuyện cảm tính. Bản
thân mỗi chúng ta không hoàn toàn là quà tặng từ bà mẫu thiên nhiên mà là
sản phẩm lịch sử - văn hóa có năng lực tư duy logic, lập luận về thế giới. Sự
kém phát triển thẩm mỹ gắn liền hữu cơ với sự thiếu vắng sức sáng tạo, sức
tưởng tượng hiệu quả. Cá nhân kém phát triển về thẩm mỹ sẽ không có khả
năng tự thực hiện bước chuyển từ các tri thức chung được nó lĩnh hội một
cách hình thức sang tính cụ thể sống động, sang tính đặc sắc của dữ kiện, sự
kiện, tình huống.
Từ những kiến giải trên đây, ta có thể hiểu tư tưởng thẩm mỹ là
những suy nghĩ, quan niệm, quan điểm về những biểu hiện của cái Đẹp, cái
thẩm mỹ trong tự nhiên, xã hội và nghệ thuật của cá nhân, nhóm, trào lưu
nghệ thuật, tổng thể giai cấp, xã hội,… được bộc lộ qua các hoạt động thực
tiễn cụ thể. Tư tưởng thẩm mỹ là sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm, tức là
biểu hiện cả dưới dạng lý trí và xúc cảm. Nó thuộc về tư duy hình tượng. Tư
tưởng thẩm mỹ mang tầm lý luận, khái quát, ở cấp độ lý tính sáng suốt. Từ
nhận thức thẩm mỹ tới ý thức thẩm mỹ rồi khái quát thành tư tưởng thẩm mỹ.
Và từ tư tưởng được đúc kết dưới hình thái phát ngôn tư tưởng, từ trí tuệ được
đúc kết về lẽ sống, về nhân sinh, về tồn tại người dưới dạng câu nói ngắn gọn,
súc tích, ta có được những triết lý.
Nhờ lao động và hoạt động thực tiễn, con người được hình thành và
phát triển, trong đó có khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Trong quá trình tiếp xúc
với nhau và với tự nhiên, con người phản ánh và nhận thức hiện thực, biến
17
mỹ của con người đối với hiện thực và bản chất của tình cảm thẩm mỹ, về các
dạng thức cơ bản và các hình thức nhận thức thẩm mỹ cũng như cải tạo thế
giới hiện thực.
Trong lịch sử phát triển của mỹ học, cũng như của hàng loạt các hình
thức khác của ý thức xã hội, tư tưởng thẩm mỹ luôn luôn mang tính chất thế
giới quan và tinh thần của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
duy tâm, tư tưởng thẩm mỹ cũng phản ánh cuộc đấu tranh giữa những lực
lượng thù địch của xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp. Hệ thống tư tưởng thẩm
mỹ phát triển không chỉ qua các tác phẩm triết học, mà cả trong các tác phẩm
chính trị, trong các luận văn về đạo đức học và tôn giáo, đặc biệt trong các
công trình nghiên cứu lý luận và kho tàng nghệ thuật của các nhà nghệ sĩ, các
nhà văn, các nhạc sĩ, các nhà hoạt động kịch, phim ảnh…
Trong thời Xuân Thu – Chiến Quốc ở Trung Quốc, các khuynh hướng
tư tưởng lớn như Khổng giáo, Lão giáo, Mặc gia và Pháp gia… nảy sinh và
luôn tranh giành ảnh hưởng với nhau. Các quan niệm về đạo đức, chính trị,
thẩm mỹ… đua nhau phát triển và đã xuất hiện không ít tư tưởng thẩm mỹ
độc đáo, rất đáng lưu tâm tìm hiểu. Cái hay là chúng thường được trình bày
dưới hình thức những câu chuyện có tính ngụ ngôn, khá sinh động và thấm
thía. Chẳng hạn câu chuyện về công việc sáng tạo của họa sĩ trong Hàn Phi
Tử. Người đại diện lớn nhất của phái Pháp gia này kể rằng, có một nghệ sỹ
người nước Tề, nhân Tề Công hỏi vẽ vật gì khó nhất, ông đáp: ”Vẽ chó, ngựa
và những con thú khác”; còn đối với câu hỏi vẽ gì dễ hơn cả thì ông đáp: ”Vẽ
