Bảo vệ cổ đông thiểu số trong quy định của pháp luật và hiện trạng thực tế Bài tập nhóm Luật Thương mại 1
Công ti cổ phần ( CTCP) là một mô hình kinh doanh điển hình nhất về loại công ti
đối vốn. Các cổ đông – những người là chủ sở hữu cổ phần, là đồng chủ sở hữu
công ti cổ phần. Bảo vệ cổ đông thiểu số là một trong những vấn đề cơ bản trong
việc quản trị CTCP. Pháp luật trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã chú
trọng khá nhiều đến việc bảo vệ cổ đông thiểu số. Với nội dung bài tập nhóm này,
chúng em xin làm rõ các vấn đề về bảo vệ cổ đông thiểu số trong quy định của pháp
luật và trên thực tiễn.
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về công ty cổ phần và cổ đông thiểu số.
Quan niệm về công ty cổ phần.
a. Khái niệm.
Công ty cổ phần cũng như các loại hình công ty nói chung là đối tượng nghiên cứu
của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có khoa học pháp lý. Vì vậy, mỗi
ngành khoa học lại có cách tiếp cận với những khái niệm CTCP khác nhau. Theo
Giáo trình Luật thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2006 thì “CTCP
là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, chỉ chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu”
b. Đặc điểm của CTCP
CTCP có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, CTCP là một tổ chức có tư cách pháp nhân. Công ty có tư cách pháp nhân
kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Thứ hai, CTCP chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của
công ty. Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (tức là đến hết giá trị cổ phần mà họ sở
hữu)
Thứ ba, vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần nhỏ, mỗi phần nhỏ được
gọi là các cổ phần, người sở hữu các cổ phần gọi là cổ đông.
cổ đông lớn như sau: “ Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ
năm phần trăm trở số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”. Theo
đó, có thể gián tiếp hiểu rằng cổ đông thiểu số ( cổ đông nhỏ) là cổ đông sở hữu
dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty. Như vậy cổ đông thiểu số là
thuật ngữ dùng để chỉ những người nắm giữ ít cổ phần, không ảnh hưởng đáng kể
trong quản lý và điều hành công ty. Trong mối quan hệ giữa cổ đông này với những
cổ đông khác thì họ không đủ sức mạnh để chi phối các hoạt động của công ty, như
vậy thông qua các quyết định của công ty hay bầu các chức danh quản lý. Có hai
điểm đáng chú ý về cổ đông thiểu số là:
Thứ nhất: loại cổ phiếu họ sở hữu: phải là cổ phiếu có quyền biểu quyết. Bao gồm:
cổ phiếu phổ thông, hoặc cổ phiếu ưu đãi biểu quyết. Vì cổ phiếu ưu đãi cổ tức và
cổ phiếu ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết.
Thứ hai, tỉ lệ số cổ phiếu của họ trong tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết trong
công ti là dưới 5%.
Có thể thấy rằng, sự phân biệt giữa cổ đông lớn (cổ đông đa số) và cổ đông nhỏ (cổ
đông thiểu số) được dựa trên tiêu chí về số lượng cổ phần có quyền biểu quyết mà
mỗi cổ đông sở hữu. Điều này được chứng thực rõ ràng khi LDN 2005 quy định cổ
dông hoặc nhóm cổ đông sở hữu 10% tổng số cổ phần trở lên sẽ có thêm một số
quyền khác so với cổ đông phổ thông. Đồng thời LDN cũng quy định cổ đông sở
hữu 5% tổng số vốn điều lệ có thể tham gia Hội đồng quản trị. Tuy nhiên tại điểm a,
khoản 1 Điều 79 LDN 2005 quy định “ Cổ đông phổ thông có các quyền sau đây:
tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông và thự hiện quyền biểu quyết trực
tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu
biểu quyết”.
