1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Về cơ sở lý luận, tại Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về thị trường
xuất khẩu hàng hoá nói chung và hàng nông sản nói riêng. Tuy nhiên, chưa có một
đề tài nào nghiên cứu về thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong
bối cảnh mới hiện nay khi Việt Nam đang hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế
giới và khu vực thông qua việc ký kết nhiều FTA chiến lược. Chính vì vậy, việc xây
dựng và hoàn thiện khung lý thuyết về phát triển thị trường xuất khẩu làm cơ sở giải
quyết các vấn đề thực tế là một yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay.
Về thực tiễn, Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nhiều lợi thế và tiềm năng
về đất đai, lao động và điều kiện sinh thái cho phép phát triển sản xuất nhiều loại nông
sản xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn. Hàng nông sản xuất khẩu có vai trò quan trọng
trong phát triển kinh tế, chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nước. Xuất khẩu nông sản góp phần tạo nguồn vốn quan trọng để tiến hành công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực và lợi thế quốc gia, tạo ra công ăn việc làm, giữ
ổn định nền kinh tế đất nước, mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại và tăng cường vị
thế kinh tế của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Theo số liệu của Bộ Công thương, hiện nay hàng nông sản của Việt Nam đã
có mặt tại nhiều nước trên thế giới, thâm nhập được các thị trường nhập khẩu nông
sản như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc, trong đó thị trường Trung Quốc
chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, thị
phần hàng nông sản Việt Nam tại các thị trường này còn nhỏ bé và đang có sự phụ
thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc. Điều này mang đến rất nhiều rủi ro cho hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam khi thị trường có biến động.
Bên cạnh các thị trường truyền thống, hàng nông sản Việt Nam đã có mặt tại
các thị trường ở khu vực Trung Đông, châu Phi nhưng mới ở mức độ thăm dò hoặc
3
triển xuất nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 của
Bộ Công thương
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục tiêu của luận án nêu trên, luận án tập trung giải quyết những
nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển thị
trường xuất khẩu hàng nông sản của một quốc gia. Nghiên cứu kinh nghiệm về phát
triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của một số nước trong khu vực và rút ra
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Phân tích thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt
Nam giai đoạn 2008 - 2014. Đưa ra đánh giá về những thành công, những hạn chế
của hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam thời gian qua
và nguyên nhân dẫn của hạn chế làm cơ sở cho các đề xuất giải pháp khắc phục.
- Đưa ra các quan điểm, định hướng và đề xuất một số giải pháp và kiến nghị
tiếp tục phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam đến năm 2025,
tầm nhìn 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu về hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu
hàng nông sản của Việt Nam thời gian qua.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Một là, luận án tập trung nghiên cứu các mặt hàng
nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (gạo, cà phê, cao su và hạt điều), hai là
các thị trường xuất khẩu hàng nông sản chính của Việt Nam (Trung Quốc, Hoa Kỳ
và EU).
Về nội dung: Chủ yếu nghiên cứu thị trường và phát triển thị trường xuất khẩu
thực hiện TPP để đề xuất giải pháp nhằm phát triển thị trường hàng nông sản của
Việt Nam một cách sát thực, sáng tạo và khoa học.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia (chuyên sâu): Được tác giả sử dụng để
phỏng vấn, trao đổi, thảo luận với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, lãnh đạo
5
các bộ ngành về các vấn đề liên quan đến thị trường xuất khẩu hàng nông sản của
Việt Nam trong bối cảnh hiện nay nhằm giúp cho đề tài đưa ra các giải pháp có tính
khả thi cao.
5. Những đóng góp khoa học của luận án
- Hệ thống hoá được một số lý luận cơ bản về vấn đề phát triển thị trường
xuất khẩu hàng hàng nông sản Việt Nam. Luận án đã hệ thống và tổng hợp các tài
liệu trong, ngoài nước và đưa ra khái niệm, xác lập mô hình, nội dung, yếu tố ảnh
hưởng và chỉ tiêu đánh giá hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản.
- Luận án nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông
sản của Trung Quốc và Thái Lan nhằm rút ra bài học hữu ích cho Việt Nam.
