ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
----
NIÊN LUẬN
Đề tài:
CÁC VỤ KIỆN VI PHẠM NGUYÊN TẮC ĐÃI NGỘ
QUỐC GIA TRONG WTO, BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: HOÀNG THỊ HOA THÀNH
THỪA THIÊN HUẾ, 06/2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
----
NIÊN LUẬN
KHÓA 37
Đề tài:
CÁC VỤ KIỆN VI PHẠM NGUYÊN TẮC ĐÃI NGỘ
QUỐC GIA TRONG WTO, BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS.VŨ THỊ HƯƠNG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DSB: Cơ quan giải quyết tranh chấp
GATS: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
GATT: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
LPOM: Tổ chức Tiếp thị sản phẩm gia cầm
MFN: Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc
NT: Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
SBS: Hệ thống Phát sóng Seoul
SCM: Hiệp định SCM về Trợ cấp và Biện pháp đối kháng
TRIPS: Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
6
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nước ta đang bước vào “sân chơi” toàn cầu, sự vận hành của nền kinh tế
tuân theo các quy luật của nền kinh tế như quy luật cung cầu, quy luật cạnh
tranh và quy luật giá trị. Sự can thiệp của Nhà nước dần bị loại bỏ, việc Nhà
nước giúp sức cho doanh nghiệp nội địa là hành vi vi phạm các cam kết khi
tham gia các tổ chức quốc tế, điều ước quốc tế. Việc một Nhà nước hay Chính
phủ sử dụng công cụ hành chính để can thiệp vào thị trường sẽ là căn cứ để
các quốc gia khác khởi kiện. Để tận dụng các ưu thế của việc tham gia “sân
chơi” quốc tế, mỗi một quốc gia đều phải tôn trọng quyền lợi, các cam kết của
mình. Các quốc gia phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc trong pháp luật
thương mại quốc tế, đặc biệt là nhóm nguyên tắc về phân biệt đối xử. Mọi
đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Với tầm quan sát và đúc kết thực tiễn còn giới hạn
ở vị trí là một sinh viên, bài niên luận chỉ tham khảo và phân tích một số tài
liệu liên quan đến các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia trong thương mại quốc tế, kết hợp một số vụ
kiện thực tế từ đó đưa ra một số kết luận để hoàn thiện bài niên luận.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu bài niên luận đã sử dụng dựa trên sự kết hợp
của các phương pháp sau:
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở thu thập, tổng hợp thông tin từ các tài liệu trang web uy tín để
có cách nhìn tổng quát về đề tài. Sau đó sử dụng phương pháp diễn dịch và
phân tích để đưa ra những kết luận. Trong đề tài dựa trên quan điểm, cách
nhìn nhận vấn đề của cá nhân.
5. Kết cấu niên luận
Bài niên luận gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về lý luận về nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia
Chương 2: Một số vụ kiện trong WTO vi phạm nguyên tắc Đãi ngộ quốc
gia, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
8
B. NỘI DUNG
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC ĐÃI NGỘ
QUỐC GIA
1.1 Khái quát về nguyên tắc đãi ngộ quốc gia trong WTO
Trên nền tảng của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(General Agreement on Tariffs and - GATT 1947) thì Tổ chức Thương mại
Trong quan hệ thương mại quốc tế, nguyên tắc NT là bộ phận không
thể thiếu trong các thỏa thuận song phương, đa phương. Đãi ngộ quốc gia là
nguyên tắc cấm các bên phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu và hàng sản
xuất trong nước đối với thuế nội bộ hoặc các quy định khác của Chính phủ.
1.1.2 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia trong một số Hiệp định của WTO
1.1.2.1 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia trong Hiệp định GATT
Nguyên tắc NT được các Hiệp định song phương, đa phương quy định
nhưng vai trò của nó được khẳng định khi nó được quy định là một trong các
nguyên tắc hàng đầu của GATT 1947 và là một bộ phận cấu thành quan trọng
của WTO, sau đó được quy định mới trong GATT 1994.
Theo quy định của GATT thì nguyên tắc NT được coi là những quy tắc
cư xử mà nước sở tại phải thực hiện dành cho hàng hóa, dịch vụ hay cho
thương nhân nước ngoài đã vào sâu thị trường nội địa, vì vậy phạm vi áp
dụng cho nguyên tắc này là các biện pháp nội địa. Điều III của Hiệp định
GATT 1994 quy định rõ các biện pháp áp dụng cho nguyên tắc NT:
-
Thuế là lệ phí trong nước (điều III:1,2): (i) đối với hàng hóa nhập khẩu, hàng
hóa các nước thành viên không được phải chịu thuế hay lệ phí cao hơn hàng
hóa nội địa cùng loại, (ii) các nước thành viên không được phép áp dụng thuế
hay lệ phí trong nước đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa nội địa để
-
bảo hộ nền sản xuất nội địa.
