A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố, các yếu tố này có mối
quan hệ qua lại phức tạp, nhưng bao giờ yếu tố con người cũng nổi lên là
yếu tố hàng đầu, quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định thành công hay
thất bại. Nói chính xác hơn, sự phát triển xã hội trước hết và trên hết phụ
thuộc rất lớn vào đội ngũ những người có năng lực, những người tài năng,
được hiểu là có “cả hồng và chuyên” - những người hiền tài. Hiện nay xã
hội ta đã có nhiều chính sách đào tạo và đãi ngộ đối với những người tài.
Nhưng vấn đề đặt ra là làm như thế nào để những chính sách đãi ngộ đó
mang lại hiểu quả lớn lớn nhất đối với nhân tài lại là một vấn đề còn khá
nan giải.
Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ta, trải qua bao nhiêu thăng
trầm, trước mọi cuộc xâm lăng với những tên đế quốc sừng sỏ nhất vẫn
trường tồn và phát triển cho đến ngày nay là do nhiều yếu tố. Trong đó
không thể không đề cập đến chính sách sử dụng và trọng dụng nhân tài của
người xưa. Ngày nay trong xu thế hội nhập và phân công lao động ngày
càng sâu sắc và toàn diện giữa nước ta với phần còn lại của thế giới, trong
môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, thì việc đãi ngộ nhân tài không
hề giảm đi ý nghĩa của nó mà ngược lại, nó mang tầm vóc mới là yếu tố
quan trọng trong cạnh tranh, đưa nước ta đuổi kịp các nước có nền kinh tế
phát triển.
Để sớm đưa nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu, như
mong muốn của các bậc tiền bối. Việc đãi ngộ nhân tài ngày nay trở thành
một yêu cầu bức xúc, toàn diện, cách mạng và triệt để. Chính vì thế việc
đãi ngộ người tài là hệ trọng với quốc gia. Đất nước không có người giỏi,
người tài thì đất nước không thể đi lên được.
1
2
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3
chương và 6 tiết.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÃI NGỘ NHÂN TÀI
1.1 Một số khái niệm
Đãi ngộ hiểu một cách hiểu đơn giản là cho hưởng các quyền lợi
theo chế độ, tương xứng với sự đóng góp.
Đãi ngộ con người là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần của nhà lãnh đạo, quản lí với cấp dưới của mình, nhằm động viên,
khích lệ họ hoàn thành nhiệm vụ được giao qua đó góp phần hình thành
mục tiêu của cơ quan.
Nhân tài có rất nhiều cách hiểu khác nhau, theo cách hiểu thông
thường thì:
Nhân tài là người có khả năng đặc biệt, năng lực xuất sắc, sáng tạo,
có thể đảm đương việc khó. Tài là của riêng từng người cụ thể trong những
ngành nghề khác nhau. Tùy từng đối tượng và ngữ cảnh mà người ta vận
dụng khái niệm để diễn đạt.
Nhân tài là những người có tài, có khả năng thực hiện tốt một vấn
đề, một công việc nào đó trong một lĩnh vực, ngành, nghề nhất định và
được xã hội công nhận thông qua đóng góp thực tế của họ.
Đãi ngộ nhân tài là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần
của người tài nhằm động viên, khích lệ họ hoàn thành tốt nhiệm vụ và khai
thác tối đa năng lực của họ để phát triển tổ chức.
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhân tài
3
chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình.
4
Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.105.
Vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy
hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi.
Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.238.
Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa… Bệnh này rất
tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân
tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình.
Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.257.
Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa
cách lãnh đạo.
Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.241.
1.3 Tầm quan trọng của việc đãi ngộ nhân tài
Có thể nói đãi ngộ nhân tài có vai trò rất quan trọng trong quá trình
lãnh đạo quản lí cũng như ảnh hưởng to lớn đối với việc xây dựng và phát
triển đất nước.
Đối với hoạt động của tổ chức, cơ quan: Đãi ngộ nhân tài giúp nâng
cao hiệu quả trong công việc, duy trì nguồn nhân lực ổn định, góp phần tiết
kiệm chi phí, tạo lập môi trường văn hóa trong các tổ chức, cơ quan.
Đối với việc thỏa mãn nhu cầu của nhân tài: Kích thích nhân tài làm
việc. tạo điều kiện để họ không ngừng nâng cao đời sống vật chất, giúp họ
hòa đòng với đời sống xã hội đang ngày càng văn minh, hiện đại. Mang lại
niềm tin cho họ với cơ quan, công việc và những con người xung quanh.
