\
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG
QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA THEO TPPTHUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN VỚI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LUẬT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2012-L
HÀ NỘI, 2016
1
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG
QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA THEO TPPTHUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN VỚI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNHLUẬT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2012-L
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
ASEAN(Association of Southeast Asian Nations): Hiệp hội các Quốc gia
Đông Nam A
C/O (certificate of origin): Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
FTA (Free Trade Agreement): Hiệp định thương mại tự do
NĐ: Nghị định
RVC (regional value content): Hàm lượng giá trị khu vực
TPP (Trans – Pacific Partnership): Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
WTO (World Trade Organization): Tổ chức Thương mại Quốc tế
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hiệp định Hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TransPacific Strategic Economic Partnership Agreement – TPP) là một trong những
chủ đề kinh tế đang được cácdoanh nghiệp Việt Nam rất quan tâm.Đây là đàm
phán thương mại tự do quan trọng nhất của Việt Nam trong thời điểm hiện tại,
với phạm vi đàm phán rộng, mức độ cam kết sâu và dự kiến sẽ có tác động rất
lớn đến triển vọng hoạt động kinh doanh của các ngành, các doanh nghiệp cũng
như đời sống xã hội nói chung.
Một câu hỏi đặt ra là liệu Hiệp định TPP sẽ mang lại những cơ hội và thách
thức gì trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có nhiều khó khăn và doanh nghiệp
Việt Nam còn gặp rất nhiều trở ngại trong việc đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao sức
cạnh tranh trên thị trường thế giới như hiện nay. Đặc biệt, TPP đặt ra một số vấn đề
khá mới, tác động sâu rộng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói
chung và hoạt động thương mại quốc tế của các doanh nghiệp nói riêng. Một trong
các vấn đề đáng quan tâm là quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa.
Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong TPP được hiểu là: Để được miễn giảm
được quy định trong hiệp định TPP, từ đó đưa ra giải pháp cho Việt Nam để tận
dụng các thuận lợi, hạn chế khó khăn, phát triển thương mại Quốc tế.
Các mục tiêu cụ thể:
− Từ góc độ lý luận, phân tích quy tắc xuất xứ hàng hóa nói chung và quy tắc xuất
xứ hàng hóa cụ thể được quy định trong hiệp định TPP
− So sánh, đối chiếu với thực tiễn Việt Nam, từ đó đưa ra các thuận lợi và khó
khăn của Việt nam liên quan đến quy định này.
− Xác định Việt Nam cần phải làm gì để tận dụng lợi thế cũng như hạn chế khó
khăn, phát triển thương mại quốc tế.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Quy tắc xuất xứ hàng hóa nói chung và quy tắc xuất xứ hàng hóa được quy định
trong hiệp định TPP.
- Thực trạng áp dụng pháp luật về quy tắc xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam hiện
nay.
4. Phương pháp nghiên cứu.
− Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
− Phương pháp so sánh: so sánh với quy tắc xuất xứ hàng hóa trong các hiệp định
thương mại tự do khác, so sánh thực tiễn Việt Nam và các quốc gia khác...
7
− Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích điều luật, phân tích các nghiên cứu
sẵn có từ đó tổng hợp thành kết luận chung.
quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau sẽ được đối xứ khác nhau trong xuất nhập
khẩu, mà phổ biến nhất là ưu đãi về thuế quan.
Theo Điều 3(b) Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO, “một nước được
xác định là nước xuất xứ của một hàng hóa cụ thể nếu như hàng hóa được hoàn
toàn sản xuất ra ở nước đó hoặc khi nhiều nước cùng tham gia vào quá trình
9
sản xuất ra hàng hóa đó, thì nước Xuất xứ hàng hóa là nước thực hiện
công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng.”
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm về xuất xứ hàng hóa cũng được quy
định có sự tương đồng: “Xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất
ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối
với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá
trình sản xuất ra hàng hóa đó” [khoản 14, điều 3, Luật Thương mại 2005].
