ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH
------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THU HÚT DU KHÁCH
NỘI ĐỊA TẠI ĐIỂM DI TÍCH ĐẠI NỘI HUẾ
Sinh viên thực hiện : HOÀNG THỊ MAI SƯƠNG
Giảng viên hướng dẫn
: ThS. LÊ VĂN HOÀI
Huế, tháng 05 năm 2016
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH
------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THU HÚT DU KHÁCH
NỘI ĐỊA TẠI ĐIỂM DI TÍCH ĐẠI NỘI HUẾ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
tạo điều kiện tốt nhất cho em thực tập và hoàn thiện hơn bài chuyên
đề của mình. Sự giúp đỡ của thầy cô và ban ngành đac giúp em hoàn
thành bài báo cáo này, đây cũng là kết cả của bốn năm Đại Học và
hai tháng thực tập.
Cuối cùng, em xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và
thành công trong sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các cô chú trong
Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế sức khỏe và thành công
trong công việc. Mặc dù bản than đã cố gắng nhiều nhưng vẫn không
thể tránh khỏi những hạn chế nhất đònh trong lúc thực hiện đề tài,
SVTH: Hồng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chun đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hồi
rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của quý thầy
cô để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Huế, tháng 05 năm 2016
SV: Hoàng Thò Mai Sương
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của bản thân, có sự hỗ trợ
từ giáo viên hướng dẫn là thầy giáo Lê Văn Hồi. Các nội dung nghiên cứu và kết
quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong bất cứ
cơng trình nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc
phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác
nhau có ghi lại trong phần tài liệu tham khảo. Ngồi ra, đề tài tài còn sử dụng
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay ở nhiều nước trên thế giới, du lịch đã trở thành nền kinh tế mũi
nhọn, góp phần quan trọng cho nên kinh tế quốc dân. Khách du lịch nội địa là
một nguồn khách rất lớn đóng góp vào sự phát triển của du lịch Việt Nam. Như
ông Nguyễn Văn Tuấn - Tổng cục Trưởng Cục Du Lịch đã nhận định “ Trong bối
cảnh du khách quốc tế đang giảm sút, khách nội địa lại liên tục tăng nhanh”.
Nhờ những biện pháp kích cầu trong du lịch đã mang lại hiệu quả cao cho nên
kinh tế du lịch nói riêng và nên kinh tế nước nhà nói chung.
Trong những năm qua, nguồn khách du lịch nội địa vẫn không được quan
tâm đầu tư để phát triển. “Nhiều năm qua hầu hết các chính sách của du lịch
thức quan trọng trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của con người. Bởi lẽ đó,
nhiều nước trên thế giới này càng xem du lịch là một trong những ngành kinh
tế quan trọng và có chiến lược đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
trong nền kinh tế quốc dân.
Thừa Thiên Huế là một trong ít địa phương có nguồn tài nguyên du lịch
phong phú, đa dạng và có giá trị cao về tự nhiên và nhân văn. Nơi đây còn lưu
di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại với hàng trăm
công trình tồn tại hầu như nguyên vẹn, kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Ngoài ra,
nhã nhạc cung đình Huế cũng được UNESCO công nhận là kiệt tác văn hóa phi
vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Huế còn là nơi có cảnh quan thiên nhiên
tươi đẹp, kết hợp hài hòa với các giá trị văn hóa như: Vườn Quốc Gia Bạch Mã,
đầm Phá Tam Giang, các bãi biển đẹp như Thuận An, Lăng Cô, Cảnh Dương.
Với tiềm năng thế mạnh lại có một vị trí thuận lợi, Huế được xác định là hạt
nhân phát triển của du lịch Bắc Trung Bộ, với định hướng phát triển của các loại
hình du lịch nhân văn, trong đó tập trung khai thác các giá trị gắn liền với Cố Đô
Huế.
Để xây dựng Huế thành một “Thành phố Du Lịch - Thành phố Festival của
Việt Nam” và thu hút du khách đặc biệt là khách nội địa thì cần phải nghiên cứu
tìm hiểu xem nhu cầu mong muốn của từng đoạn thị trường tham quan ở Huế
là gì, cảm nhận như thế nào về du lịch dịch vụ của địa phương, để từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút của điểm đến mang lại nguồn
thu lớn vào kinh tế của tỉnh nhà.
