B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI
SẢN.
1. Người thừa kế.
BLDS 2005 chưa đưa ra khái niệm cụ thể về người thừa kế chỉ quy định:
“cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế
theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” (điều 631
BLDS). Theo đó có thể hiểu người thừa kế là người được nhận di sản thừa kế
theo pháp luật hoặc theo di chúc hoặc vừa được hưởng di sản theo di chúc vừa
được hưởng di sản theo pháp luật. Những người thừa kế có quyền và nghĩa vụ
về tài sản do người chết để lại.
Người thừa kế theo di chúc là người được chỉ định trong di chúc nên có
thể là bất kì cá nhân hoặc pháp nhân tổ chức nào và trong trường hợp đặc biệt
nhà nước có thể là người thừa kế .
Người thừa kế theo pháp luật phải là những người có một trong 3 mối
quan hệ: hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản. Những
người thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luật được xác định theo 3 hàng thừa
kế quy định tại điều 676 BLDS 2005.
2. Một số vấn đề về người không được quyền hưởng di sản.
2.1 Quy định của BLDS về người không được quyền hưởng di sản
Hiến pháp 1992 và BLDS 2005 đều ghi nhận quyền hưởng thừa kế của cá
nhân. Tuy nhiên trong đười sống xã hội có 1 số trường hợp cá biệt người thừa
kế vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc đạo đức xã hội bị pháp luật tước đi
quyền hưởng di sản thừa kế cả theo di chúc và theo pháp luật. Như vậy đối với
những người không xứng đáng hưởng di sản thừa kế pháp luật nước ta luôn thể
hiện sự nghiêm khắc và đúng đắn bằng việc tước đi quyền thừa kế của họ. Vì
vậy BLDS 2005 đã quy định những trường hợp người không được quyền hưởng
di sản.
1
vợ, chồng,người thân thuộc với người thừa kế thì người đó sẽ không bị coi là có
lỗi vì đã không tố giác tội phạm)
- Người có hành vi vu khống người để lại di sản hay vu khống ông, bà,
cha, mẹ của người đó, và người bị vu khống đã bị phạt về trọng tội hoặc thường
tội.
Cũng trong thời kỳ này, án lệ ở Miền Nam cũng có quy định về những
trường hợp người vợ góa không được hưởng di sản của chồng:
- Vợ góa không để tang chồng
- Vợ góa sống thiếu đạo đức, công khai gây tai tiếng cho gia đình nhà
chồng
- Vợ góa đã có tình nhân hoặc đã lạm dụng quyền hưởng di sản mà
không có biên bản kê khai.
Trong những trường hợp nêu trên thì người vợ góa đó được xem là bất
xứng, vì vậy họ không có quyền được hưởng di sản của chồng. Phần di sản này
sẽ được thừa kế cho con hoặc cho cháu của người để lại di sản hưởng.
Sau năm 1945, Việt Nam tuyên bố độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, chủ tịch chính phủ lâm thời đã ban hành sắc lệnh ngày 10/10/1945,
theo chương II – Luật hộ của sắc lệnh này thì ở nước ta trong giai đoạn từ năm 1945
đến năm 1959 vẫn áp dụng những quy định của pháp luật phong kiến về thừa kế, trừ
những quy định trái với nguyên tắc cơ bản của hiến pháp 1946.
Trong giai đoạn tiếp theo, từ năm 1959 đến năm 1981, đã có một số thông
tư của ngành tòa án hướng dẫn giải quyết tranh chấp về quyền thừa kế, tuy
nhiên không có bất cứ quy định nào về người thừa kế không có quyền hưởng di
sản. Chính điều này đã tạo “lỗ hổng” lớn, làm cho pháp luật không giải quyết
được thỏa đáng tranh chấp về thừa kế liên quan tới người thừa kế có hành vi trái
pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc xâm phạm đến người để lại di chúc,… Có
thể nói, trong giai đoạn này, pháp luật đã không dự liệu được hết những tình
huống về thừa kế có thể xảy ra trên thực tế dẫn tới việc chưa có quy định điều
4
II. NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN THEO ĐIỀU 643
BLDS 2005.
1.Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về
hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm
nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó (điểm a khoản 1 điều 643)
1.1 Hành vi cố tình xâm phạm tính mạng tính mạng, sức khỏe người để lại di
sản.
Hành vi cố tình xâm phạm tính mạng người để lại di sản là hành vi cố ý
tước đoạt tính mạng người để lị di sản một cách trái pháp luật bằng mọi hình
thức dù với bất kì động cơ hay mục đích nào kể cả khi được sự đồng ý của nạn
nhân.