Từ khái niệm trên, có thể thấy, hàng hóa có xuất xứ được phân loại thành:
hàng hóa có xuất xứ thuần túy và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy. Hàng
hóa được coi là có xuất xứ thuần túy khi nó hoàn toàn được sản xuất ra tại một
quốc gia. Hầu hết các hàng hóa có xuất xứ thuần túy, theo quy định trên thế giới
đều giống nhau, và chủ yếu liên quan tới các mặt hàng nông lâm thủy hải sản và
khoáng sản. Ngược lại, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy là các loại hàng hóa
có thành phần nhập khẩu. Trường hợp này xảy ra khi có nhiều hơn một quốc gia
tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa [6]
Xuất xứ hàng hóa được thể hiện qua giấy chứng nhận xuất xứ (C/O certificate of origin). C/O được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền của nước xuất
khẩu cho hàng hóa xuất khẩu được sản xuất tại nước đó. C/O phải tuân thủ theo
quy định của cả nước, vùng lãnh thổ xuất khẩu và nhập khẩu, chính vì vậy có
nhiều loại CO (miễn thuế, ưu đãi thuế quan, có hạn ngạch,…). Mục đích của
C/O là chứng minh hàng hóa có xuất xứ rõ ràng, hợp pháp về thuế quan và các
quy định khác của pháp luật về xuất nhập khẩu.
gia hay vùng lãnh thổ đó tham gia và lựa chọn áp dụng.
Như vậy, quy tắc xuất xứ hàng hóa được hiểu chung là “các quy định
được pháp luật quốc gia hoặc các điều ước quốc tế xây dựng, được một quốc
gia áp dụng để xác định xuất xứ của hàng hóa.”[2]
Mục đích chính của quy tắc này là xác định hàng hóa có được hưởng ưu đãi
hay không? Chế độ ưu đãi chỉ được dành cho những sản phẩm có được do thu
hoạch, sản xuất, gia công, chế biến ở những nước xuất khẩu được hưởng. Đồng thời,
quy tắc này cũng xác định tỉ lệ ưu đãi mà các hàng hóa này được hưởng.
Quy tắc xuất xứ hàng hóa là tập hợp các quy định nhằm xác định quốc gia
nào được coi là đã sản xuất ra hàng hóa (nước xuất xứ của hàng hóa). Trong
nhiều trường hợp, các nước nhập khẩu cần biết xuất xứ hàng hóa nhập khẩu để
xác định quy chế đặc biệt áp dụng cho hàng hóa đó (ví dụ ưu đãi thuế quan, thuế
chống bán phá giá, hạn ngạch…)
Quy tắc xuất xứ nhằm xác định sự hợp lệ của hàng nhập khẩu để được hưởng
mức thuế ưu đãi. Nếu không có quy tắc xuất xứ, hiện tượng thương mại chệch hướng
(trade deflection) sẽ rất khó ngăn chặn được khi hàng hóa nhập khẩu từ các nước
11
không tham gia FTA sẽ vào khu vực FTA thông qua nước thành viên áp dụng mức
thuế thấp nhất đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA.
Quy tắc xuất xứ không chỉ là một công cụ kỹ thuật để thực thi FTA mà
còn là một công cụ chính sách thương mại.
1.1.2.2. Phân loại
Quy tắc xuất xứ hàng hóa được phân loại thành: quy tắc xuất xứ ưu đãi và
quy tắc xuất xứ không ưu đãi.
“2."Quy tắc xuất xứ ưu đãi" là các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng
hóa có thoả thuận ưu đãi về thuế quan và ưu đãi về phi thuế quan.
Như vậy, quy tắc xuất xứ ưu đãi được sử dụng để xác định xuất xứ hàng
hóa nhằm các mục đích áp dụng các ưu đãi đặc biệt về thuế quan và phi thuế
quan. Ngược lại, quy tắc xuất xứ không ưu đãi được sử dụng để xác định xuất xứ
hàng hóa nhằm các mục đích không ưu đãi như trừng phạt thương mại. Chính vì
thế, quy tắc xuất xứ không ưu đãi có tính chất phân biệt đối xử. Và các quy tắc
xuất xứ ưu đãi cũng đa dạng hơn rất nhiều so với quy tắc xuất xứ không ưu đãi.