Đó chính là "sức mạnh tinh thần" để họ làm việc tốt hơn.
Đối với việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực cho xã hội: Đãi
ngộ nhân tài góp phần quan trọng vào việc duy trì và phát triển nguồn nhân
5
có tác dụng tạo ra sự công bằng về đãi ngộ thực tế.
6
+trợ cấp: Trợ cấp là khoản tiền chi cho nhân tài nhằm giúp họ khắc phục
những khó khăn phát sinh trong điều kiện cụ thể. Trợ cấp có nhiều loại
khác nhau: bảo hiểm, trợ cấp đi lại, trợ cấp y tế, trợ cấp giáo dục,trợ cấp khi
gặp khó khăn về kinh tế....
+phúc lợi: Cung cấp cho nhân tài để họ có điều kiện nâng cao chất lượng
cuộc sống và sinh hoạt của gia đình. Phúc lợi có hai phần chính là phúc lợi
theo quy định của pháp luật và phúc lợi dành riêng cho nhân tài do các tổ
chức cơ quan lấy từ những khoản thu nhập ngoài ngân sách. Phúc lợi có tác
dụng hậu thuẫn, phát huy hiệu quả, kích thích tiềm năng lao động của con
người.
-đãi ngộ phi tài chính:
Thực chất đây là quá trình chăm lo cuộc sống tinh thần của nhân tài
thông qua các công cụ không phải là tiền bạc.
Nhu cầu đời sống tinh thần của họ rất đa dạng và ngày càng đòi hỏi
được nâng cao như niềm vui trong công việc, được đối xử công bằng. đãi
ngộ phi tài chính được biểu hiện như: đáp ứng nhu cầu về nhà ở, về cơ hội
học tập, đãi ngộ thông qua việc bố trí về công việc thuận lợi, đáp ứng
những nhu cầu cơ bản cho nhân tài một cách tối ưu, là phong tặng cấp bậc,
chức vụ.
7
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ NHÂN
TÀI Ở VIỆT NAM
chất thì người tài cũng muốn thỏa man nhu cầu tinh thần. Muốn có một môi
trường làm việc thật thoải mái. Các tổ chức, cơ quan đã tạo ra môi trường
làm việc tốt, điều kiện vật chất đảm bảo, nâng cao niềm vui trong công việc
cho nhân tài, tạo không khí vui vẻ cho nhân tài. Đã đối xử, đánh giá nhân
tài một các công bằng. Các nhu cầu như nhà ở, cơ hội học tập của nhân tài
đã được đáp ứng. Họ được các tổ chức, cơ quan cử đi đào tạo nâng cao
nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng nhu cầu công việc. Nhân tài được tổ chức,
cơ quan sắp xếp công việc, vị trí đúng với năng lực của mình giúp họ phát
huy được mọi khả năng. Mỗi năm tổ chức, cơ quan nhà nước lại có chế đọ
tăng lương, cấp bậc và chức vụ. Từ đó giúp họ thăng tiến nhanh
Không chỉ có các cơ quan hành chính nhà nước mới đưa ra những
chính sách đãi ngộ đối với nhân tài mà ngay cả các công ty doanh nghiệp
cũng đang từng bước đưa ra những chính sách đãi ngộ phù hợp hơn với
nhân tài để nhân tài có thể phát huy được mọi khả năng của bản thân và
hoàn thành tốt công việc được giao. Ví dụ như:
Những chính sách đãi ngộ nhân tài của Công ty Phát triển KCN Biên
Hoà cũng khá phù hợp gồm
Ngoài lương tháng 13, được thưởng từ 2 - 4 tháng lương tùy theo kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm của Công ty và căn cứ theo kết
quả thực hiện công việc của từng cá nhân
Được xem xét cử đi đào tạo, huấn luyện nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ,
ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu công việc và định hướng phát triển của
Công ty.
Có xe đưa rước đối với Cán bộ Công nhân viên ở Thành phố Hồ Chí Minh
Được thanh toán tiền tàu xe khi nghỉ phép để đi du lịch hàng năm
Được trang bị đồng phục hàng năm
Công ty chi trả các khoản bảo hiểm theo quy định của Luật lao động, Công
ty mua bảo hiểm tai nạn 24/24 cho bản thân Cán bộ Công nhân viên
9
là tiếng chuông báo động đối với việc sử dụng cán bộ nói chung và nhân tài
nói riêng. Nhiều người tài không được trọng dụng, 80% thủ khoa tốt nghiệp
các trường ĐH tại Hà Nội tự kiếm việc làm sau khi được tuyên dương.