Về mặt chủ quan thì hành vi tước đoạt tính mạng người để lại di sản phải
được thực hiện với lỗi cố ý, nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ được hành vi
vi phạm của mình là nguy hiểm và gây ra hậu quả chết người nhưng vẫn mong
muốn (cố ý trực tiếp) hoặc có ý thức biết trước hậu quả nhưng vẫn để mặc cho
hành vi đó xảy ra (cố ý gián tiếp). Như vậy nếu hành vi chỉ là vô ý làm chết
người để lại di sản thì người phạm tội cũng không bị tước quyền thừa kế di sản
thừa kế. Như vậy việc xem xét lỗi cố ý hay vô ý trong trường hợp này có ý
nghĩa quyết định đến việc người đó có được hưởng di sản hay không, động cơ
mục đích của việc phạm tội sẽ không phải là căn cứ xem xét việc có bị tước
quyền hưởng di sản hay không mặc dù đó là tình tiết để định khung tăng nặng
trách nhiệm hình sự.
Điều 71 hiến pháp 1992 quy định về việc cá nhân có quyền được bảo hộ
về sức khỏe. Hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người khác là hành vi tác động
khiến cho tìn trạng sức lực của người đó yếu đi, gây nên các tổn thương ở các
bộ phận cơ thể, phá vỡ sự hoạt động bình thường trong cơ thể người khác là
lệ thuộc mình thông qua việc đánh đập, chửi mắng, không cho họ những quyền
tối thiểu như học hành, nghỉ ngơi….trong khi bản thân người ngược đãi có đủ
điều kiện để có thể đối xử tốt hơn. Đây là hành vi trái pháp luật và trái cả đạo
đức xã hội.
6
Hành vi hành hạ là hành vi đối xử tàn ác gây đau đớn về thể xác và tinh
thần cho người khác khiên họ không chỉ bị đau đớn về thể xác mà còn bị giày
vò đau khổ về tinh thần. Những hành vi trên chỉ có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc
cố ý gián tiếp chứ không thể là do vô ý gây ra và giữa người phạm tội và tội
phạm phải có quan hệ lệ thuộc về hôn nhân, gia đình dòng tộc. Tuy nhiên BLDS
2005 chỉ quy định đó là hành vi ngược đãi hành hạ có tính chất nghiêm trọng
nhưng tính nghiêm trọng là như thế nào lại chưa quy định cụ thể.
Cơ sở để không cho người có hành vi ngược đãi hành hạ người để lai di
sản thừa kế là việc quy định hành vi ngược đãi phải có tính nghiêm trọng tuy
rằng tính nghiêm trọng đó lại chưa được quy định cụ thể, nhưng cơ sở để tước
quyền thừa kế chính là bản án có hiệu lực, nên bản thân bản án đã xác định tính
nghiêm trọng của hành vi này. Theo BLHS thì những hành vi ngược đãi nghiêm
trọng xâm phạm đến sức khỏe danh dự nhân phẩm người bị hại là cấu thành các
tội được quy định tại các điều 110, điều 151, điều 100.
1.3. Hành vi xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm người để lại di sản.
Danh dự nhân phẩm là những giá trị tinh thần gắn liền với một cá nhân
nhất định, luôn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, khi các yếu tố này bị xâm
phạm sẽ dẫn đến tổn thất về cả vật chất và tinh thần cho người bị hại. Hành vi
xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm người khác có thể thông qua nhiều
hình thức khác nhau, công khai hoặc không công khai. Về trách nhiệm hình sự
các hành vi trên có thể cấu thành tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống.
