Hoàn thiện pháp luật về người không được quyền hưởng di sản - Pdf 36

Hoàn thiêên pháp luâêt về người không được hưởng quyền di sản
Chế định về quyền thừa kế là một trong những chế định quan
trọng của bộ luật dân sự Việt Nam. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện
nay, những vấn đề tranh chấp về thừa kế xảy ra ngày càng nhiều,
đòi hỏi sự phát triển sâu và rộng của chế định về quyền thừa kế.
Việc nghiên cứu về quyền thừa kế có ý nghĩa quan trọng đối với cả
lý luận lẫn thực tiễn. Đặc biệt, là để giải quyết các vấn đề tranh
chấp về thừa kế, cần xác định được đâu là đối tượng có quyền
hưởng thừa kế, đâu là đối tượng không được quyền hưởng thừa kế.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề thừa kế nói chung, và vấn đề đối tượng
được hưởng hay không được hưởng quyền thừa kế nói riêng, em
chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về ngườikhông được hưởng
quyền di sản”
NỘI DUNG
I. Lý luận chung về người thừa kế và người không được quyền
hưởng di sản.
1. Một số vấn đề chung về người thừa kế.
a. Khái niệm
Người thừa kế là người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc
hoặc theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá
nhân và phải là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi
dưỡng với người để lại di sản. Người thừa kế theo di chúc có thể là
cá nhân hoặc tổ chức hoặc Nhà nước.


Căn cứ vào Điều 635 BLDS 2005, điều kiện để cho cá nhân là
người thừa kế khi cá nhân đó phải sống vào thời điểm mở thừa kế
hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đa
thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thi
phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

nhân dân xa, phường, thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ chối nhận
di sản. Người thừa kế có nghĩa vụ liên quan đến di sản thừa kế và
các nghĩa vụ khác, cho nên pháp luật quy định thời hạn từ chối
nhận di sản là 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế. Sau 6 tháng kể từ
ngày mở thừa kế, nếu không từ chối nhận di sản thi được coi là
đồng ý nhận thừa kế.
Ngoài ra, người thừa kế cũng có quyền nhường quyền nhận di sản
cho người khác. Đó không phải là từ chối nhận di sản bởi lẽ người
nhường quyền hưởng di sản thi trước hết phải nhận phần di sản
của minh rồi mới quyết định nhường kỉ phần của minh cho người
khác được, nhưng cũng không thể hiểu việc nhường quyền là
chuyển giao yêu cầu. Có thể hiểu việc nhường quyền nhận di sản
là giữa những người thừa kế đa thực hiện một giao dịch tặng cho
mà đối tượng là quyền tài sản. Việc nhường quyền cũng không


phải là chuyển giao quyền yêu cầu vi người có quyền cũng không
thể cho phép người thứ ba yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện.
2. Một số vấn đề chung về người không được quyền hưởng di sản.
a. Người bị truất quyền hưởng di sản.
Truất quyền thừa kế là một “sự trừng phạt” của người để lại thừa
kế đối với người thừa kế, không cho họ hưởng di sản của minh.
Thông thường là giữa người thừa kế và người để lại di sản tồn tại
một mâu thuẫn nào đó nên khi lập di chúc, người để lại di sản đa
truất quyền thừa kế của một hoặc những người này. Khi bị truất
quyền thừa kế thi người đó sẽ không còn quyền hưởng di sản của
người để lại thừa kế. Nhưng nếu một người không được chỉ định
trong di chúc thi vẫn có quyền hưởng thừa kế tài sản của người
chết theo pháp luật nếu họ thuộc diện và hàng thừa kế; nếu di
chúc không có hiệu lực hay vô hiệu một phần, khi người thừa kế

Các đối tượng được quy định tại khoản này là những người có hành
vi trái pháp luật, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm…của người để lại di sản. Đó là những hành vi không
xứng đáng với bổn phận của người thừa kế và người có hành vi
như vậy không xứng đáng được hưởng di sản thừa kế. Vi những
hành vi bất xứng trên cho nên pháp luật thừa kế nước ta không
chấp nhận để những người có hành vi đó được hưởng di sản.