1.1.2.3. Các quy tắc cơ bản xác định xuất xứ hàng hóa.
Các loại quy tắc xuất xứ đều dựa trên hai tiêu chí xác định nguồn gốc
hàng hóa: tiêu chí xuất xứ thuần túy và tiêu chí chuyển đổi cơ bản.
- Tiêu chí xuất xứ thuần túy: quy định hàng hóa sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ một
nước thành viên xuất khẩu duy nhất (xuất xứ nội địa hoàn toàn) được xác định
có xuất xứ.
- Tiêu chí chuyển đổi cơ bản: xác định hàng hóa xuất xứ trong trường hợp quá
trình chuyển đổi xảy ra tại một quốc gia hoặc khu vực. Việc xác định nguồn gốc
khá phức tạp vì các bộ phận, phụ tùng của sản phẩm sản xuất tại nhiều quốc gia
hoặc có nguyên vật liệu đầu vào không rõ xuất xứ. Tiêu chí này có sự quy định
khác nhau trong các điều ước Quốc tế và Pháp luật Quốc gia, tuy nhiên, có thể
khái quát qua sơ đồ sau:
Tiêu chí xác định xuất xứ hàng hóa
Xuất xứ thuần túy
Xuất xứ không thuần túy
Tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực Tiêu
chung mà tất cả các nước thành viên khi ban hành và thực thi các quy định pháp
luật hoặc hành chính liên quan đến việc xác định nước xuất xứ của hàng hóa đều
phải tuân thủ. Tuy nhiên, các nguyên tắc của Hiệp định không áp dụng cho các
trường hợp quy tắc xuất xứ theo các thỏa thuận ưu đãi. Hiệp định quy định 2 hệ
thống các nguyên tắc liên quan đến xuất xứ bắt buộc áp dụng (trừ trường hợp
quy tắc xuất xứ theo các thỏa thuận ưu đãi), để áp dụng trong hai giai đoạn:
- Thời kỳ quá độ (áp dụng trong quá trình Ủy ban kỹ thuật của Hiệp định hoàn
thành việc hài hòa hóa các quy tắc xuất xứ)
- Giai đoạn sau quá độ (khi đã đạt được các quy tắc xuất xứ thống nhất/hài hòa).
1.2.1. Thời gian quá độ.
Trong giai đoạn này, trước khi có các quy định về hài hòa hóa quy tắc
xuất xứ, các nước thành viên WTO khi ban hành và thực thi các quy định về xuất
xứ phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu nêu tại Điều 2 Hiệp định.
14
“Cho đến khi hoàn thành chương trình hài hoà qui tắc xuất xứ qui định
trong Phần IV, các Thành viên phải đảm bảo rằng:
(a) Khi ban hành quyết định hành chính để áp dụng chung cần phải định
nghĩa rõ ràng các yêu cầu. Cụ thể là:
(i) trường hợp các tiêu chí chuyển đổi hạng mục trên biểu thuế quan được
áp dụng, một quy tắc như vậy hoặc bất kỳ ngoại lệ nào khác của quy tắc đó sẽ
quy định rành mạch dòng thuế hoặc nhóm các dòng thuế (tương đương 4 số HS
–ND) trên biểu thuế chịu sự điều chỉnh của qui tắc đó.
(ii) trong trường hợp áp dụng tiêu chí theo tỷ lệ phần trăm theo giá trị,
cần phải qui định phương pháp tính phần trăm này trong qui tắc xuất xứ.