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông
sản của Việt Nam giai đoạn 2008-2014, gắn với mốc hậu khủng hoảng kinh tế thế
giới. Đưa ra những nguyên nhân hạn chế hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu
hàng nông sản của Việt Nam.
- Đề xuất những quan điểm, định hướng và giải pháp đối với Nhà nước và
doanh nghiệp nhằm tiếp tục phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt
Nam đến 2020, tầm nhìn 2030.
6. Ý nghĩa của luận án
Luận án được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập
sâu, rộng với nền kinh tế thế giới, kinh tế khu vực thông qua ký kết các hiệp định
song phương và đa phương chiến lược. Do vậy, những vấn đề đặt ra và giải pháp
của luận án xuất phát từ thực tiễn sinh động. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể
trọng lượng (gravity model) để phân tích.
Năm 1962 Jan Tinbergen (Nhà kinh tế học người Hà Lan, từng đạt giải Nobel
kinh tế năm 1969) lần đầu tiên sử dụng một nghiên cứu tương tự như Định luật hấp
dẫn của Newton để mô tả tổng hợp về dòng chảy thương mại giữa hai nước là "Tỷ lệ
thuận với tổng sản phẩm quốc gia (GDP) của các quốc gia và tỉ lệ nghịch với
khoảng cách giữa chúng”. Ban đầu, khoảng cách đồng nghĩa với khoảng cách địa lý
giữa hai nước, nhưng sau đó nó bao gồm nhiều hình thức như: Rào cản thương mại,
chi phí vận chuyển, thuế nhập khẩu và các loại thuế, hợp đồng, thông tin hoặc phân
phối chi phí...[72]
Kể từ sau nghiên cứu của Tinbergen đến nay, Mô hình trọng lượng đã trở
thành một trong những mô hình thực nghiệm thành công nhất trên thế giới. Nó là sự
hợp nhất giữa lý thuyết nền tảng về trọng lượng và thực tiễn để phân tích mối quan
hệ về thương mại giữa các nước, từ đó đưa ra những dự đoán phong phú, chính xác
hơn trong tương lai.
Anderson (1979) là một trong những nhà kinh tế học đầu tiên phát triển
một nền tảng lý thuyết vững chắc của mô hình trọng lượng. Anderson phân biệt
hàng hóa không chỉ theo ngành (ví dụ: hóa chất, sản phẩm gỗ, ...) mà còn bởi
nơi sản xuất chúng. Trong mô hình của mình, Anderson giả định sản phẩm
được phân biệt với nhau bởi nơi sản xuất (thường được biết đến là giả định
8
Armington ). Do đó, xuất xứ của hàng hoá là rất quan trọng cho các đặc tính
của sản phẩm. Armington giả định rằng hai hàng hóa cùng loại nhưng có nguồn
gốc từ các nước khác nhau có thể thay thế hoàn hảo nhu cầu. Bằng cách xác
định nhu cầu của những hàng hoá này, Anderson đã giúp để giải thích sự xuất
hiện của biến thu nhập trong mô hình lực hấp dẫn, cũng như đưa biến này vào
mô hình trọng lượng. Bergstrand (1985) cũng sử dụng cách tiếp cận này, tuy
nhiên ông đã nghiên cứu kỹ hơn về phía cung của nền kinh tế. Kết quả cho thấy
cách về văn hoá không phải là yếu tố quan trọng cho dự báo về xuất khẩu. Mô
hình nghiên cứu kết hợp này là sự mở rộng của mô hình OMOI cũ và được áp
dụng chủ yếu cho các ngành công nghiệp chủ thể.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về Mô hình trọng lượng kể trên, còn một
số công trình tiêu biểu khác như:
Angrist JC, Pischke J-S (2008) Mostly harmless econometrics: an
empiricist's companion (Kinh tế lượng học: Bạn đồng hành của những người
theo chủ nghĩa kinh nghiệm), Princeton University Press, Princeton Arkolakis
C, Costinot A, Andres Rodriguez-Clare A (2012) New Trade Models, Same Old
Gains?(Mô hình kinh doanh mới: Vẫn là những thành tựu cũ?), American;
Armington, PS (1969) A theory of demand for products distinguished by place
of production (Học thuyết về nhu cầu sản phẩm theo phân theo nơi sản xuất);