Những người không được quyền hưởng di sản ở khoản 1 Điều 643
BLDS 2005 còn được các nhà nghiên cứu gọi là những người bị
tước quyền hưởng di sản thừa kế.
Như vậy, người không được quyền hưởng di sản theo nghĩa rộng
bao gồm cả người bị truất quyền hưởng di sản và người bị tước
quyền hưởng thừa kế (loại trừ những người được hưởng thừa kế
theo Điều 669 BLDS 2005).
II. Pháp luật hiện hành về người không được quyền hưởng di sản.
Kế thừa những truyền thống trước đây, nhằm nâng cao những giá
trị truyền thống, đạo đức xa hội, khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 đa
quy định những trường hợp nếu người thừa kế phạm phải sẽ không
được quyền hưởng thừa kế.
1. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe
hoặc về hành vi ngược đai nghiêm trọng, hành hạ người để lại di
sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó
(điểm a khoản 1 điều 643).
Theo Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định: “Mọi công dân Việt Nam
có quyền bất khả xâm phạm về thân thể được pháp luật bảo hộ về
tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự và nhân phẩm”. Trên cơ sở
đó, BLHS năm 1999 đa dành chương XII quy định các tội xâm
phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm con người.

quả đó vẫn xảy ra trên thực tế (lỗi vô ý vi quá tự tin) hoặc người đó
không thấy trước hậu quả có thể xảy ra mặc dù phải thấy trước


hoặc có đủ điều kiện để thấy trước “(vô ý do cẩu thả) thi sẽ không
bị tước quyền hưởng di sản. Còn khi người thực hiện hành vi đa
nhận thức được rõ hành vi của minh là nguy hiểm có thể gây ra
hậu quả chết người, có mong muốn cho hậu quả chết người đó xảy
ra (cố ý trực tiếp) hoặc trong trường hợp người thực hiện hành vi
nhận thức rõ hành vi của minh là nguy hiểm, có thể gây hậu quả
chết người, tuy không mong muốn nhưng vẫn để cho hậu quả chất
người đó xảy ra (cố ý gián tiếp). Vậy trong cả hai trường hợp, cố ý
gián tiếp hay trực tiếp, người thực hiện hành vi đó đều có thể bị
tước quyền hưởng di sản.
b. Hành vi ngược đai nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản,
xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di
sản.
Sự ngược đai, hành hạ, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người
để lại di sản là những những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xa
hội. Những hành vi này thường được thể hiện thông qua các hành
động như mắng chửi, đánh đập, để cho ăn đói khi có thể cho ăn
no, bắt mặc rách khi có thể cho mặc lành… Hành vi này có tính
chất tàn nhẫn, tồi tệ. Quan hệ giữa người phạm tội này với người bị
ngược đai, hành hạ… thường là những người có quan hệ phụ thuộc
nhau, thường là những người có quan hệ gia đinh, họ hàng. Hậu
quả của việc đối xử tàn ác này là gây đau khổ về tinh thần hoặc
đau đớn về mặt thể xác…chứ không cần gây hậu quả về mặt vật
chất. Về mặt chủ quan, những hành vi này phải là những hành vi
cố ý, tức là những người phạm tội này biết được hành vi của minh
là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.

a. Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan
hệ con và cha mẹ – người để lại thừa kế là cha mẹ của họ.
Khoản 2 Điều 36 LHNGD quy định về bổn phận của con phải là
chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ trong mọi trường hợp bất luận tinh
trạng kinh tế, sức khoẻ của cha mẹ như thế nào. Trên cơ sở nghĩa
vụ nuôi dưỡng của con đới với cha mẹ thi có nghĩa vụ cấp dưỡng
của con đối với cha mẹ quy định tại Điều 57. Khi cha mẹ không có
khả năng lao động do già yếu, ốm đau, tàn tật,…, cha mẹ không
có tài sản để tự nuôi minh mà cha mẹ và con không cùng chung
sống. Con phải có khả năng về kinh tế đủ để đảm bảo được cuộc
sống của chính minh.
Như vậy,về nguyên tắc nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ chỉ đặt ra
đối với con đa thành niên. Khi con vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng
cha mẹ tại Điều 36 và Điều 57 LHNGĐ 2000 thi không được quyền
hưởng di sản do cha mẹ để lại.
b. Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan
hệ cha mẹ và con – người để lại thừa kế là con của họ.
Cha mẹ chỉ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái khi con chưa
thành niên hoặc con đa thành niên nhưng bị tàn tật mất năng lực
hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản
để tự nuôi sống minh. Nếu cha mẹ vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng
trên của minh đối với con cái thi sẽ không được hưởng di sản của
con để lại.
c. Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan
hệ anh, chị, em – người để lại thừa kế là anh, chị, em của họ.


Theo quy định của Pháp luật hôn nhân gia đinh 2000 tại Điều 48
và Điều 58 thi anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng
nhau trong một số trường hợp như: không còn cha mẹ hoặc còn

có khả năng kinh tế. Khi ông bà hoặc cháu có nghĩa vụ nói trên, có
khả năng thực hiện mà không thực hiện thi khi người được nuôi
dưỡng đó chết đi, người vi phạm đó sẽ không được quyền hưởng di
sản người chất để lại.
e. Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế là vợ
chồng.
Như đa phân tích ở trên, nuôi dưỡng là sự chăm lo về mặt vật chất
của người này đối với người khác nên pháp luật không quy định
nhưng vẫn cần hiểu giữa vợ với chồng có sự nuôi dưỡng nhau
trong trường hợp một người bị ốm đau, bệnh tật, không thể tự
minh lao động để nuôi minh. Bên cạnh đó, theo Điều 60 LHNGĐ
2000 vợ chồng còn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau trong trường
hợp vợ chồng đa ly hôn nhưng một bên túng thiếu, khó khăn thật
sự và có yêu cầu cấp dưỡng, có lý do chính đáng như ốm đau, tai
nạn… Khi đó, bên được yêu cầu phải có khả năng cấp dưỡng. Việc
tước quyền hưởng di sản của vợ chồng sau khi ly hôn chỉ đặt ra
trong thừ kế theo pháp luật. Vi sau khi ly hôn việc thừa kế của
nhau không còn được đặt ra.
Đây là những trường hợp mà các thành viên trong gia đinh có
nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với nhau. Nếu bên có nghĩa vụ
mà vi phạm nghĩa vụ thi khi người họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng chết
đi họ sẽ không được hưởng di sản.


3. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa
kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người
thừa kế đó có quyền hưởng (điểm c khoản 1 điều 643).
Người thừa kế do mưu đồ muốn chiếm đoạt một phần hoặc toàn
bộ di sản thừa kế mà người thừa kế khác có quyền được hưởng
nên đa có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác

minh chứng được hay không động cơ phạm tội của người thừa kế:
hành vi đó có nhằm mục đích để chiếm đoạt một phần hoặc toàn
bộ di sản mà người thừa kế có tính mạng bị xâm phạm được hưởng
nếu còn sống hay không?
Có hai điều cần phải chú ý:
- Thứ nhất, hành vi phạm pháp phải xảy ra trước thời điểm mở
thừa kế. Tại sao lại phải xảy ra trước thời điểm mở thừa kế? Bởi lẽ,
nếu sau thời điểm mở thừa kế, mỗi người thừa kế đa trở thành chủ
sở hữu thực sự phần thừa kế của minh. Nếu người thừa kế đó chết
thi phần được thừa kế được để lại cho những người thừa kế của họ
chứ không phải là kẻ giết người.
- Thứ hai, động cơ phạm tội phải được ghi nhận trong bản án. Do
đó, bản án không thể được tuyên trước khi mở thừa kế. Vi sẽ rất