Cơ sở để tước quyền thừa kế của người có hành vi xâm phạm nghiêm
hoản cảnh, đặc biệt là khi cha mẹ bị ốm đau, già yếu, bệnh tật. Nghĩa vụ chăm
sóc nuôi dưỡng cha mẹ là nghĩa vụ bắt buộc nhưng đã vi phạm nghĩa vụ đó thì
không những bị coi là bất hiếu mà còn bị pháp luật tước quyền hưởng di sản
thừa kế của cha me. Nhưng theo quy định tại luật HN&GD thì cha mẹ có nghĩa
vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con trong hai trường hợp:
+ Con chưa thành niên
8
+ Con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Con có quyền lập di chúc để lại thừa kế trong ba trường hợp:
+ Con đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự
+ Con chưa thành niên trên mười lăm tuổi, có tài sản riêng
+ Con đã thành niên nhưng bị tàn tật, tuy nhiên không mất năng lực hành
vi dân sự
Có thể thấy, trong ba trường hợp này, cha mẹ chỉ có nghĩa vụ nuôi dưỡng
con trong hai trường hợp sau. Mặt khác, cha mẹ là người đương nhiên được
hưởng di sản thừa kế của con bất kể có được con để lại di sản theo di chúc hay
không (người thừa kế không phụ thuộc vào nôi dung của di chúc – điều 669)
nhưng nếu cha mẹ không thực hiện quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng con trong khi
con thuộc trường hợp thứ hai và thứ ba thì cha mẹ cũng sẽ không được hưởng
bất kỳ tài sản nào từ di sản thừa kế của con.
Trong khi chỉ có một số trường hợp cha mẹ mới buộc phải nuôi dưỡng
con, thì nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của con là trong mọi
trường hợp, bất luận tình trạng sức khỏe của cha mẹ ra sao, tình hình kinh tế của
cha mẹ như thế nào.
Thông thường nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc lẫn nhau là đạo đức đối xử
giữa những người có 1 trong các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi
dưỡng. Tuy nhiên giữa con riêng và cha mẹ kế không có mối quan hệ huyết
dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều
kiện trông nom, chăm sóc giáo dục con. Tuy nhiên phạm vi anh, chị, em bao
gồm anh, chị, em
Như vậy nghĩa vụ nuôi dưỡng của anh, chị, em (người thừa kế theo di
chúc) đối với người để lại thừa kế khi người này nằm trong tình trạng trên, đồng
thời họ là người chưa thành niên (tròn mười lăm nhưng chưa đủ mười tám tuổi)
hoặc là người bị tàn tật nhưng không bị mất năng lực hành vi.
Bởi vậy nếu người thừa kế và người để lại di chúc thuộc một trong hai
trường hợp này mà người thừa kế lại không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc nuôi
10
dưỡng người để lại di sản thì người thừa kế cũng không được hưởng di sản thừa
kế theo quy định của điều luật này.
Thứ 4, Người để lại di sản là vợ chồng của người thừa kế.
Giữa vợ chồng phải tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc hon nhân thực tế
được tòa án công nhận. Vợ chồng đối với nhau không có nghĩa vụ nuôi dưỡng
mà giữa họ có nghĩa vụ cấp dưỡng lẫn nhau khi 1 bên gặp khó khăn, không có
khả năng lao động hoặc mất năng lực hành vi dân sự khi họ đã ly hôn hoặc khi
hôn nhân tồn tại trong điều kiện vợ chồng sống xa nhau mà một bên lâm vào
tình trạng khó khăn túng thiếu do bị tai nạn mất năng lực hành vi dân sự, mất
sức lao động, ốm đau…hoặc có lí do chính đáng khác thì có quyền yêu cầu bên
kia cấp dưỡng.
Trong trường hợp vợ chồng đã li hôn bằng 1 bản án có hiệu lực pháp luật
mà 1 bên chết thì bên còn lại không là người thừa kế theo pháp luật của người
đã chết chỉ được quyền thừa kế theo di chúc. Nếu sau li hôn 1 bên đã không
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho bên kia thì sẽ không được hưởng di sản của
bên còn lại khi người đó chết. Trong trường hợp khi hôn nhân đang tồn tại nếu 1
bên không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng với bên còn lại thì khi người đó chết,
con cháu để thế vị hoặc con cháu thuộc trường hợp không được quyền hưởng di
sản, từ chối nhận di sản.
Hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác là hành vi cố ý
tước đoạt tính mạng người thừa kế khác 1 cách trái pháp luật. Tuy nhiên cần
phải phân biệt ba trường hợp xâm phạm đến tính mạng của người thừa kế khác
như sau:
- Cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác – giết người thừa kế
khác với mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế
đó được hưởng: trong trường hợp này, người thừa kế thực hiện hành vi đó sẽ
không được quyền hưởng di sản thừa kế
- Cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác – giết người thừa kế
khác nhưng không phải với mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản
mà người thừa kế đó được hưởng. Trong trường hợp này, người thừa kế thực
hiện hành vi giết người thừa kế khác không bị tước quyền hưởng di sản.
12
- Vô ý làm chết người thừa kế khác: dĩ nhiên trong trường hợp này là lỗi
vô ý, hoàn toàn không thuộc trường hợp bị tước quyền thừa kế, nên người thực
hiện hành vi này vẫn có quyền hưởng di sản.