(iii) trong trường hợp tiêu chí về công đoạn chế tác hay gia công được
sớm nhất có thể nhưng không chậm hơn 150 ngày 2, kể từ ngày có yêu cầu đánh giá
với điều kiện đã nộp đầy đủ các yếu tố cần thiết. Yêu cầu đánh giá xuất xứ hàng
hóa phải được chấp nhận trước khi hoạt động thương mại đối với hàng hóa đó bắt
đầu và có thể được chấp nhận bất kỳ lúc nào sau đó. Kết quả đánh giá xuất xứ
hàng hóa có giá trị trong vòng 3 năm nếu như các yếu tố và điều kiện liên quan đến
hàng hóa kể cả qui tắc xuất xứ dẫn đến kết quả đó vẫn tương đồng. Trong quá trình
rà soát qui tắc xuất xứ theo qui định tại điểm (j) nếu có một quyết định mới trái với
kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa thì kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa đó sẽ
không còn giá trị nhưng các bên liên quan phải được thông báo trước. Kết quả
đánh giá phải được công khai theo qui định tại điểm (k);
(i) khi có thay đổi trong qui tắc xuất xứ hoặc ban hành các qui tắc xuất xứ
mới, các Thành viên không được áp dụng hồi tố những thay đổi này dù các luật,
quy định dưới luật có thể quy định và không vì thế làm tổn hại đến chúng;
(j) bất kỳ một hành động hành chính nào liên quan đến xác định xuất xứ
có thể được Toà án, trọng tài hoặc toà án hành chính, độc lập với cơ quan đã ra
quyết định và có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính đó xem xét lại
một cách nhanh chóng;
(k) tất cả các thông tin bí mật, hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật
nhằm thực thi các quy tắc xuất xứ phải được các cơ quan có liên quan bảo đảm
tuyệt mật, không tiết lộ thông tin những thông tin đó nếu như không được sự cho
phép cụ thể của người hoặc chính phủ cung cấp thông tin, trừ trường hợp phải
tiết lộ thông tin ở mức độ nhất định theo yêu cầu của thủ tục tư pháp.” [Điều 2,
Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hóa của WTO].
2
16
Cụ thể, các quy tắc xuất xứ của các nước thành viên WTO phải đảm bảo
các yêu cầu:
Sau thời gian quá độ, khi các quy tắc xuất xứ đã thống nhất, hài hòa với
nhau, các quy định về quy tắc xuất xứ được thực thi một cách đồng nhất với các
nước thành viên WTO và tuân theo chuẩn mực chung, nhằm tạo một hệ thống
thống nhất, dễ dự đoán và dễ áp dụng, dựa trên các nguyên tắc:
17
- Nguyên tắc cơ bản: Nước xuất xứ phải là nước nơi tiến hành sự thay đổi cơ bản
cuối cùng đối với sản phẩm;
- Thay đổi cơ bản về sản phẩm được xác định theo sự thay đổi mã số hải quan HS
là chủ yếu;
- Trường hợp thay đổi mã số hàng hóa không phản ánh sự thay đổi cơ bản về sản
phẩm thì áp dụng các tiêu chí bổ sung, chủ yếu là “tỷ lệ phần trăm trị giá và/hoặc
công đoạn chế biến/gia công”.
Tuy nhiên, hài hòa hóa quy tắc xuất xứ trên phạm vi rộng là điều không
hề đơn giản. Thực tế, theo hiệp định ban đầu, việc hài hòa hóa quy tắc xuất xứ
này đã được hoàn thành vào năm 1998 và cho đến nay, trải qua một lần gia hạn
vào năm 2006, giai đoạn quá độ vẫn đang trong quá trình triển khai.
18
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA
THEO TPP VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA.
2.1.
• Phụ lục 3-B: Yêu cầu thông tin tối thiểu
• Phụ lục 3-C: Loại trừ áp dụng De Minimis
• Phụ lục 3-D: Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng: Phụ lục liệt kê quy tắc xuất xứ cụ
thể toàn bộ các mặt hàng của 97 Chương theo Hệ thống mã số HS ở cấp 6 số, với
khoảng hơn 5000 mặt hàng.
• Phụ lục 1 đi kèm Phụ lục 3-D (PSR) quy định quy tắc dành riêng cho ô tô và các
phụ tùng của ô tô.
Theo nội dung hiệp định, Hàng hóa được xem là có xuất xứ nếu:
“Thu được hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một hoặc nhiều
bên như Quy định tại điều 3.3 (Hàng hóa có xuất xứ thuần túy);
Được sản xuất hoàn toàn trong lãnh thổ của một hay nhiều bên và hoàn
toàn từ các nguyên liệu có xuất xứ;
Được sản xuất hoàn toàn trong lãnh thổ của một hay nhiều bên sử dụng
nguyên liệu không có xuất xứ với điều kiện hàng hóa thoản mãn đầy đủ các yêu
cầu có hiệu lực tại phụ lục 3-D (Quy tắc xuất xứ cụ thể theo mặt hàng) và đáp
ứng đầy đủ những yêu cầu khác trong chương này” [Điều 3.2, Chương 3 Hiệp
định TPP]
TPP cũng chia hàng hóa có xuất xứ thành 2 loại: hàng hóa có xuất xứ
thuần túy và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy.