bất hợp lý nếu gán cho một người có ý định chiếm đoạt phần tài
sản không tồn tại ở thời điểm phạm tội và cũng không tồn tại ở
thời điểm xét xử. Bản án chỉ có thể được tuyên sau khi mở thừa kế.
Trong trường hợp án đa xử xong trước thời điểm mở thừa kế thi có
thể được xét xử lại theo thủ tục tái thẩm.Cũng giống như trong
trường hợp nêu tại điểm a khoản 1 điều 643 thi dù người thừa kế
phạm tội quy định tại điều khoản này được xóa án tích thi vẫn
không được hưởng di sản.
4. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di
sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy
di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí
của người để lại di sản (điểm c khoản 1 điều 643).
Di chúc thể hiện ý chí của người có tài sản lập ra, định đoạt phần
tài sản đó của minh cho những người thừa kế sau khi người lập di
chúc chết đi. Di chúc là một giao dịch dân sự chỉ thể hiện ý chí của

tiên đa nêu. Điều đáng lưu ý là, trong trường hợp người thừa kế có
hành vi lừa dối người lập di chúc hoặc giả mạo di chúc,… mà
không nhằm mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với
ý chí của người lập di chúc thi chỉ áp dụng các biện pháp chế tài
thông thường của luật dân sự như bồi thường thiệt hại chứ không
áp dụng theo khoản 1 điều 643.
Như vậy,những người có hành vi kể trên sẽ không có quyền hưởng
di sản của người để lại di sản.
III. Thực trạng áp dụng pháp luật về người không được quyền
hưởng di sản và hướng hoàn thiện pháp luật.


1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế liên quan đến người
không được quyền hưởng di sản.
Các tranh chấp dân sự về thừa kế xảy ra rất đa dạng trong đó có
những tranh chấp liên quan đến những người không được quyền
hưởng di sản xảy ra trong thực tế ngày một nhiều. Nhiều trường
hợp những người thừa kế tranh chấp nhau vi trong đó một hay
nhiều người thừa kế vi phạm một trong những hành vi quy định tại
khoản 1 Điều 643 BLDS 2005, những người thừa kế khác cho rằng
những người này thuộc trường hợp không được quyền hưởng di
sản. Chiếm phàn lớn là tranh chấp liên quan đến việc xác định
người thừa kế, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc, nuôi
dưỡng người để lại di sản, xác định một người có hành vi giả mạo,
sửa chữa di chúc… chủ yếu là do các bên đương sự không hiểu rõ
quy trinh tại Điều 643 BLDS. Còn đối những trường hợp người thừa
kế có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm người để lại di sản thi căn cứ để tước quyền đa có bản án
của Toà.
Trường hợp người không được quyền hưởng di sản: Trong thực tiễn

trai của ông Mới, hưởng toàn bộ di sản (ông Thân là người giả mạo
chữ ký). Do giả mạo di chúc bị UBND xa phát hiện khi ông Mới đi
xin xác nhận nên đa khởi kiện đòi chia thừa kế. Ý kiến ông Đường
vi chưa chuyển giao xong nên vẫn yêu cầu chia thừa kế và ông
muốn hưởng toàn bộ hiện vật, đồng thời tước quyền thừa kế của
ông Mới và ông Thân.
Tại án sơ thẩm số 09, ngày 23/12/2000, toà án nhân dân huyện
Hương Trà đa xử, ông Đường được nhà và đất. Ông Đường còn phải