Như vậy LDN không quy định cổ đông phổ thông cần nắm giữ bao nhiêu phần
trăm tổng số cổ phần của công ty mới được biểu quyết mà tất cả các cổ đông phổ
thông của công ty đều có quyền tham gia biểu quyết tại các cuộc họp ĐHĐCĐ. Các
quyền và nghĩa vụ của các cổ đông phổ thông là như nhau, bất kể họ là CĐ đa số
CĐTS thường chiếm số đông trong CTCP. Do vậy, khi quyền lợi của họ được bảo
vệ sẽ tạo ra sự tin tưởng cho các nhà đầu tư, làm cho họ gắn vó với công ty từ đó
tạo ra sự ổn định nhất định cho CTCP.
Thứ ba, bảo vệ quyền lợi cho CĐTS sẽ hạn chế được sự lạm quyền trong hoạt động
kinh doanh. Thời gian thực tế cho thấy, các CĐ lớn hay lạm dụng và thực thi không
đúng quy định của pháp luật. Những cổ đông này tự cho mình cái quyền tự quyết
trong các vấn đề quan trọng, điều đó đồng nghĩa với việc CĐTS sẽ vẫn phải chịu
thua thiệt.
2. Các văn bản pháp luật quy định về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số.
Pháp luật hiện nay chua có một văn bản chính thức nào đề cập chuyên sâu đến vấn
đề bảo vệ cổ đông thiểu số. Các quy định này nằm rải rác trong các Luật chuyên
ngành, tùy theo từng lĩnh vực liên quan. Đó là:
• Luật Doanh nghiệp 2005
• Luật chứng khoán 2006
• Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 1/10/2010.
• Nghị định số 01/2010/NĐ- CP ngày 4/1/2010.
• Nghị định 85/2010/NĐ-CP về xử phạt hành chính về chứng khoán.
3. Nội dung các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu sổ.
3.1. Bảo vệ quyền lợi của CĐTS tham gia hoạt động tổ chức quản lý CTCP.
Trong CTCP, LDN 2005 quy định khá đầy đủ và chi tiết các quyền của cổ đông
đồng thời quy định các biện pháp bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nói chung và
quyền lợi của CĐTS nói riêng. Theo quy đinh của LDN cơ chế bảo vệ quyền lợi của
CĐTS được xác lập một cách tương đối đầy đủ.
3.1.1 Quyền tham dự cuộc họp Đại hội đồng cổ đông
Với tư cách là cổ đông CTCP, CĐTS có quyền tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ. Đây là
một trong những quyền cơ bản và tối thiểu của các cổ đông chứng tỏ sự hiện diện
và xác nhận tư cách thành viên của các cổ đông trong CTCP (tuy nhiên cần lưu ý
trường hợp CĐTS và CĐ ưu đãi thì điều này bị hạn chế theo quy định tại khoản
Nhằm đảm bảo quyền biểu quyết của cổ đông thiểu số, pháp luật đã giới hạn mức
tối thiểu tỉ lệ biểu quyết, còn mức cụ thể, do công ti thỏa thuận quy định trong Điều
lệ.
Như vậy, pháp luật đã bảo đảm cho các CĐTS quyền được biểu quyết tại cuộc họp
ĐHĐCĐ như bất cứ CĐ nào khác. Bản thân mỗi CĐTS không thể độc lập đưa ra
quyết định nhưng họ có thể tham gia vào việc quyết định, xem xét, thảo luận các ý
kiến được trình bày bởi HĐQT thể hiện rằng CĐTS đã trực tiếp hay gián tiếp đưa ra
các quyết định thể hiện ý chí của mình tại công ty giúp CĐTS tham gia định hướng
được sự phát triển của công ty sao cho mang lại nhiều lợi ích cho mình, cho các CĐ
khác và thông qua đó có thể tự bảo vệ quyền lợi cho mình. Khi các CĐTS luôn yếu
thế hơn các CĐĐS khác trong việc chi phối hoạt động của CTCP thì quyền được
biểu quyết trở nên có ý nghĩa rất thiết thực trong việc bảo vệ quyền lợi cho chính
các CĐTS trong CTCP.