Baier SL, Bergstrand JH (2001) The growth of world trade: tariffs, transport
costs and income similarity (Tăng trưởng thương mại toàn cầu: Điểm tương
đồng giữa thuế quan, chi phí vận chuyển và thu nhập) J. Int.Econ; Baier SL,
Bergstrand JH (2004) Economic determinants of free trade agreements (Những
yếu tố kinh tế quyết định trong thoả thuận thương mại tự do). J. Int. Econ;
Baier SL, Bergstrand JH (2007) Do free trade agreements actually increase
members’ international trade? (Các thoả thuận thương mại tự do có thực sự
làm tăng lợi ích thương mại quốc tế của các nước thành viên?)J.Int. Econ;
Baier SL, Bergstrand JH (2009) Bonus vetus OLS: a simple method for
10
approximating international trade-cost effects using the gravity equation (Một
phương pháp đơn giản nhằm ước tính sơ bộ các tác động liên quan đến chi phí
thương mại quốc tế sử dụng mô hình lực hấp dẫn; Baldwin R, Taglioni D
(2006) Gravity for dummies and dummies for gravity equations, NBER
Working Paper; Bergstrand JH (1985) The gravity equation in international
dòng chảy thương mại. Mối quan hệ giữa các chỉ số và dòng chảy thương mại
được ước tính bằng cách sử dụng một mô hình hấp dẫn bao gồm thuế nhập khẩu
và các biến số tiêu chuẩn khác. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tăng cường hiệu quả
cảng biển, những cải cách trong thủ tục hải quan và mở rộng sử dụng thương mại
điện tử có ảnh hưởng lớn và tích cực đối với dòng thương mại. Ngược lại, rào
cản pháp lý ngăn chặn thương mại.
The US- Vietnam Trade council, 2009, “Catalog of Legal Updates:
Vietnam Trade Policy Regime” đã phân tích chính sách thương mại nói chung và
chính sách phát triển xuất khẩu nói riêng của Việt Nam, so sánh mức độ phù hợp
với các cam kết của BTA và với các quy định của WTO.
Theo UNCTAD/UNDP (2014), The training of trainers Course on “Selected
Issues of the International Economic Agenda and Accession to TPP”, Hanoi,
Vietnam đã chỉ ra các xu hướng mới trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế hiện
nay. Đồng thời, phân tích những cơ hội và thách thức đối với các quốc gia đang
phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng khi tham gia TPP.
Tháng 5/2010, chương trình nghiên cứu “Assess the impact of economic
integration in ASEAN and APEC trade flows in the region” của trung tâm
Thương mại quốc tế ( ITC, WTO) đã áp dụng mô hình trọng lượng để tính toán
tiềm năng thương mại cho các nền kinh tế đang phát triển và các nền kinh tế
chuyển đổi. Tuy nhiên trong nghiên cứu này, Việt Nam chỉ được đề cập đến với
tư cách là nước nhập khẩu chứ không phải nước xuất khẩu.
Tóm lại, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về thị trường xuất
12
khẩu hàng hóa dựa trên phân tích Mô hình trọng lượng và vai trò của phát triển thị
trường xuất khẩu đối với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, chưa có công trình
nào liên quan đến phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của một nước, đặc
biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay.
xuất khẩu chủ lực được xác định dựa trên vai trò quan trọng của nó đối với
nền kinh tế quốc dân, thể hiện thông qua 6 tiêu chí là khả năng đóng góp lớn
cho giá trị tăng thêm GDP; khả năng chiếm lĩnh thị trường nội địa hoặc thế
giới; sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước với giá hợp lý để tăng khả năng
cạnh tranh; tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đạt giá trị tăng
thêm cao trên một đồng vốn tài sản lưu động và một đồng vốn tài sản cố định.