Cơ sở để tước quyền thừa kế của ngưới có hành vi cố ý xâm phạm tính
mạng người thừa kế khác thì cũng cần là hành vi cố ý và bị kết án bắng 1 bản án
có hiệu lực pháp luật, có nghĩa là nếu người có hành vi trên không bị kết án về
hành vi đó thì không bị tước quyền hưởng di sản. Tuy nhiên việc tước bỏ quyền
hưởng di sản của người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người thưà kế khác
phải xem xét đến động cơ, mục đích của người này nhằm mục đích chiếm đoạt
1 phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế khác có quyền được hưởng, đây là
tình tiết quan trọng để xác đinh việc người đó có được quyền hưởng thừa kế hay
không.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng hành vi phạm pháp phải xảy ra trước thời điểm
kế thứ nhất đó là bà B (vợ ông A) và ba người con: anh C, anh D và chị E.
Trong trường hợp này, giả sử trước khi ông A chết, anh D có hành vi giết anh
C. Tuy nhiên, do anh C có người thế vị, nên dù D có giết C cũng không thể tăng
thêm phần di sản mình được hưởng được, mà phần di sản (đáng lý được để lại
cho C) thì hai cháu K và H sẽ được hưởng theo nguyên tắc thế vị.
Một lưu ý nữa đó là động cơ phạm tội phải được ghi nhận trong bản án.
Do đó, bản án không thể được tuyên trước khi mở thừa kế. Vì sẽ rất bất hợp lý
nếu gán cho một người có ý định chiếm đoạt phần tài sản (di sản) không tồn tại
ở thời điểm phạm tội và cũng không tồn tại ở thời điểm xét xử. Bản án chỉ có
thể được tuyên sau khi mở thừa kế. Trong trường hợp án đã xử xong trước thời
điểm mở thừa kế thì có thể được xét xử lại theo thủ tục tái thẩm.
Cũng giống như trong trường hợp nêu tại điểm a khoản 1 điều 643 thì dù
người thừa kế phạm tội quy định tại điều khoản này được xóa án tích thì vẫn
không được hưởng di sản.
4. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản
trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc
nhằm hưởng một phần hặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di
sản (điểm c khoản 1 điều 643)
14
4.1. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản
trong việc lập di chúc
Di chúc thể hiện ý chí của người có tài sản lập ra, định đoạt phần tài sản
đó của mình cho những người thừa kế sau khi người lập di chúc chết đi. Di chúc
là giao dịch dân sự chỉ thể hiện ý chí của một bên – đó là người lập di chúc. Ý
chí của người lập di chúc là hoàn toàn tự do, tự nguyện, tự định đoạt tài sản của
mình cho người đã được chỉ định. Pháp luật cũng quy định về điều kiện để lập
di chúc (điều 647 BLDS 2005), theo đó, người lập di chúc phải đủ điều kiện về
độ tuổi lập di chúc và điều kiện để di chúc hợp pháp (điều 652 BLDS 2005),
người để lại di sản khi còn sống, thường là mục đích nhằm có lợi cho người có
hành vi sửa chữa di chúc nhằm hưởng nhiều hơn phần di sản mình được hưởng
hoặc hưởng 1 phần hoặc toàn bộ di sản.
Hủy di chúc là hành vi dung các thủ đoạn khác nhau khiến di chúc của
người để lại di sản không còn tồn tại, bị phá hủy hoàn toàn không thể khôi phục
được. Động cơ của hành vi hủy hoại di chúc có thể là người đó không được chia
di sản trong di chúc hoặc khi chia di sản theo di chúc họ sẽ được hưởng phần ít
hơn khi chia theo pháp luật. Do đó người có hành vi hủy hoại di chúc cũng đồng
thời là người được thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản.
Cơ sở của tước quyền thừa kế của người có hành vi giả mạo, sửa chữa,
hủy di chúc phải trái với ý chí của người lập di chúc, nếu việc giả mạo sửa chữa
hay hủy bỏ nội dung di chúc không trái với ý chí của người lập di chúc. Thì tất
nhiên không thể tước quyền hưởng di sản của họ.
Điều luật nhắc tới các hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản việc lập di
chúc, giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc, tuy nhiên còn một số hành vi không được
nhà làm luật nêu ra như làm di chúc giả, giấu giếm di chúc,… có thể được xử lý
theo nguyên tắc áp dụng pháp luật tương tự.