Xuất phát từ những lý do đó cùng với mong muốn nâng cao hơn hiệu quả
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chuyên đề tốt nghiệp
Đối tượng điều tra: Du khách đã tham quan di tích Đại Nội Huế
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
a. Phương pháp định tính:
• Phương pháp quan sát: thu thập trực tiếp các đối tượng liên quan đang cần
nghiên cứu, bao gồm những tài liệu có sẵn, quan sát nhận thức và ghi lại thái
•
độ của đối tượng.
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: phỏng vấn khu vực nghiên cứu và gặp gỡ
những cá nhân dự kiến theo mẫu lựa chọn.
• Phương pháp điều tra bảng hỏi: là điều tra phỏng vấn viết, được thực hiện cùng
lúc nhiều người theo một mẫu bảng hỏi in sẳn, khách tham quan sẽ trả lời
bằng cách đánh dấu vào bảng hỏi những phương án cho là phù hợp.
b. Phương pháp định lượng
• Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
• Nguồn thu thập: Trung tâm bảo tồn di tích Cố Đô Huế, Sở Văn Hóa, Thể thao và
3.41 - 4.20
Đồng ý
4.21 - 5.00
Rất đồng ý
Số liệu thu thập từ phiếu khảo sát phỏng vấn cá nhân được xử lý bằng phần
mềm SPSS 21.0 với các phương pháp phân tích sau:
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
-
Thống kê mô tả: tần suất (Frequencies), phần trăm (Percent), giá trị trung bình
-
(Mean).
Kiểm tra độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha: Kiểm định nhằm loại
bỏ các biến không phù hợp và hạn chế các biến rác trong quá trình nhiên cứu và
đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số thông qua hệ số Cronbach’s Alpha,
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Cơ sở lý luận về du lịch
1.1.1. Khái niệm du lịch
Khái niệm chung về Du lịch: “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các
mối quan hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh
doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và
tiếp đón khách du lịch.
Theo tổ chức Du lịch Thế giới (World Tuorist Organization), một tổ chức
Liên Hiệp Quốc: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du
hành, tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm
hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giản; cũng như mục đích hành nghề
và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một
năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có
mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động
trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”.
Theo điều 4, chương I của Luật du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các
hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
1.1.2. Khái niệm khách du lịch
-
Theo tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), khách du lịch bao gồm:
Khách du lịch quốc tế (International tuorist):
Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tuorist): là những người từ nước ngoài đến
-
du lịch một quốc gia.
Khách du lịch nội địa (Domestic tuorist): là công dân Việt Nam và người
nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
1.1.3. Điểm đến du lịch
Theo Buhalis (2000) định nghĩa: “Điểm đến du lịch là nơi mà cung cấp
tổng hợp các sản phẩm và dịch vụ du lịch được tiêu dùng dưới tên thương hiệu
của điểm đến”. Ranh giới của một điểm đến có thể được xác định một cách cụ
thể bằng ranh giới địa lý, chính trị hoặc cũng có thể xác định bằng ranh giới
nhận thức và ranh giới tạo ra bởi thị trường.
Theo Gatrell (1994) định nghĩa: “Điểm đến là những vùng địa lý có những
thuộc tính, tính năng, sự hấp dẫn và dịch vụ để thu hút người sử dụng tiềm
năng.
Rubies (2001) định nghĩa: “Điểm đến là một khu vực địa lý trong đó chứa
đựng một nhóm các nguồn lực về du lịch và các yếu tố thu hút, cơ sở hạ tầng,
thiết bị, các nhà cung cấp dịch vụ, các lĩnh vực hỗ trợ khác và các tổ chức quản
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
lý mà họ tương tác và phối hợp các hoạt động để cung cấp cho du khách các
trải nghiệm họ mong đợi tại điểm đến mà họ lựa chọn”.
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác:
-
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí
hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng nhằm
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
phục vụ mục đích du lịch.
-
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình
lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác
có thể sử dụng phục vụ trong mục đích du lịch.
1.2. Một số khái niệm về văn hóa và du lịch văn hóa
1.2.1. Khái niệm về văn hóa
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, bao gồm hai
khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và
các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, vv… Cả hai khía
cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.
Theo UNESCO được thông qua tại hội nghị quốc tế năm 1982 tại Mexico:
“Văn hóa là tổng thể những nét riêng tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm
quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội’.
hóa là cơ hội để họ thỏa mản nhu cầu của họ.