3.1.3. Quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị hay Ban kiểm soát
Bảo vệ quyền lợi của CĐTS là tưởng xuyên suốt của LDN. Các nhà làm luật luôn
hướng đến bảo vệ quyền lợi cho những CĐ ít vốn không bị xâm hại bởi những cổ
đông nắm giữ cổ phần đa số của CTCP. Với số cổ phần ít ỏi mà các CĐTS nắm giữ
họ khó có cơ hội tham gia vào bộ máy quản lý của công ty, thực hiện những hoạt
động trực tiếp giám sát các hoạt động của công ty. Vì vậy bảo vệ những cổ đông
này trước sự chèn ép của các CĐ lớn, pháp luật trao cho họ quyền được đề cử người
vào HĐQT hay BKS nhằm thay họ quản lý công ty cũng như giám sát những hoạt
động kinh doanh của công ty, đảm bảo lợi ích chính đáng cho mình. Tại điểm a
khoản 2 Điều 79 “ Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần
phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy
định tại Điều lệ công ty có các quyền: Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban
kiểm soát(nếu có)”.
Tại điểm c, khoản 3, Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 có đề cập đến vấn đề bầu
dồn phiếu trong việc bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát cụ thể:
không thể tham gia vào quản lí công ti? Để đảm bảo quyền lợi cho cổ đông thiểu số,
pháp luật tạo điều kiện cho các cổ đông này được tham gia vào quản lí công ti bằng
cách là liên kết với nhau thành một nhóm để có tổng số cổ phần nhiều hơn thông
qua cơ chế bầu dồn phiếu.
Cụ thể tại Điểm a Khoản 4 Điều 79 LDN 2005 về Quyền của cổ đông phổ thông
quy định: “Trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc đề cử
người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát quy định tại điểm a khoản 2 Điều
này được thực hiện như sau: Các cổ đông tự nguyện tập hợp thành nhóm thỏa mãn
các điều kiện quy định để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải
thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết chậm nhất ngay khi khai
mạc Đại hội đồng cổ đông”.
Như vậy, pháp luật cho phép các cổ đông thiểu số lập nhóm cổ đông nhằm bảo vệ
quyền lợi ích của mình trong vấn đề quản lí CTCP.
3.1.5. Bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số được cung cấp thông tin liên quan đến
hoạt động của công ty.
Đây là một trong những quyền cơ bản, quan trọng của cổ đông trong công ty cổ
phần có quy định tại các điểm đ, e Khoản 1 Điều 79 LDN 2005. Tuy nhiên đối với
các thông tin quan trọng về Báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, biên bản, nghị
quyết của HĐQT, báo cáo của Ban kiểm soát, thì pháp luật yêu cầu chỉ có cổ đông
sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông mới được thực hiện. Tuy nhiên để bảo
vệ quyền của cổ đông thiểu số, pháp luật cũng cho phép các cổ đông thiểu số lập
nhóm cổ đông để thực hiện quyền dược cung cấp thông tin thông qua đại diện của
mình. Từ đó, nắm bắt được thông tin về hoạt động của công ti.
Tại nghị định số 102/ 2010/NĐ-CP cũng quy định về quyền được cung cấp thông
tin về “những người có liên quan và các giao dịch của họ với công ty” (điều 28,
Nghị định 102).
3.1.6 Bảo vệ quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông(ĐHĐCĐ),
Điều 107 LDN 2005.