Tuy nhiên việc xác định tước quyền hưởng di sản của người thừa kế trong
các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 643 BLDS 2005 cũng cần được cân
nhắc xem xét tôn trọng dự tự do ý chí của người để lại di sản. Theo khoản 2
điều 643 BLDS thì: “Những người quy định tại khoản 1 điều này vẫn được
hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng
16
vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”. Nhưng người thừa kế đã nêu trên không
có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.
III. MỘT SỐ NHẬN XÉT CÙNG Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN
THIỆN QUY ĐỊNH VỀ NHỮNG NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG CÓ
QUYỀN HƯỞNG DI SẢN THEO PHÁP LUẬT.
nhầm là cháu có nghĩa vụ nuôi dưỡng cô, dì, chú, bác vì hàng thừa kế thứ ba là
cô, dì, chú, bác và cháu gọi người chết là cô, dì, chú, bác.
Ngoài ra còn một điểm không rõ ràng nữa đó chính là như thế nào thì
được coi là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng ? Vấn đề này vốn dĩ
hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của thẩm phán. Cần phải có một văn bản pháp
luật hướng dẫn để có sự thống nhất giữa các tòa án, cũng như minh bạch trong
việc đánh giá tính nghiêm trọng của hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng. Khi
pháp lệnh thừa kế năm 1990 ra đời thì theo đó là Nghị quyết 02/NQ/HĐTP ngày
19 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (hiện
không còn hiệu lực) hướng dẫn về việc áp dụng một số quy định của pháp lệnh
thừa kế trong đó có nêu: Những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau theo quy
định tại các Điều 19, Điều 20 và Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm
1986, trong khoảng thời gian 3 năm trước khi người để lại di sản chết nếu có
khả năng thực hiện nuôi dưỡng mà không thực hiện làm cho người cần được
nuôi dưỡng lâm vào tình trạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng thì không
có quyền hưởng di sản của người đó. (02/1990/NQ – HĐTP – 2,b). Qua đó, có
thể thấy Nghị quyết này là tương đối phù hợp với thực tế nên cần tiếp thu tinh
thần đó để ban hành một văn bản hiện hành để Tòa án có cơ sở pháp lý áp dụng
khi giải quyết thừa kế.
Thứ hai, ngoài các hành vi được quy định trong khoản 1 điều 643
BLDS cần phải xem xét đến một hành vi nguy hiểm khác của người thừa kế như
- Hành vi không cứu giúp người dể lại di sản khi trong tình trạng nguy
hiểm đến tính mạng trong khi có khả năng thực hiện về khách quan và chủ quan
để cứu giúp người đó dẫn đến hậu quả người đó không được cứu giúp phải
chết;
18
- Người đã biết những hành vi xâm phạm tính mạng người để lại di
trường hợp này chỉ được tiến hành giải quyết chừng nào bản án nói trên đã có
hiệu lực pháp luật.
Do đó có cần hay không một bản án về tình trạng không được hưởng di
sản? Văn bản luật không nói gì tới các thủ tục thiết lập tình trạng không có
quyền hưởng di sản. Điều đó có nghĩa rằng, không có quyền hưởng di sản phát
sinh một cách đương nhiên do hiệu lực của pháp luật, một khi các điều kiện cần
thiết đã hội tụ đầy đủ. Tất nhiên, trong trường hợp có sự phản đối thì có thể sẽ
có một vụ án. Nhưng khi đó, tòa án chỉ làm một công việc duy nhất đó là xác
nhận hay không tình trạng không có quyền hưởng di sản dựa trên kết quả thẩm
định của các yếu tố liên quan. Sự tồn tại của một bản án kết án người thế vị về
hành vi trái pháp luật quy định tại khoản 1 điều 643 BLDS. Nói cách khác,
không có bản án thiết lập tình trạng không có quyền hưởng di sản mà chỉ có bản
án tuyên bố tình trạng đó.
Trong khung cách của đạo đức và pháp lý của việt Nam, quyền kiện cáo
liên quan tới tình trạng không có quyền hưởng di sản của một người phải được
coi là một quyền gắn liền với nhân thân của người có quyền hưởng di sản, bởi
vậy, chỉ có họ mới được phép thực hiện quyền này trước tòa: vấn đề ở đây
không phải là có lợi hay không có lợi mà là làm như thế nào để răn đe ai cố tình
chà đạp lên các giá trị được pháp luật bảo vệ.
20