thanh toán cho bà Xoè, bà Toản, ông Hai, bà Tường, bà Ken, bà
Tiêm mỗi xuất là 280.030 đồng. Ông Đường có nghĩa vụ quản lý kỷ
phần của những người con của cụ Con, thanh toán cho họ nếu họ
yêu cầu trong thời hạn. Tước quyền thừa kế của ông Thân và ông
Mới căn cứ vào điểm d, Khoản 1, Điều 646 BLDS 1995.
Ngày 19/12/2000 ông Mới kháng cáo. Ngày 02/01/2001, ông Thân
kháng cáo, Toà phúc thẩm số 17 ngày 11/04/2001. TAND tỉnh Thừa
thiên – Huế sửa án sơ thẩm, xử: Xác định di sản là một căn nhà
12m2 và vườn, giá trị 3.606.000 đồng. Chi phí mai táng hết
800.000 đồng, nợ thuế nhà đất là 101.606 đồng. Di sản còn lại là
2.704.393 đồng. Di sản của cụ Thí vẫn được chia cho ông Thân và
ông Mới vi cho rằng ông Thân và ông Mới không thuộc trường hợp
không được quyền hưởng di sản.
Quyết định: Huỷ án dân sự phúc thẩm, giữ nguyên án sơ thẩm.
Theo nội dung bản án trên thi ông Thân và ông Mới là hai người có
hành vi giả mạo di chúc: ông Thân thừa nhận là người viết di chúc,
ký giả chữ ký cụ Con, ghi ngày lập di chúc sau khi cụ Thí đa chết 7
ngày; ông Mới cũng xác nhận rằng minh biết di chúc này và đại
diện UBND xa xác nhận chính ông Mới là người mang di chúc đến
UBND xác nhận nên cần khẳng định rằng ông Mới cũng tham gia

bản di chúc đứng tên cụ Dần, di chúc được lập năm 1998 có nội
dung cho chị Chăm hưởng toàn bộ nhà và đất của cụ Dần để lại.
Về tài sản, cụ Tam và cụ Dần để lại khối di sản gồm: Một căn nha
̀,101.776.000 đồng, một số vật dụng khác và một số loại cây ăn
quả như dừa,soài,…


Tại bản án phúc thẩm số 126 ngày 3-4-1998 của TAND tỉnh An
Giang đa xử chia di sản của cụ Tam và cụ Dần cho những người
thừa kế theo pháp luật của hai cụ, riêng chị Nguyễn Thị Chăm
không được thừa kế với lý do: Hành vi giả mạo di chúc của chị
Chăm đa vi phạm pháp luật và chị Chăm không có quyền hưởng di
sản của bố, mẹ đẻ theo pháp luật.
Trong vụ án trên, bốn anh, chị, em còn lại đều cho rằng chị Chăm
đa có hành vi giả mạo di chúc nên không được quyền hưởng di sản
của cha mẹ để lại. Cách hiểu của những người đó là không chính
xác vi chị Chăm chỉ giả mạo di chúc của cụ Dần nên chỉ không
được hưởng di sản của cụ Dần để lại, còn di sản của cụ Tam để lại
thi chị Chăm vẫn được hưởng.
3. Hướng hoàn thiện pháp luật.
BLDS 2005 cần ghi nhận quy định cá nhân sinh ra và sống được từ
24 giờ trở lên thi được cơi là sinh ra và còn sống, và nếu sinh ra và
còn sống sau thời điểm mở thừa kế thi sẽ được hưởng di sản. Hơn
thế nữa, pháp luật cũng cần ghi nhận việc thừa kế giữa con riêng
và cha dượng, mẹ kế.
Ngoài những trường hợp thuộc khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 thi
pháp luật cần bổ sung một số trường hợp như sau:
Thứ nhất, người bị truất quyền hưởng di sản.
Thứ hai, người bị kết án hành vi không cứu giúp người để lại di sản
trong tinh trạng nguy hiểm đến tính mạng. Hành vi này được thể

pháp luật vẫn còn những điểm chưa hợp lý, những vấn đề pháp
luật chưa đề cập tới, hoặc có đề cập nhưng chưa cụ thể dẫn tới sự
khó khăn trong việc áp dụng pháp luật cũng như áp dụng pháp
luật mang tính chủ quan của thẩm phán, vi vậy cần có sự sửa đổi
bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự nói chung và pháp luật
về thừa kế nói riêng.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status