mình. Quyền này tạo điều kiện cho cổ đông được rút vốn ra khỏi công ty bằng việc
yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình mà không ảnh hưởng đến quyền lợi của
các cổ đông khác. Khi những quyết sách của công ty được thông qua nhằm hướng
đến lợi ích chung của công ty nhưng đôi khi các CĐĐS nắm quyền chi phối ở công
ty biểu quyết đưa ra những quyết định vì lợi ích của chính bản thân họ nhờ vào số
lượng cổ phần chiếm ưu thế. Bởi vậy, không phải lúc nào những quyết định của
công ty cũng thỏa mãn được lợi ích của tất cả các CĐ và có những trường hợp xâm
phạm đến chính quyền lợi của bộ phận CĐTS. Và lúc này, pháp luật với sự bảo vệ
quyền yêu cầu công ty mua lại vốn góp cho các CĐ trở nên hữu hiệu hơn bao giờ
hết, giúp cho các CĐ có thể rút vốn ra khỏi công ty, bảo vệ quyền lợi cho chính
mình. Khi có yêu cầu của cổ đông trong những trường hợp đã được pháp luật quy
định thì “ Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của CĐ quy định tại khoản 1
Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ
công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không
thỏa thuận được về giá thì cổ đông đó có thể bán cổ phần cho người khác hoặc các
bên có thể yêu cầu một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu
ít nhất ba tổ chức định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là
quyết định cuối cùng” (theo khoản 2 Điều 90 LDN 2005).
3.2.2. Pháp luật quan tâm bảo vệ quyền lợi của các CĐTS đối với quyền ưu tiên
mua cổ phần mới phát hành cũng như quyền chuyển nhượng quyền ưu tiên mua CP
Khi trở thành CĐ của CTCP, các nhà đầu tư sẽ được hưởng đầy đủ các quyền lợi
của một sở hữu chủ được pháp luật bảo vệ cho dù họ là CĐĐS hay CĐTS. Một
trong những quyền lợi mà pháp luật đảm bảo đó là quyền ưu tiên mua CP mới phát
hành. Tại điểm c khoản 1 Điều 79, theo đó khi CTCP huy động vốn bằng hình thức
phát hành CP mới thì các CĐ được quyền ưu tiên mua và số lượng CP được mua
theo quyền ưu tiên này sẽ quy định trong từng đợt phát hành. Có thể thấy, pháp luật
trao cho các CĐ quyền ưu tiên mua này là một điều cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi
chính đáng của các CĐ đặc biệt là CĐTS. Trong CTCP, các CĐ nắm giũ quyền sở
hữu theo số CP. Khi công ty tăng vốn điều lệ thông qua việc chào bán CP mới, nếu
Tuy pháp luật đã có những quy định hết sức rõ ràng trong việc bảo vệ quyền lợi của
các CĐTS nhưng việc thực hiện và bảo đảm thực hiện trên thực tế chưa được
nghiêm chỉnh chấp hành. Thực tế cho thấy, trong CTCP, cổ đông thiểu số thường
hay bị chèn ép bởi các cổ đông lớn – những người nắm giữ nhiều vốn và từ đó nắm
giữ quyền biểu quyết áp đảo so với cổ đông thiểu số.
4.1. Vi phạm quyền tham dự họp ĐHĐCĐ
Một trong những vi phạm điển hình nhất hiện nay là một số công ty tước quyền
tham dự ĐHĐCĐ của CĐTS bằng việc quy định mức sở hữu CP tối thiểu để được
tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ. Ví dụ, trong thông báo về nội dung họp ĐHĐCĐ 2007,
CTCP Momota viện dẫn căn cứ theo Nghị quyết ĐHĐCĐ 2006 quy định: CĐ sở
hữu số CP chiếm tỷ lệ từ 0,1% vốn điều lệ (tương đương 12000 CP phổ thông) được
quyền tham dự trực tiếp các kỳ đại hội. CĐ sở hữu ít hơn 0,1% vốn điều lệ có thể
tập hợp thành nhóm CĐ nắm giữ lớn hơn 0,1% vốn điều lệ để cử người đi dự họp
theo mẫu giấy ủy quyền. Trong trường hợp không có người đại diện ủy quyền tham
dự đại hội, CĐ có thể ủy quyền cho một trong số các thành viên HĐQT công ty.