Tệ chạy chức chạy quyền, nạn tham nhũng cố vị còn xảy ra nhiều.
Chế độ lương bổng bất hợp lí
11
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ NHÂN TÀI Ở
NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Một là, xây dựng, thực hiện chiến lược nhân tài, khai thác triệt để
lao động trí tuệ
Để thực hiện được chiến lược nhân tài, trước hết cần xây dựng một
cách tổng thể khung chiến lược phát triển nhân tài một cách hợp lý. Bởi lẽ, chỉ
có như vậy, nhân tài - nguồn nhân lực chất lượng cao mới có thể phát huy
được hết vai trò, tiềm năng của mình cống hiến cho sự phát triển của xã hội.
“Chiến lược nhân tài” cần được xây dựng đồng bộ từ khâu phát hiện, tuyển
chọn đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt, thoả đáng với năng
lực và những cống hiến của họ thông qua cơ chế tiền lương, thưởng.
Không hạn chế mức thu nhập của các nhà khoa học, chuyên gia, các nhà
quản lý… nếu đó là những thu nhập chính đáng từ tài năng lao động và
sáng tạo của họ; đồng thời, xây dựng cơ chế ràng buộc về mặt pháp lý như:
bắt bồi thường hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu bản thân họ có dấu
hiệu tiêu cực, tham nhũng, lợi dụng chức quyền … Có như vậy, mới tạo
được động lực thúc đẩy đội ngũ những người tài, nhân lực chất lượng cao,
không ngừng lao động sáng tạo, cống hiến.
các công ty, doanh nghiệp nước ngoài lại sẵn sàng chào đón họ với mức
lương ưu đãi. Phải chăng tác động của cơ chế thị trường đã len lỏi vào tận
ngóc ngách của công tác quản lý, sử dụng nhân lực. Hay đó là sự tồn tại
của “chủ nghĩa thân hữu” một nét văn hóa điển hình rất Á Đông vẫn đang
tồn tại đâu đó và là vật cản khó lay chuyển? Bên cạnh đó, còn một thực tế
đáng buồn khác đang tồn tại trong không ít cơ quan Nhà nước về quy chế
đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn rất bất cập. Trong nhiều trường hợp cụ thể thì
tài năng, năng lực không được coi là tiêu chí hàng đầu. Điều đó dẫn đến
tình trạng lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực tài năng. Vậy nên, chúng
ta chưa khai thác được hết những tiềm năng, thế mạnh của nguồn lực này
phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
13
Vì vậy, chúng ta cần nhanh chóng xóa bỏ ngay các cơ chế, chính sách
tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động cả trong lĩnh vực quản lý hành chính
nhà nước, hoạch định chính sách, trí thức khoa học và công nghệ…đang là
rào cản đối với huy động nhân tài trong cống hiến và sáng tạo
Cải tiến công tác tuyển dụng: xây dựng và thực hiện những phương
pháp tuyển dụng hợp lý, khách quan, chính xác để tuyển dụng được đội
ngũ người lao động thực sự có trình độ, năng lực và nghề nghiệp phù hợp
với yêu cầu tuyển dụng vị trí công tác ngay từ đầu.
Bố trí, phân công hợp lý nhân lực chất lượng cao dựa trên cơ sở năng
lực và phân tích công việc, xây dựng định mức các chức danh. Sử dụng các
phương pháp khoa học để xây dựng hệ thống định mức lao động, các tài
liệu mô tả công việc để xây dựng từng chức danh một cách chính xác, kịp
thời, khách quan làm căn cứ cho việc bố trí công việc và đánh giá kết quả
làm việc của người lao động được coi là nhân lực chất lượng cao. Tổ chức
xây dựng, hoàn chỉnh và trình duyệt hệ thống tiêu chuẩn chuyên môn
nghiệp vụ để làm cơ sở xác định nhu cầu sử dụng lao động chất lượng cao.
tiền bạc rất lớn của đất nước.
