Tình huống không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn là đồng phạm - Pdf 36

Tình huống không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng
vẫn là đồng phạm
A, B và C bàn nhau trộm cắp tài sản của nhà ông H. Theo sự phân công của nhóm,
C mang theo một thanh sắt để cạy phá cửa. Chúng hẹn nhau 10 giờ đêm tập kết ở
địa điểm X. Đến giờ hẹn, C đem thanh sắt đến địa điểm X như đã thỏa thuận nhưng
chờ mãi không thấy A và B đến nên bỏ về nhà ngủ. A và B đến chỗ hẹn quá muộn
nên không gặp được C, nhưng vẫn quyết định đi lấy tài sản theo kế hoạch và đã lấy
được tài sản giá trị 80 triệu đồng. Do không đi lấy tài sản nên C chỉ được A và B
chia cho 5 triệu đồng, C chê ít không lấy và cũng không nói gì về vụ trộm với bất
cứ ai. Sau một tháng vụ việc bị phát hiện.
Hỏi:
1. A, B và C có phải là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên không? Tại
sao? (2 điểm)
2. Hành vi của C có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không? Tại
sao? (1 điểm)
3. Sau khi lấy được tài sản của nhà ông H, A và B đã mang số tài sản đó bán cho K
và K đã mua lại số tài sản này. Vậy, K có phải chịu TNHS về hành vi của mình
không? Tại sao? (2 điểm)
4. Giả sử A, B và C mới tròn 15 tuổi thì A, B và C có phải chịu TNHS về hành vi
của mình không? Tại sao? (2 điểm)
BÀI LÀM
1.A, B và C có phải là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên không? Tại
sao?


Trả lời : A,B và C là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản trên.
Giải thích :
Theo điều 20, BLHS : “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng thực
hiện một tội phạm.”
Về mặt khách quan, đồng phạm đòi hỏi có 2 dấu hiệu:
- Có từ 2 người trở lên:

Về ý chí: những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng
mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh.
Ở đây, A, B và C đều nhận thức được hành vi của họ gây nguy hiểm cho xã hội và
thấy trước được những hậu quả, tuy vậy 3 người trên đều mong muốn hậu quả xảy
ra và họ mong muốn lấy cắp được tài sản như đã định. C nhận thức được rằng hành
động chuẩn bị mang 1 thanh sắt để tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm trộm
cắp tài sản của ông H và mong muốn hậu quả xảy ra. Việc dừng lại ở giai đoạn
chuẩn bị phạm tội này do những nguyên nhân ngoài ý muốn của C: A, B đến điểm
hẹn quá muộn, C không thấy A, B nên đã bỏ về nhà ngủ nhưng bản thân C luôn
mong muốn sự chuẩn bị này sẽ được dùng vào việc thực hiện tội phạm. Ta cũng có
thể thấy rõ được động cơ và mục đích của A, B và C một cách rõ ràng nên có thể
khẳng định rằng: A, B và C là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên.
2. Hành vi của C có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không? Tại
sao? (1 điểm)


Trả lời: Hành vi của C không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm
tội.
Giải thích:
Điều 19 BLHS quy định “ Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình
không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội
định phạm; nếu hành vi thực tế thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác,
thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.”
Theo quy định này thì hafnh vi được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
phải thỏa mãn những dấu hiệu sau:
- Đầu tiên là về mặt thời điểm phạm tội, tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội
chỉ xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa
đạt chưa hoàn thành.
Trong tình huống này ta thấy C đã đem thanh sắt đến địa điểm X để chuẩn bị cậy

mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý
hoặc vô ý. Mà lỗi là dấu hiệu không thể thiếu trong bất cứ CTTP nào. Điều 27
BLHS quy định “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo
dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy
tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới...”. Như vậy, một
người không có lỗi thì không cần thiết phải giáo dục để nhận ra lỗi lầm vì sự thực là
họ không có lỗi để nhận ra. Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà
không có lỗi thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của
mình.


Thứ hai, nếu ta liên hệ mở rộng thì K rơi vào tình huống được quy định trong điều
189 BLDS “...Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình
là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là
không có căn cứ pháp luật.”. Nhưng bên cạnh đó cũng có thể có thêm một trường
hợp xảy ra đó là tài sản mà A và B bán cho ông K là động sản phải đăng kí quyền sở
hữu. Vậy thì dù có thỏa thuận, hứa hẹn trước hay không thì ông K cũng buộc phải
biết được tài sản này là do A và B đi ăn trộm mà có được. Tuy nhiên, trong đề bài
chỉ nêu chung chung là tài sản chứ không nêu rõ là loại nào nên nhóm em coi rằng
tài sản ông K mua của A và B là động sản không phải đăng ký sở hữu theo BLDS.
Trường hợp 2: Ông K mua lại số tài sản của A, B mà biết số tài sản mua được là từ
hành vi trộm cắp mà có thì phải chịu TNHS do:
Hành vi của K thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Điều 250-BLHS quy định :
“1.Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do
người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba
năm.”
Đó là các dấu hiệu về khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt
chủ quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm. Cụ thể:

của mình không? Tại sao? (2 điểm)
Trả lời: Nếu theo đề bài cho là A,B và C mới tròn 15 tuổi thì A,B và C sẽ không
phải chịu TNHS về hành vi của mình.


Chứng minh:
TNHS là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi về
hành vi phạm tội của mình.
Theo đề bài cho thì A và B đã lấy được tài sản trị giá 80 triệu đồng.Trường hợp này
đã phạm tội trộm cắp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến
bảy năm:
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu
đồng.”
Vì A và B đã “ lấy được tài sản có giá trị 80 triệu đồng” nên sẽ phạm tội thuộc điểm
e khoản 2 Điều 138 BLHS. Mức phạt tù cao nhất đối với khoản này là “đến bảy
năm tù” nên trường hợp này thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng.
Theo Khoản 3 Điều 8 BLHS quy định: “tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây
nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy
là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội
mà mức cao nhất là của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm
rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của
khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung
hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”
Điều luật căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà tội
phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm
rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status