ma, quỷ và những tà lực khác”. Liền sau đó, người họa sỹ giải thích như
sau: ”Hàng ngày, mọi người đều thấy ngựa và biết rõ ngựa như thế nào. Chỉ
cần lầm lẫn chút ít trong bức họa là họ lập tức bàn tán. Còn ma quỷ thì
chẳng có một nhận thức rõ rệt nào về chúng cả, do vậy vẽ chúng là chuyện
tư tưởng thẩm mỹ trong quá trình sáng tác và được nghệ sĩ phản ánh vào
19
trong tác phẩm nghệ thuật dưới ánh sáng của những lý tưởng xã hội thẩm mỹ
của một thế giới quan nhất định. Bởi vậy, khi xem xét tư tưởng thẩm mỹ của
một tác giả thông qua một tác phẩm cụ thể, chúng ta cần xem xét chủ yếu ở
bình diện nội dung của tác phẩm. Tất nhiên không thể bỏ qua những khía
cạnh nghệ thuật – phương thức để thể hiện nội dung, thể hiện quan điểm tác
giả. Như thế, muốn hiểu tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
thì điều căn bản nhất là thấu đạt nội dung tác phẩm để hướng tới cách nhìn,
tầm suy ngẫm, tư tưởng về các khía cạnh thẩm mỹ của ông.
. Những tiền đề tư tưởng ảnh hưởng tới tư tưởng thẩm mỹ của
Nguyễn Du
1.2.1. Ảnh hưởng của Nho – Phật – Lão và tư tưởng thẩm mỹ Việt Nam
trước thế kỷ XIX đến tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du
1.2.1.1. Ảnh hưởng của Nho – Phật – Lão đến tư tưởng thẩm mỹ của
Nguyễn Du
Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo đã có một khoảng thời gian tồn tại hơn
2500 năm. Trong quãng thời gian hơn hai thiên niên kỷ rưỡi tồn tại, các học
thuyết này đã có rất nhiều biến đổi. Trong phạm vi luận văn này, người viết
chỉ xin nhấn mạnh những điểm quan trọng của các học thuyết này liên quan
tới vấn đề luận văn đang đề cập.
Trước hết, có thể thấy rằng, tư tưởng thẩm mỹ của Việt Nam nói
chung và của Nguyễn Du nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng mỹ
học cổ đại Trung Hoa. Chính bản thân Truyện Kiều cũng được Nguyễn Du
dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung
Quốc. Mỹ học Trung Hoa là sự đan cài và đầy mâu thuẫn giữa các luận thuyết
mỹ học khác nhau. Khuynh hướng tích cực nhất là xem cái “mỹ” có nguồn
của nước ta, Nho giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo, chi phối. Nguyễn Du sống ở
cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX nên đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ những
tư tưởng của Nho giáo, trong đó có tư tưởng thẩm mỹ, nhất là khi ông xuất
21
thân trong một gia đình, một dòng họ nổi tiếng về tước vị và văn chương, đặc
biệt ông nội của Nguyễn Du là Nguyễn Quỳnh lại chuyên chú về Kinh Dịch.
Nho giáo đã được du nhập vào Việt Nam từ khi nước ta bị xâm lược
và sáp nhập vào Trung Quốc – đời Hán (206 TCN đến 220 SCN). Sĩ Nhiếp
(thế kỷ thứ II SCN) được coi là An Nam học tổ, người mở đầu cho Nho học
nước ta. Trong thời kỳ tự chủ, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, Nho giáo cùng với
Phật giáo và Đạo giáo có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân
dân ta. Cuối thế kỷ XIV, sau khi Lê Lợi chiến thắng quân Minh (1427) nhà
nước Lê sơ dành cho Nho giáo địa vị độc tôn – học thuyết chính thống của
nhà nước – cuối thế kỷ đó, vào thời Lê Thánh Tông (làm vua từ 1460 đến
1497), nó đạt đến mức toàn thịnh.