2.1.1. Hàng hóa có xuất xứ thuần túy.
“Mỗi Bên quy định rằng trong phạm vi Điều 3.2 (Hàng hóa có xuất xứ),
một hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất hoàn toàn trong lãnh
thổ của một hoặc nhiều Bên nếu hàng hóa đó là:
(a) một loại thực vật hoặc hàng hóa thực vật được trồng, thu hoạch, hái
hoặc tập trung trong lãnh thổ đó;
(b) một động vật sống được sinh ra và nuôi lớn trong lãnh thổ đó;
(c) một loại hàng hóa thu được từ một động vật sống trong lãnh thổ đó;
hoặc được thu hoạch trong nước, hoặc được sản xuất chỉ từ các sản phẩm này.
Chúng hoàn toàn không sử dụng các bộ phận hay nguyên phụ liệu nhập khẩu, hoặc
không rõ xuất xứ. Một thành phần nhỏ nhất của hàng hóa được nhập khẩu, hay
không xác định được xuất xứ sẽ làm mất tính thuần túy của chúng.
2.1.2. Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy.
Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy là hàng hóa trong quá trình SX hoặc
gia công hay chế biến có thành phần nguyên vật liệu hoặc lao động của hai hay
nhiều nước tham gia vào hoạt động tạo ra sản phẩm này. Hàng hóa được công nhận
21
có xuất xứ từ một quốc gia, vùng lãnh thổ khi quốc gia, vùng lãnh thổ đó thực hiện
cộng đoạn chế biến cơ bản cuối cùng làm thay đổi cơ bản hàng hóa này.
Trường hợp hàng hóa không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một
hay nhiều Nước thành viên, nhưng đáp ứng các quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng
về việc tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ được dùng để sản xuất hàng
hóa đó đều đã được chuyển đổi dòng thuế phù hợp hoặc hàng hóa đó thỏa mãn
yêu cầu về hàm lượng giá trị khu vực hoặc kết hợp cả hai quy tắc trên, hoặc hàng
hóa đó đáp ứng các quy tắc khác được quy định trong hiệp định về quy tắc xuất
xứ. Các quy tắc này chủ yếu liên quan đến các mặt hàng cụ thể để xác định
chuyển đổi dòng thuế hoặc tính toán hàm lượng giá trị khu vực.
Để xác định một hàng hóa là có xuất xứ, TPP căn cứ vào các tiêu chí: hàm lượng
giá trị khu vực (RVC), chuyển đổi mã hàng hóa (CTC) và theo mặt hàng cụ thể.
2.1.2.1. Chuyển đổi dòng thuế (hay chuyển đổi mã số hàng hóa)
Quy tắc chuyển đổi dòng thuế hoặc chuyển đổi mã số được viết dựa theo
mã số của Hệ thống hài hòa phân loại thuế quan (HS - Harmonized System of
Tariff Classification).
Việt Nam hoặc các nước khác trong nội khối TPP;
Thay đổi phân nhóm (CTSH – Change to SubHeading) có nghĩa là tất cả
các nguyên vật liệu không có xuất xứ sử dụng trực tiếp trong việc sản xuất các
sản phẩm cuối cùng phải được phân loại theo phân nhóm khác nhau từ sản phẩm
cuối cùng. Nếu nguyên liệu phân loại vào cùng một phân nhóm được sử dụng,
phải được sản xuất tại Việt Nam hoặc các nước khác trong nội khối TPP;
Một ví dụ đơn giản về quy tắc chuyển đổi dòng thuế như sau:
Quy tắc xuất xứ: "Chuyển đổi mục 1905 từ bất kỳ một chương nào Change to heading 1905 from any other chapter."