1.3. Phương pháp đánh giá khả năng thu hút khách của điểm đến du
lịch
1.3.1. Khả năng thu hút khách của điểm đến du lịch
Để có thể hiểu đầy đủ và định nghĩa được khả năng thu hút khách của
điểm đến thì cần phải phân biệt giữa điểm hấp dẫn du lịch (tuorist attraction)
và khả năng thu hút của điểm đến (destination attractiveness), bởi điểm hấp
dẫn du lịch thường được hiểu với tầm nghĩa hẹp hơn. Điểm hấp dẫn du lịch là
các yếu tố cơ bản, cụ thể của khả năng thu hút của điểm đến, như là: khí hậu,
phong cảnh, các hoạt động, dịch vụ. Trong khi đó thì khả năng thu hút của điểm
đến mang tầm ý nghĩa rộng và bao quát hơn. Khả năng thu hút của điểm đến
chính là yếu tố thúc đẩy việc du khách đến thăm quan, lưu trú tại điểm đến,
hoặc di chuyển từ điểm đến này đến điểm đến khác. Theo Hu và Ritchie thì khả
năng thu hút của điểm đến “Phản ánh cảm nhận, niềm tin và ý kiến mà mỗi cá
nhân có được về khả năng làm hài lòng khách hàng của điểm đến trong mối liên
hệ với nhu cầu chuyến đi cụ thể của họ” (Hu and Ritchie, 1993:25). Có thể thấy
rằng, khi điểm đến có khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách thì điểm đến đó
càng dễ dàng được du khách lựa chọn. Mayo và Jaris (1981) cũng có cùng quan
điểm này khi cho rằng khả năng thu hút của điểm đến là “Khả năng mà điểm
đến đó mang lại các lợi ích cho du khách”. Những nghiên cứu đã cho thấy tính
phổ biến của một điểm đến du lịch có thể được gia tăng bởi một tổ hợp các
thuộc tính của cạnh tranh và khả năng thu hút, trong đó khả năng cạnh tranh
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
trí tại điểm đến. Các yếu tố tài nguyên của điểm đến và các hỗn hợp các hoạt
động sẽ cung cấp cho du khách cho thêm nhiều lựa chọn và đó chính là yếu tố
“kéo” du khách. Tương tự, Ritchie và Crouch (2003) cho rằng khả năng thu hút
của điểm đến được nâng cao một phần nhờ khả năng của nó cung cấp các
phương tiện, dịch vụ mà du khách có thể sử dụng khi họ ở điểm đến. Trong khi
đó, khả năng cạnh tranh của điểm đến lại phụ thuộc vào việc cung cấp các
phương tiện, dịch vụ này nổi trôi hơn so với các điểm đến có tính thay thế được.
1.3.3. Các thuộc tính cấu thành khả năng thu hút của điểm đến du
lịch
Theo Goeldner (2000), các yếu tố thu hút được khái quát thành năm nhóm
yếu tố chính gồm: văn hóa, tự nhiên, sự kiện, nghỉ ngơi và giải trí. Một kết quả
nghiên cứu khác được nhiều người thừa nhận đó là cách phân loại các yếu tố
thu hút của Ritchie và Crouch, theo họ sức thu hút của điểm đến có bảy yếu tố
chính: văn hóa và lịch sử, các hoạt động hỗn hợp, các sự kiện đặc biệt, giải trí,
kiến trúc thượng tầng, các mối quan hệ thị trường (Ritchie and Crouch, 2005).
Cùng với nó Azlizam Aziz đã đưa ra mô hình về khả năng thu hút của điểm đến
gồm năm nhóm nhân tố chính trong nghiên cứu của mình (Sơ đồ 1) gồm: yếu tố
thuộc văn hóa xã hội, yếu tố thuộc về địa lý, đặc tính thuộc vật chất, đặc tính
thuộc về tự nhiên, các đặc tính bổ trợ (Azlizam Aziz, 2002).
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Đặc tính thuộc về tự nhiên
Các đặc tính bổ trợ
Nét đẹp tự nhiên
Cơ sở hạ tầng
Phong cách độc đáo
Lưu trú và ăn uống
Các hoạt động ngoài trời
Phương tiện vận chuyên
Sơ đồ 1.1: Hệ thống đo lường khả năng thu hút của điểm đến
(Azlizam Aziz, 2002)
(Trích tạp chí nghiên cứu và Phát triển, số 1 (108), 2014)
Vận dụng các thuộc tính trên phù hợp với quy mô, đặc điểm của điểm đến
được nghiên cứu điểm di tích Đại Nội Huế nên đã xác định được năm nhân tố có
tính chất bao quát vào bảng hỏi của mình. Cụ thể, các nhân tố này gồm:
-
Cơ sở vật chất tại điểm di tích
Cảnh quan môi trường
Nhân viên phục vụ
Hoạt động tại di tích
An ninh, an toàn.