Khổng Tử được coi là người sáng lập ra học thuyết này. Nhưng trước
ông, nó đã tồn tại ở Trung Quốc dưới dạng các chất liệu tư tưởng. Và chỉ đến
Khổng Tử, Nho giáo mới trở thành một học thuyết thực sự. Học thuyết Nho
giáo hướng vào mục đích lớn nhất là “chống loạn cứu thế”, muốn xây dựng
một xã hội có trật tự, hài hòa, trong đó con người sống theo đúng phận vị –
một xã hội “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (quân quân, thần
thần, phụ phụ, tử tử). Nho giáo từ trong mục đích của mình đã hướng về xã
hội, mang tinh thần nhập thế tích cực. Học thuyết này hướng về một bộ phận
những người được xem là tinh hoa của các thời đại: quý tộc các loại và các
nhà nho bằng con đường trước nhất là tu thân rồi mới thực hiện các lý tưởng
“tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Con đường xây dựng chính trị mà Nho gia
hướng theo chính là con đường Đức trị.
vá may gia chánh,…), không có lời ăn tiếng nói dịu dàng, không có lễ, không
thùy mị nết na, không có những đức tính mà người phụ nữ cần có thì không ai
có thể chấp nhận đó là người đẹp lý tưởng.
23
Hơn nữa, tư tưởng thẩm mỹ Nho giáo còn thể hiện ở quan niệm về cái
Đẹp nhân vi rèn luyện, chế ước, tức vẻ đẹp của sự tôi luyện, của sự vượt lên
và vẻ đẹp mang tính công dụng. Cũng như đối với con người, Nho giáo
thường quan tâm xem họ đã làm gì có ích cho nhân quần, xã hội, thì với cái
Đẹp cũng vậy, Nho giáo cũng rất quan tâm đến tính quan dụng, ích lợi của
chúng đối với con người.
Đồng thời, Nho giáo cũng đưa ra quan niệm về cái Đẹp thực hữu,
sống động. Tư tưởng thẩm mỹ Nho giáo đề cao tính biểu tượng, được soi rọi
từ hiện thực của tâm, chí. Mặc dù đề cao vai trò của cái chủ quan trong quá
trình tiếp nhận ngoại cảnh, Nho giáo trong bản thân học thuyết của mình chưa
bao giờ phủ định tính hiện thực của sự tồn tại thế giới hiện tượng. Cái Đẹp,
cái thẩm mỹ trong quan điểm của Nho giáo vẫn là những gì gắn với mặt đất,
con người đang tồn tại chứ không nằm trong một thế giới siêu việt. Nó thường
vận động, biến đổi theo quy luật biến dịch chứ không hề tĩnh tại. Có thể coi
cái động là một phạm trù thẩm mỹ tiêu biểu của văn chương nhà nho. Từ cái
động, nho gia tiến tới xác lập các phạm trù thẩm mỹ khác như cái tự cường,
cái cương kiện, sinh sinh hài hòa. Nho gia từ trong tinh thần triết học nhân
sinh vốn đã theo đuổi quan niệm: “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất
tức” (Thiên vận hành rất khỏe, người quân tử cũng cần làm cho mình không
ngừng tự cường cùng với sự tự cường không nghỉ của trời đất). Những hình
tượng thiên nhiên sống động, cương kiện như tùng, trúc, cúc, mai là sự tiếp
diễn một cách tự nhiên từ tinh thần triết học tới lĩnh vực thẩm mỹ. Hay nói
cách khác, thẩm mỹ cũng là một phương diện trong đời sống tinh thần lấy tu
hiện theo đúng chuẩn mực đạo đức sẽ đưa con người ta tới các khía cạnh của
thẩm mỹ. Như thế là mỹ học được đánh giá trên cơ sở của đạo đức. Còn với
riêng Nguyễn Du, ông luôn quan tâm tới cái “hùng tâm”. Đỗ Phủ - một nhà
thơ, nhà nho tiêu biểu đời Đường, được ông coi là bậc thầy văn chương ngàn
25