Trên cơ sở này các tác giả đã xác lập được 10 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam để phân tích, trong đó đối tượng nghiên cứu trọng tâm là các
mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (dệt may, giày dép,
dầu thô, điện tử và linh kiện điện tử...), còn các các mặt hàng nông nghiệp
xuất khẩu chủ lực được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm thuỷ sản, chăn nuôi,
trồng trọt và lâm nghiệp.
Đề tài phân tích tác động của khoa học công nghệ, các rào cản của thị
trường xuất khẩu và hệ thống cơ chế chính sách kích thích phát triển sản xuất,
xuất khẩu đến hiệu quả sản xuất các sản phẩm công, nông nghiệp chủ lực.
Xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế vĩ mô về mặt lượng
trong sản xuất hàng công, nông nghiệp chủ lực gồm: Đánh giá theo quan điểm
giá trị tăng thêm và tốc độ tăng trưởng; Đánh giá theo quan điểm chiếm lĩnh
thị trường nội địa; Đánh giá theo quan điểm sử dụng lao động trong nước;
Đánh giá theo quan điểm sử dụng vốn đầu tư phát triển; Đánh giá theo quan
điểm sử dụng tài nguyên và nguyên liệu trong nước; Đánh giá theo quan điểm
bảo vệ môi trường và đạt trình độ quốc tế; Đánh giá theo quan điểm nâng cao
14
thu nhập lao động và đánh giá theo quan điểm thiết yếu đối với sinh hoạt và
thiết yếu đối với sản xuất. Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập tới các tiêu chí đánh
giá hiệu quả phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá.
Trong phần thực trạng công nghệ, năng lực sản xuất và xuất khẩu các sản
nông nghiệp. Nhóm tác giả chủ yếu nghiên cứu về khía cạnh sản xuất, ứng
dụng khoa học công nghệ của các các ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực
chứ chưa đi sâu nghiên cứu về vấn đề thị trường xuất khẩu các mặt hàng nói
chung và hàng nông sản nói riêng.
- Để xác định những định hướng lớn về chính sách phát triển thị trường
hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2010-2020, PGS.TS Nguyễn Văn
Nam (Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Công thương) đã tiến hành nghiên
cứu đề tài độc lập cấp nhà nước “Chính sách và giải pháp phát triển thị
trường hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn 2020”.
Trong phần cơ sở lý luận, tác giả đã phân tích tầm quan trọng của thị
trường trong chiến lược hướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển.
Phát triển thị trường xuất khẩu trong giai đoạn 2010-2020 cần tiếp tục duy trì
chính sách đa thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu; mối quan hệ 2
chiều giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế cũng như giữa phạm
trù xuất khẩu và nhập khẩu trong chiến lược tăng trưởng xuất khẩu.
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu hàng
hoá của Việt Nam giai đoạn 2001-2011, tác giả đã đưa ra đánh giá tổng
quát chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất
nhập khẩu; kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu và
chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu. Từ đó, tổng kết được 9 bài học
kinh nghiệm của Việt Nam trong quá trình phát triển thị trường xuất khẩu
hàng hoá thời gian qua.
16
Đề tài đưa ra dự báo về triển vọng xuất khẩu một số mặt hàng xuất khẩu
chính của Việt Nam (nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản; nhóm hàng công tiêu
nghiệp tiêu dùng; nhóm hàng vật liệu xây dựng; nhóm hàng dầu mỏ và các
giải pháp thực thi chiến lược của chính sách thương mại.
Đề tài đã tổng kết, đánh giá tình hình xây dựng và thực hiện chiến lược
thương mại của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tập trung đánh giá tình hình xây
dựng và thực hiện chiến lược xuất nhập khẩu và chiến lược đề án phát triển thị
trường nội địa. Trong thời kỳ thực thi chiến lược này, Việt Nam đã đạt được
những mục tiêu cơ bản, nhưng do tác động của bối cảnh trong nước và bối cảnh
quốc tế có nhiều diễn biến khó lường đã khiến cho một số mục tiêu và định
hướng của chiến lược không hoàn thành được trong thực tiễn.