1.4. Vai trò của việc thu hút khách tham quan đến với Đại Nội Huế
Số liệu: Trung tâm bảo tôn di tích Cố Đô Huế, 2015
Những năm gần đây lượt khách nội địa đến Huế từ năm 2012 đến năm
2015 có sự gia tăng. Tuy nhiên số lượng khách tăng giữa các năm chậm và từ
2014 đến 2015 có chậm lại do nhiều yếu tố.
Năm 2015 số lượt khách đến Huế giảm so với năm 2014 do khủng hoảng
kinh tế và tình hình dịch bệnh. Tuy nhiên vào những năm Huế tổ chức Festival
thì lượng khách du lịch nôi địa tăng lên đáng kể.
Đại Nội Huế được vua Gia Long tiền hành khảo sát từ năm 1803, khởi công
xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng, gồm có
Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có
chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng của triều đình, các miếu thờ tổ tiên
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành - nơi giành riêng cho vua và hoàng gia. Thu
hút đông đảo nhiều tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh, các đồng chí lãnh đạo
Đảng và Nhà nước, các Bộ, ngành, các đoàn ngoại giao và các đoàn khách quốc tế
ghé thăm. Hằng năm Đại Nội Huế đón trên 300.000 lượt khách nội địa, lượt khách
tăng qua các năm.
B. CƠ SỞ THỰC TIỂN
1. Kinh nghiệm thu hút khách du lịch thông qua lọai hình du lịch văn
hóa
* Kinh nghiệm trong nước
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành
Công tác bảo tồn cần được chú trọng, điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng để đưa ra
các biện pháp tốt nhất, vừa bảo đảm giữ gìn các di sản văn hóa vừa khai thác
hiệu quả du lịch tối ưu. Duy trì chất lượng của di sản văn hóa để thu hút khách du
-
lịch.
Nên có sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, người dân và các doanh
nghiệp trong công tác phục hồi, bảo tồn các di sản văn hóa, thuần phog mỹ tục,
tập quán và xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa của địa phương. Hơn nữa,
cần huy động được sự tham gia của nhân trong việc giữ gìn và phát huy văn
hóa, các phong tục, tập quán và nét đẹp văn hóa của Huế được phát huy hết mọi
-
tinh hoa và ghi dấu trong long du khách.
Cần có sự đầu tư kỹ lưỡng vào cơ sở hạ tầng, dịch vụ du lịch để đáp ứng nhu
cầu của du khách. Khách du lịch đến với Huế không chỉ tham quan mà còn nghỉ
ngơi, tận hưởng các dịch vụ chất lượng cao. Tỉnh Thừa Thiên Huế cần đầu tư để
cải thiện hệ thống giao thông, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, khu
-
mua sắm, dịch vụ công cộng…
Gắn liền văn hóa vào sản phẩm du lịch. Sản phẩm văn hóa chính là cái tạo ra sự
khác biệt giữa các vùng miền trên đất nước. Vì vậy, Huế cần có những biện
pháp để chỉ ra được nét đặc trưng của văn hóa Huế vào các sản phẩm du lịch ở
-
Xuân trong những năm 1687 - 1712; 1739 - 1774. Đến thời Tây Sơn, Huế vẫn
được vua Quang Trung chọn làm thành kinh đô cho vương quốc của ông. Năm
1802, khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn
kéo dài suốt 143 năm, một lần nữa lại chọn Huế làm nơi đóng đô.
1.1.2. Chức năng của Đại Nội Huế
Hoàng thành nằm bên trong Kinh thành, có chức năng bảo vệ các cung
điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiền nhà Nguyễn và bảo vệ
Tử Cấm Thành - nơi giành riêng cho vua và hoàng gia.
1.2. Vài nét về Đại Nội Huế
1.2.1. Sự hình thành Đại Nội Huế
Đại Nội Huế được vua Gia Long tiền hành khảo sát từ năm 1803, khởi
công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng,
toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình.
1.2.2. Lịch sử xây dựng Đại Nội Huế
Kinh thành huế được xây dựng theo kiến trúc Vauban. Kinh thành Huế có
ba vòng thành lần lượt là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm Thành. Kinh
thành Huế được đích thân Gia Long chọn vị trí và cắm mốc, tiến hành khảo sát
từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chình vào năm 1833 dưới
triều vua Minh Mạng. Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng
Kinh Thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người
tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc
SVTH: Hoàng Thị Mai Sương
Lớp: K46-HDDL