Tình trạng năng suất lao động của nước ta thấp còn có nguyên nhân do
đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ của chúng còn nhiều hạn chế, mặc dù
hằng năm số lượng tiến sĩ, thạc sĩ, chuyên viên cấp cao...được bổ sung
không nhỏ. Không phải các nhà khoa học - trí thức Việt Nam không có
năng lực. Phải chăng do ảnh hưởng tâm lý của nền kinh tế tiểu nông và văn
hóa Nho giáo mà rất nhiều trí thức Việt Nam chỉ có động cơ học để làm
quan. Vậy nên đã có một lượng không nhỏ các nhà khoa học khi có học
hàm, học vị đã chuyển sang làm làm công tác quản lý. Tri thức chuyên sâu,
chuyên ngành nhanh chóng bị xếp lại. Đồng thời, chúng ta còn phải kể tới
sự yếu kém về trình độ của đội ngũ công nhân kỹ thuật. Chúng ta luôn
thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, công nhân trình độ cao…
Những hạn chế đã nêu là nguyên nhân dẫn đến những kết quả không mong
muốn, dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng. Vì vậy, để thúc đẩy nhanh tiến
trình CNH, HĐH với mục tiêu đưa Việt Nam đến năm 2020 cơ bản trở
15
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì chiến lược đào tạo, sử
dụng hợp lý nguồn nhân lực chất lượng cao phải mang tính toàn diện và
cần tập trung chủ yếu vào ba đối tượng sau đây:
1 - Đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đảng, quản lý nhà nước, quản lý hành
chính gồm những người có tố chất và chỉ số thông minh, có tầm nhìn xa,
trông rộng, có năng lực quản lý lãnh đạo, vạch ra đường lối, chủ trương,
chính sách, có khả năng quyết định đúng đắn kịp thời, nắm được thời cơ
vận hội, dự báo và xử lý những thách thức có hiệu quả; đồng thời phải là
những người yêu nước, trung thành với lý tưởng của Đảng, có nhân phẩm,
dám hy sinh lợi ích cá nhân vì tổ quốc, nhân dân.
2 - Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp: bao gồm các giám đốc, nhân
viên quản lý doanh nghiệp, xí nghiệp, nhà máy có năng lực, trình độ
vậy, Nhà nước và các doanh nghiệp cần nhanh chóng cải cách chế độ tiền
lương theo hướng toàn diện, triệt để, xây dựng hệ thống trả thưởng hợp lý,
hiệu quả phù hợp với cơ chế thị trường.
Tiếp tục đẩy nhanh tốc độ cải cách tiền lương khu vực nhà nước phù
hợp với đặc điểm, yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Xây dựng quy chế trả
lương, thưởng thống nhất nguyên tắc chung trong việc phân phối tiền lương
theo hướng gắn mức độ hưởng thụ với kết quả đóng góp, trách nhiệm và
hiệu quả trong công việc.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực đặc biệt, họ là kết
quả của một quá trình giáo dục - đào tạo, tham gia lao động thực tiễn đúc
kết kinh nghiệm và kỹ năng thực hành. Từ trước đến nay chúng ta mới chỉ
coi trọng, ưu tiên đặt lên hàng đầu những giải pháp về giáo dục - đào tạo
(giải pháp đầu vào), mà ít chú ý quan tâm đến giải pháp, chính sách sử
dụng, đãi ngộ nhân tài (giải pháp đầu ra). Do đó, Nhà nước cần thay đổi
chính sách tập trung cả ở giai đoạn đào tạo và sử dụng nguồn lực này. Để
thực hiện bước đột phá theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về
phát triển nguồn nhân lực, trong đó điểm nhấn tập trung là phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao, Nhà nước cần thực hiện quyết liệt việc đổi mới
17
chính sách đãi ngộ đối với nguồn lực này tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên đây sẽ góp phần tạo động lực
thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta đi đến thắng lợi với những mục
tiêu mà Đại hội XI của Đảng đề ra: đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn
định; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc
lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên.
buồn", làm sao để "hiền tài là nguyên khí của quốc gia" đúng với nghĩa
của nó là công cuộc lâu dài, thường xuyên và nỗ nực hết mình của toàn
Đảng, toàn dân ta.
19
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
PGS.TS Lưu Văn An: Giáo trình tập đề cương kỹ năng lãnh đạo quản lí.
2.
Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002.
3.
Sách “Tuyển dụng và đãi ngộ người tài” công ty First news
4.
Nguồn Internet
20
MỤC LỤC
21