Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin cho dạy học tích cực trong môn toán bậc cao đẳng ngành giáo dục tiểu học ở trường đại học phạm văn đồng - Pdf 36

VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO DẠY HỌC TÍCH
CỰC TRONG MÔN TOÁN BẬC CAO ĐẲNG NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU
HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
Giảng viên: Phạm Huy Thông
* Tổ Tiểu học
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục
Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng, đã có những bước phát triển
đáng kể. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thời kì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi giáo dục đại học cần có sự đổi mới toàn diện
và sâu sắc. Một trong những giải pháp quan trọng là nhanh chóng đổi mới
phương pháp dạy học ở đại học. Điều 40 của Luật giáo dục 2005 nêu rõ:
“ Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc
bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát
triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học
tham gia nghiên cứu, thực hành, ứng dụng”
Để đào tạo ra lớp người đáp ứng được yêu cầu đó, đổi mới phương pháp
dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của sinh
viên (phương pháp dạy học tích cực) là cấp thiết hiện nay. Một công cụ hỗ trợ
đắc lực cho phương pháp dạy học tích cực là công nghệ thông tin (CNTT) - một
phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệu quả trong dạy học nói chung, dạy
học bộ môn toán nói riêng.
Bộ môn Toán bậc cao đẳng ngành Giáo dục tiểu học, là một trong những
môn học quan trọng trong Chương trình đào tạo ngành Giáo dục tiểu học, nhằm
đào tạo giáo viên đáp ứng được những yêu cầu đổi mới của Giáo dục Việt Nam
nói chung, Giáo dục tiểu học nói riêng, trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại
hóa đất nước.
Trong bài viết này, chúng tôi nêu một số ứng dụng CNTT vào tổ chức các
hoạt động dạy học tích cực trong môn toán bậc cao đẳng ngành Giáo dục tiểu
học ở trường Đại học Phạm Văn Đồng. Hy vọng bước đầu, có những biến đổi
đang kể trong giảng dạy, cũng như kết quả học tập của sinh viên.

Trong dạy học tích cực, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận thức thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học tập của sinh viên mà còn nhận định thực trạng
và điều chỉnh hoạt động dạy của giảng viên.
Tự đánh giá là hình thức đánh giá mà sinh viên tự liên hệ phần nhiệm vụ
thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập.Từ đó họ có thể tự điều chỉnh
cách học, xác định động cơ học tập và lập kế hoạch để tự nâng cao kết quả học
tập của mình.
Kết hợp đánh giá của giảng viên và tự đánh giá của sinh viên, không những
giúp sinh viên nhìn nhận mình mà giảng viên có điều kiện nhìn nhận chính mình
để điều chỉnh cách dạy.
Như vậy, những PPDH nào có những dấu hiệu đặc trưng như trên đều là
các phương pháp dạy học tích cực, như: phương pháp dạy học nhóm, nêu và giải
quyết vấn đề, dạy học theo dự án…
2.1.2. Công nghệ thông tin cho dạy học tích cực
Quyết nghị của Chính phủ năm 2005, về đề án phát triển Giáo dục đại học
Việt Nam định hướng đến 2020, đã nêu rõ các giải pháp đổi mới phương pháp
đào tạo theo các tiêu chí: trang bị cách học cho người học, phát huy tính chủ
động của người học và sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt
động dạy và học.
Do đó, ứng dụng CNTT vào dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của sinh viên là một yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay.
Việc ứng dụng CNTT vào dạy học là một quá trình thường xuyên, liên tục
theo từng giai đoạn, từ việc tiếp cận công nghệ, bồi dưỡng kĩ năng sử dụng đến
hoàn thiện phương pháp sử dụng CNTT trong dạy học. Theo Mô hình TPACK
(Teachnological pedagogical content knowledge - Kiến thức nội dung, phương
pháp và công nghệ) đưa ra cách nhìn tổng quát về ba dạng cơ bản của kiến thức


mà một giảng viên cần có để ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học của mình:
kiến thức công nghệ, kiến thức phương pháp và kiến thức nội dung, cũng như

Hiện nay, trang thiết bị CNTT phục vụ giảng dạy trong nhà trường đã có
những cải thiện đáng kể. Trung tâm thông tin- tư liệu đã có nhiều máy tính được
nối mạng phục vụ tốt cho giảng viên, học sinh sinh viên học tập và nghiên cứu.
Nhiều phòng học đã được trang bị máy chiếu phục vụ cho hoạt động dạy và học.
Trình độ, kĩ năng sử dụng CNTT trong dạy học của giảng viên được nâng cao.
Học sinh sinh viên đã bước đầu thích ứng với phương pháp dạy học có ứng dụng
CNTT.
Tuy nhiên, theo các bổi hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học ở các
khoa và nhà trường tổ chức, qua các đợt tập huấn về CNTT và nhận định chủ
quan, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều hạn chế trong ứng dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy trong nhà trường:
Đối với giảng viên: đa số đa số giảng viên, chỉ sử dụng một số phần mềm
trình chiếu, để thiết kế bài giảng và các hoạt động dạy học, chưa có sự liên kết
đa dạng các phần mềm chuyên dụng. Thậm chí, trình chiếu các trang word thay
cho việc ghi bảng, điều này ít có hiệu quả trong phương pháp dạy học nhằm phát
huy tính tích cực chủ động của sinh viên.
Đối với sinh viên: đa số sinh viên còn thói quen học tập như ở trường phổ
thông, thói quen “thầy đọc-trò ghi”, thụ động trong học tập, thiếu tính tích cực.
Trình độ, kĩ năng sử dụng CNTT của sinh viên còn nhiều hạn chế, thậm chí có
sinh viên còn chưa biết sử dụng máy tính.
Mặt khác, một tác động không nhỏ đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học
là trang thiết bị CNTT vẫn còn thiếu, việc dạy học sử dụng các phương tiện hiện
đại không được thường xuyên, liên tục dẫn đến hiệu quả chưa cao.
2.2.2. Cấu trúc nội dung môn toán bậc cao đẳng ngành Giáo dục tiểu học
Chương trình môn toán bậc cao đẳng ngành Giáo dục tiểu học gồm 3 học
phần:
- Cở sở lý thuyết tập hợp và lôgic toán;
- Các tập hợp số;
- Nhập môn lý thuyết xác suất và thống kê toán.
Nội dung chủ yếu của các học phần này, là trình bày các kiến thức cơ bản