Tức là, nếu là CĐ nhỏ thì buộc lòng họ phải nhờ người đại diện quyền lợi hộ cho
mình. Và tình trạng tước quyền tham dự ĐHĐCĐ vẫn cứ tiếp diễn khi mà PVFC
Land yêu cầu phải sở hữu từ 0,1% vốn điều lệ trở lên ( tương đương khoảng 500
triệu đồng) mới được tham dự. Một số đơn vị khác như CTCP Dược phẩm TW2
hơn 5000 cổ phần, CTCP Đầu tư PV- Inconess hơn 100.000 cổ phần tương đương
gần 1 tỷ đồng.
Mới đây, CTCP Du lịch Bà Rịa- Vũng Tàu thông báo mời họp ĐHĐCĐ thường niên
2009 đã đưa ra điều kiện CĐ có ít nhất 20.000 cổ phần (0,1% vốn điều lệ theo Điều
lệ công ty quy định) mới đủ điều kiện tham gia phiên họp. Quy định của các công ty
khi đưa ra điều kiện dự họp ĐHĐCĐ đối với các CĐ là hoàn toàn vi phạm LDN.
Chính những quyết định này đã hạn chế quyền tham dự ĐHĐCĐ của các CĐTS,
tước đi của CĐ quyền cơ bản được pháp luật bảo vệ.
Nhận xét chung
Mặc dù sự bắt tay liên kết giữa các cổ đông nhỏ lẻ để tự bảo vệ quyền lợi của mình
đã đạt một số kết quả khả quan nhưng vẫn còn nhiều điểm vướng mắc do chưa được
Pháp luật quy định. Vấn đề quyền lợi của cổ đông bị xâm phạm vẫn đang là chủ đề
được nói đến nhiều trên diễn đàn kinh tế- pháp luật hiện nay. Có thể thấy các
trường hợp thiếu tôn trọng quyền của nhà đầu tư nhỏ lẻ thường xảy ra trên thực tế
hiện nay:
• Công ti niêm yết không mời nhà đầu tư nhỏ lẻ đến dự Đại hội đồng cổ đông
(ĐHĐCĐ); hoặc không cung cấp tài liệu cho nhà đầu tư trước khi họp ĐHĐCĐ.
• Khi thông qua Nghị quyết ĐHĐCĐ, chỉ có lợi cho những cổ đông lớn và người
quản lý, chẳng hạn: phát hành cổ phiếu thưởng vô nguyên tắc, chọn cổ đông chiến
lược nhưng thực chất là bán rẻ cổ phiếu cho cổ đông “chiến lược” là những người
thân quen, để dành quỹ khen thưởng, phúc lợi quá lớn cho người quản lý và nhân
viên.
• Việc biểu quyết thông qua Nghị quyết cảu ĐHĐCĐ còn mang tính hình thức, ý
kiến của cổ đông bé chưa được tôn trọng. Dù pháp luật đã quy định về tỉ lệ biểu
quyết tối thiểu, nhưng mức 65% hay 75% dường như vẫn còn quá ít để bảo vệ cổ
đông thiểu số - những người chỉ nắm giữ dưới 5% cổ phần phổ thông.
• Công bố thông tin không chính xác hoặc không hết nội dung, có những nội dung
mập mờ khiến nhà đầu tư đánh giá không đúng về công ti niêm yết;
• Cơ quan quản lý công ti có những tuyên bố không đúng thẩm quyền hoặc không
đúng luật, không tôn trọng nhà đầu tư, khiến giá cổ phiếu có thể diễn biến bất lợi
cho nhà đầu tư...
Vậy làm thế nào để bảo vệ cổ đông thiểu số?
Để giải quyết vấn đề này, trước hết, chính bản thân cổ đông thiểu số phải tự bảo vệ
cho quyền lợi của mình, trong đó, biện pháp liên kết là một trong những biện pháp
được các cổ đông triệt để sử dụng.
Thứ nhất, các cổ đông phổ thông cần nhóm họp, tập hợp, liên kết nhau lại trên cơ sở
quả những người thấp cổ bé họng trong CTCP.