Từ những phân tích và dự báo bối cảnh trong nước và quốc tế có tác
động tới quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển thương mại
của Việt Nam thời kỳ 2011-2020, đề tài đã xây dựng những mục tiêu tổng
quát và cụ thể; định hướng chung và định hướng cụ thể phát triển xuất, nhập
khẩu và thương mại nội địa gắn với bối cảnh và kịch bản phát triển. Tựu
trung, những định hướng lớn là tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt
Nam có lợi thế so sánh; chú trọng nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của
hàng hoá; kiểm soát nhập khẩu, kìm chế nhập siêu và phấn đấu cân bằng
thương mại vào năm 2020; chuyển dịch cơ cấu thương mại hàng hoá và dịch
vụ theo hướng tăng tỷ trọng kim ngạch thương mại dịch vụ; gắn kết thị
trường trong nước va thị trường thế giới; phát triển thương mại bền vững và
giải quyết an sinh xã hội… Để thực hiện những định hướng trên, tác giả đã
kiến nghị các nhóm giải pháp chung; giải pháp phát triển xuất, nhập khẩu và
thương mại trong nước.
Đề tài cung cấp những tư liệu nghiên cứu về quy trình xây dựng, điều chỉnh và
thực thi chiến lược xuất nhập khẩu và thương mại trong nước gắn với những bối
cảnh cụ thể. Các tác giả chủ yếu nghiên cứu mô hình chiến lược phát triển cả
18
thương mại quốc tế gắn liền thương mại nội địa, chưa nghiên cứu sâu về các chính
Phân tích và đánh giá thực trạng lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu
của Việt Nam giai đoạn 2008-2012, chỉ rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn
chế và nguyên nhân.
Từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất
khẩu của Nhật Bản, Trung Quốc và Thái Lan và thực trạng lựa chọn sản phẩm, thị
trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2008-2012, các tác giả đã tìm ra các bài học
có thể vận dụng cho Việt Nam trong việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu
giai đoạn 2013-2020.
Đề tài đã cung cấp những nghiên cứu về cơ sở lý luận và bài học kinh
nghiệm của các nước trong khu vực Đông Á trong việc lựa chọn sản phẩm và
thị trường trong thời kỳ khủng hoảng. Tuy nhiên, các hàng hoá nghiên cứu
trong đề tài khá rộng từ các sản phẩm công nghiệp đến các sản phẩm dịch vụ,
nông nghiệp. Hơn nữa, trong bối cảnh mới hiện nay nền kinh tế thế giới đã và
đang từng bước phục hồi cùng với các hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng hơn cần các nghiên cứu về thị trường xuất khẩu cập nhật hơn, phù hợp
hơn với thực tiễn.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Nghiên cứu, điều tra và
dự báo thị trường xuất khẩu cho một số chủng loại nông, lâm, thuỷ sản” , mã
số.06.13. NN do TS. Trần Công Sách (Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ
Công thương) chủ nhiệm đã tập chung điều tra thực trạng và dự báo thị
trường các nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản để xây dựng chiến lược và cung
cấp thông tin cho các doanh nghiệp mà không đi sâu nghiên cứu các giải
pháp vĩ mô nhằm phát triển thị trường cho các mặt hàng nông sản xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam.
- Trong đề án “Phát triển thị trường xuất khẩu giai đoạn 2007-2015” do
Bộ Công thương thực hiện có phân tích, đánh giá những yêu cầu của tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế đối với việc phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá
20
21
đi tắt, đón đầu không nhất thiết phải leo theo các nấc thang gia tăng của chuỗi;
Phát triển công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ; Nâng cao khả
năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. Để tăng cường
năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của hàng nông sản, các tác giả đã
đề xuất nhóm giải pháp chung đối với toàn ngành hàng và các giải pháp đối với
các mặt hàng cụ thể.
Với nội dung tương tự, đề tài “Phát triển chuỗi cung ứng hàng nông sản
xuất khẩu chủ lực” (2015) do TS. Nguyễn Văn Long chủ biên cũng nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực trạng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của một số hàng
nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Từ đó đưa ra những phương hướng,
chính sách và giải pháp nhằm tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản
Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhìn chung, cả hai công trình nghiên cứu kể trên đều đề cập chính sách
tiêu thụ sản phẩm và phát triển thị trường nông sản với vai trò là yếu tố cấu
thành năng lực tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn
cầu. Tuy nhiên, nội dung chính của đề tài nhấn mạnh những lý luận về chuỗi
giá trị toàn cầu và năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi này chứ
không phải các thị trường xuất khẩu.