người học theo dõi bài trình chiếu tốt hơn.
* Thực hành luyện tập: Mục đích của thực hành luyện tập là giúp người
học ghi nhớ thông tin. Nó là một dạng bài tâp.Trong hoạt động thực hành luyện
tập, các câu hỏi được đưa ra, người học trả lời và phần mềm cung cấp đáp án.
Các phần mềm thường được sử dụng nhiều như: MS PowerPoint, Violet
hay các phần mềm chuyên biệt: Exe learning, Hot Potatoes để tạo ra các bài tập
khác nhau. Môn toán thường sử dụng để kiểm tra kiến thức đã học, củng cố kiến
thức của từng chương, từng học phần hay môn học. Một biện pháp nhanh chóng
và dễ sử dụng, để đánh giá người học có đạt được mục tiêu của bài học hay
không, là soạn các bài trắc nghiệm trên các phần mềm để sử dụng giữa tiết hay
sau tiết học.
* Bản đồ tư duy: Bản đồ tư duy có thể được tạo ra từ các phần mềm ứng
dụng như MS PowerPoint, MS Word hay các phần mềm chuyên biệt như
Freemind, Inspiration hay Emindmaps.Trong môn toán, bản đồ tư duy có thể sử
dụng để tổng kết kiến thức của một chương hay học phần, phân tích các trường
hợp xảy ra khi lập kế hoạch giải bài toán hay xây dựng công thức toán học.
Ngoài ra, toán học còn sử dụng các phần mềm để tạo câu chuyện hình ảnh
hay các phần mềm chuyên biệt trong toán học như MS Excel, graph, Sketpad
hay Mapble.


Như vậy, trong một bài giảng môn toán, giảng viên có thể sử dụng nhiều
công cụ khác nhau, nhằm tích cực hóa các hoạt động của người học. Điều này,
một lần nữa đòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc và sử dụng thành thạo các
phần mềm ứng dụng khác nhau để hỗ trợ tốt nhất các hoạt động học tập.
Dưới đây, chúng tôi trình bày một ví dụ minh họa cho việc ứng dụng
CNTT trong dạy học môn toán.

(Trích)
KẾ HOẠCH BÀI DẠY – Tuần 18

III. MỤC TIÊU
Mục tiêu Kiến thức: Giúp sinh viên
bài dạy
- Hiểu được các khái niện về ánh xạ là đơn ánh, toàn ánh, song
ánh và ánh xạ ngược
- Biết xây dựng các ví dụ minh họa về các ánh xạ
Kĩ năng: Hình thành và rèn luyện cho SV các kĩ năng:
- Thiết lập các phép toán trên ánh xạ
- Chứng minh được các quan hệ là ánh, đơn ánh, toàn ánh và song
ánh.
- Vận dụng các kiến thức ánh xạ trong toán học và thực tế đời
sống.
Thái độ: Chủ động tìm tòi, khám pha các ứng dụng của ánh xạ
trong dạy và học toán.


IV. HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC
* GIỜ LÝ THUYẾT
1 HĐ1: Nhắc lại kiến thức đã học
GV: Thông qua biểu đồ ven yêu cầu SV xác định quan hệ nào là
ánh xạ
2 HĐ2: Tìm hiểu đơn ánh, toàn ánh, song ánh và ánh xạ ngược
GV: Nêu ví dụ minh họa. Yêu cầu SV định nghĩa tổng quát của các
ánh xạ
SV: Thảo luận theo nhóm 2 người về các nhiệm vụ:
NV1: Cho 2 ví dụ về ánh xạ nhưng không là đơn ánh
Cho 2 ví dụ về đơn ánh nhưng không là toàn ánh
Cho 2 ví dụ về toàn ánh nhưng không là đơn ánh
NV2: Cho 2 ví dụ là song ánh và tìm ánh xạ ngược của chúng
Tìm ánh xạ f: X → Y và g: Y → Z sao cho f không phải là toàn ánh

- Nhà trường cần trang bị cở sở vật chất, trang thiết bị CNTT đáp ứng tốt
nhu cầu dạy học của giảng viên và học sinh sinh viên. Nâng cao trình độ, kĩ
năng sử dụng các công cụ CNTT vào dạy học cho cán bộ giảng dạy, qua các đợt
tập huấn bồi dưỡng về CNTT.
- Từng bước tạo được phương pháp học tập cho sinh viên thích ứng với
phương pháp dạy học có sử dụng các công cụ CNTT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Dự án Việt - Bỉ, Dạy và học tích cực, nhà xuất bản đại học sư phạm, 2010
[2]. Tài liệu tập huấn về công nghệ thông tin cho dạy học tích cực. Sản xuất bởi
VVOB Việt Nam.2010.
[3]. Trần Diên Hiển (Chủ biên), Cơ sở lý thuyết tập hợp và lôgic toán, Nhà xuất
bản giáo dục.2007
[4]. Kỉ yếu hội thảo khoa học đổi mới phương pháp dạy học.Trường đại học
Phạm Văn Đồng. Quảng Ngãi, 2009.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status