Sản phẩm: Bánh mì, bánh ngọt, bánh nước, bánh bích quy (HS 1905.90),
nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ từ các Nước thành viên: Bột mỳ (phân
loại HS chương 11) được nhập khẩu từ Trung Quốc
Nghĩa là: Đối với tất cả hàng hóa được phân loại HS thuộc mục 1905, tất cả
các nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ từ các Nước thành viên phải được phân
loại trong chương HS khác so với chương HS19 để hàng hóa này được hưởng ưu
đãi thuế quan. Và trong trường hợp này thì bánh mì nướng sẽ được hưởng ưu đãi
thuế quan do nguyên liệu không có xuất xứ nằm ngoài Chương HS 19. Tuy nhiên,
nếu những hàng hóa này lại được sản xuất từ bộn trộn sẵn không có xuất xứ từ các
23
nước Thành viên thì các sản phẩm này sẽ không được hưởng mức thuế ưu đãi do
bộn trộn sẵn có mã chương HS 19, cùng chương với các sản phẩm nước.
Nói một cách khác, theo quy tắc này thì một sản phẩm sẽ được coi là có
xuất xứ từ một nước (sản xuất sản phẩm cuối cùng) nếu như sản phẩm đó chuyển
dòng thuế từ các dòng thuế của nguyên liệu (NK) để sản xuất ra nó và sự thay
đổi đó đáp ứng các yêu cầu nhất định về chuyển đổi dòng thuế (các nguyên liệu
đó phải thuộc hoặc không thuộc những dòng thuế nhất định). Đây là phương
pháp được áp dụng phổ biến nhất hiện nay. Phương pháp này có ưu điểm là việc
xác định đơn giản, dựa trên phân loại của HS đã có sẵn. Nhưng phương pháp này
1901.90 có chưa hơn 10% sữa ở thể rắn tính theo trọng lượng khô thì mới không
được công nhận mà thôi (theo qui định trên thì mặt hàng có mã HS 04.01 đến HS
04.04 nếu được công nhận là hàng "có xuất xứ"thì mặt hàng chuyển đổi thuộc
phân nhóm HS 1901.90 phải có xuất xứ (nghĩa là phải có xuất xứ nội khối).
Trong phụ lục 3 D nêu: Nếu hàng hóa được áp dụng quy tắc xuất xứ thay
thế thì hàng hóa sẽ có xuất xứ nếu đáp ứng một trong các quy tắc thay thế đó;
Ví dụ 2: Chương 40 - cao su và các sản phẩm bằng Cao su (phụ lục 3D
trang 55, 56)
Chuyển đổi cho hàng hóa của nhóm 40.01 từ bất kỳ Nhóm nào khác; hoặc
Không chuyển đổi mã số hàng hóa cho hàng hóa của Nhóm 40.01, với
điều kiện hàm lượng giá trị khu vực không thấp hơn 40% theo cách tính gián
tiếp.
Điều này có nghĩa là hàng hóa có mã HS 40.01 không có xuất xứ được
xem là “có xuất xứ” nếu được sản xuất từ nguyên vật liệu có mã HS nằm ngoài
nhóm 01 hay 40.01, như vậy Doanh Nghiệp có thể sử dụng mã HS 40.02; 40.03;
40.04…(chú ý ở đây là nằm ngoài nhóm chứ không phải nằm ngoài chương) đều
được xem là hàng hóa có xuất xứ.
Hoặc:
Nhóm 40.01 có hàm lượng giá trị khu vực thấp hơn 40% theo cách tính
gián tiếp thì mới được chuyển đổi, nói ngược lại hàm lượng giá trị khu vực
không thấp hơn 40% thì không được chuyển đổi.
Quy tắc chuyển đổi dòng thuế thường được các nước đang phát triển như
Việt Nam nghiên cứu và phân tích một cách sâu sắc hơn, bởi vì kỹ thuật chúng ta
hiện nay vẫn còn yếu (ví dụ như việc nhuộm vải trong Dệt may, tẩm hương liệu
trong phương pháp chế biến Trà…thường phải dựa vào các đối tác nước ngoài
chẳng hạn như Trung Quốc), mặc dầu các nước trong nội khối như Nhật Bản,
Hoa Kỳ thì kỹ thuật của họ cũng chẳng thua gì, có khi hơn hẳn nữa là khác
25