- Theo quan điểm phát triển bền vững, đề tài khoa học và công nghệ cấp
bộ “Xuất khẩu bền vững hàng nông sản của Việt Nam trong bối cảnh gia nhập
tổ chức thương mại thế giới” mã số B2009.06.132 (2011) do TS. Ngô Thị
Tuyết Mai chủ nhiệm đã nghiên cứu những nội dung chính sau:
Đề tài đã nghiên cứu những lý luận chung về phát triển bền vững và xuất
khẩu bền vững, cốt lõi của các mô hình phát triển bền vững là sự kết hợp hài
hoà ba nhân tố chính là kinh tế, xã hội và môi trường. Trên cơ sở đó, tác giả
đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ xuất khẩu bền vững bao gồm các đánh giá
mức độ bền vững về mặt kinh tế (các chỉ số đo lường: Tốc độ tăng trưởng xuất
23
phát triển kinh tế.
-
Đề tài” Các giải pháp kinh tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản
của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” (2011) của Bộ Công
thương đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về xuất khẩu
hàng nông sản, làm rõ sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Trên cơ sở lý luận, đề tài đã phân tích và đánh giá một số cơ chế, chính
sách phát triển xuất khẩu hàng nông sản, những tác động của cơ chế này đến
sản xuất, xuất khẩu nông sản thời gian qua; tập trung đánh giá thực trạng về
xuất khẩu một số mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, cao su và hạt điều, chỉ rõ
những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế về cả cơ chế, chính sách cũng
như triển khai thực hiện.
Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, các tác giả đã đề xuất các quan điểm và
kiến nghị các giải pháp nhằm tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của
Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.
-
Cuốn sách “Chính sách xuất khẩu nông sản của Việt Nam- Thực trạng
và giải pháp” do Trịnh Thị Ái Hoa biên soạn đã phân tích quá trình đổi mới và
thực trạng tác động của chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam trong quá
trình đổi mới; đề xuất giải pháp hoàn thiện các công cụ chính sách xuất khẩu
nông sản nhằm đạt được những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của hệ thống
tranh của hàng nông sản xuất khẩu, trong đó chú trọng giải pháp nâng cao
chất lượng hàng nông sản xuất khẩu.
Nghiên cứu về xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang các
thị trường riêng biệt
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu thị trường nông sản của Trung
Quốc và khả năng xuất khẩu một số sản phẩm nông sản của Việt Nam ”,
mã số 26.11.RD/HD-KHCN (2011) do Hoàng Thị Vân Anh viện Nghiên
cứu Thương mại, Bộ Công thương làm chủ biên. Nội dung chính của đề
tài:
Tổng quan về thị trường hàng nông sản Trung Quốc, các tác giả đã
tập trung phân tích các xu hướng gần đây về sản xuất, tiêu thụ và thương
mại hàng nông sản, các kênh phân phối hàng nông sản nhập khẩu chủ yếu
của Trung Quốc. Khái quát các biện pháp chủ yếu ảnh hưởng đến thị
trường hàng nông sản Trung Quốc, đặc biệt là các biện pháp kiểm soát
hàng nông sản nhập khẩu như an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như một số
rào cản kỹ thuật của Trung Quốc đối với nhập khẩu nông sản.
25
Đề tài nghiên cứu thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
sang thị trường Trung Quốc, trong đó tập trung vào phân tích năng lực
cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam với các sản phẩm sản xuất nội địa
và các đối thủ xuất khẩu khác trên thị trường Trung Quốc. Những đánh
giá về khả năng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam chủ yếu dựa trên
việc phân tích các yếu tố tác động đến cầu nhập khẩu hàng nông sản của
Trung Quốc.
Trên cơ sở lý luận và tình hình thực tiễn, các tác giả đã đề xuất nhóm
giải pháp chung và giải pháp đối với từng mặt hàng nông sản cụ thể nhằm
tăng cường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc đạt