Vấn đề mua bán hàng hóa (điều III:4) các quy định của pháp luật liên quan
đến bán hàng, chào hàng, chào bán, mua, chuyên chở, phân phối hoặc sử dụng
không được phân biệt đối xử kém thuận lợi hơn so với các sản phẩm có xuất
-
thiểu trong tổng số thời gian thực trình chiếu phim với mục đích thương mại từ
mọi xuất xứ trong một thời kỳ không dưới một năm, và sẽ tính trên cơ sở thời
(iii)
gian thực chiếu mỗi năm hoặc tương ứng tính theo từng rạp;
Quy định về vấn đề mua sắm Chính phủ tại điều III:8(a) các quy định của
Điều khoản này sẽ không áp dụng với việc các cơ quan Chính phủ mua sắm
nhằm mục đích cho tiêu dùng của Chính phủ chứ không phải để bán lại nhằm
mục đích thương mại hay đưa vào sản xuất nhằm mục đích thương mại.
1.1.2.2 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia trong Hiệp định GATS
Trong quan hệ thương mại quốc tế thì nguyên tắc NT không chỉ điều
chỉnh các quan hệ thương mại trong lĩnh vực hàng hóa mà còn điều chỉnh
trong lĩnh vực dịch vụ. GATS quy định: "Trong thương mại dịch vụ, các nước
phải dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp của nước khác thuộc lĩnh vực
11
ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào danh mục cam kết cụ thể của mình
những ưu đãi không kém hơn những ưu đãi nước đó dành cho dịch vụ và nhà
cung cấp nước mình.
Nếu trong thương mại hàng hóa là cam kết chung thì trong thương mại
dịch vụ là cam kết cụ thể. Tức là mỗi quốc gia sẽ có cam kết cụ thể về đối xử
quốc gia đối với từng phương thức cung cấp dịch vụ của từng phân ngành
dịch vụ. Các quy định thuộc phạm vi áp dụng nguyên tắc NT trong thương
mại dịch vụ: điều kiện đối với nhà cung cấp dịch vụ muốn cung cấp dịch vụ
tại nước sở tại; phạm vi hoạt động của nhà cung cấp dịch vụ khi đã được phép
cung cấp dịch vụ tại nước sở tại.
Trong lĩnh vực về thương mại quốc tế về dịch vụ thì GATS cũng dành
cho các bên những ngoại lệ nhất định. GATS không quy định các thành viên
Đối với quy định về cấp Patent cũng có các quy định ngoại lệ khi cấp
Patent, nó được quy định rõ ở điều 30: “Các thành viên có thể quy định một
số ngoại lệ nhất định đối với các độc quyền được cấp trên cở sở Patent với
điều kiện là các ngoại lệ đó không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường
Patent đó và không làm tổn hại một cách bất hợp lý tới lợi ích hợp pháp của
chủ sở hữu Patent và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba.”
Ngoài ra còn một số quy định khác, mục đích của các quy định ngoại lệ
này giúp cho các chủ thể (đặc biệt là những quốc gia đang phát triển) bảo vệ
lợi ích của các bên khi tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế liên quan
đến đối tượng là quyền sở hữu trí tuệ. Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề quyền
sở hữu trí tuệ được các bên quan tâm, có thể nói là đây là đối tượng trong
chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp khi tham gia vào quan hệ thương
mại quốc tế.
1.1.3 Phân biệt nguyên tắc đối xử tối huệ quốc với nguyên tắc đãi ngộ
quốc gia
Cũng như các ngành luật khác, quan hệ thương mại quốc tế được Luật
thương mại quốc tế điều chỉnh. Để cho các hoạt động của các chủ thể trong
quan hệ thương mại được diễn ra thường xuyên, ổn định thì cần các quy tắc
cơ bản của ngành luật đó điều chỉnh. Không là ngoại lệ, trong quan hệ thương
mại quốc tế được hai nguyên tắc cơ bản này điều chỉnh, giữa hai nguyên tắc
13
có nhiều điểm tương đồng như: về vị trí thì hai nguyên tắc này là hai nguyên
tắc nền tảng của Luật quốc tế; mục đích của hai nguyên tắc là hướng tới thực
hiện mục tiêu không phân biệt đối xử và tự do hóa thương mại, phá bỏ những
rào cản giữa các nước thành viên nhằm nâng cao đời sống, tăng việc làm, đảm
bảo tự do; cả hai nguyên tắc đều được các điều ước quốc tế ghi nhận và đảm
bảo thực hiện trong các Hiệp định GATT, GATS, TRIPS, và cuối cùng là tạo
điều kiện tốt nhất cho người tiêu dùng được sử dụng các loại sản phẩm phong
khoản tiền trợ cấp với người sản xuất trong nước, phân bổ thời gian chiếu
phim trong nước và chiếu phim nước ngoài, mua sắm Chính phủ, các khoản
chi phí, viện trợ trong nước được tính trên cơ sở các hoạt động mang tính kinh
tế của phương tiện vận tải.
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
Để đảm bảo thực thi các điều ước quốc tế đã tham gia, tận dụng tối đa các
lợi ích mà các điều ước đó mang lại thì nội dung các điều ước phải được nội hóa
thành các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong nước. Các
quy định đó được áp dụng trong thực tế một cách trực tiếp hay gián tiếp thì mục
đích cuối cũng là thu được những lợi ích tốt nhất từ việc gia nhập, tham gia các
điều ước quốc tế và hội nhập kinh tế với nền kinh tế thế giới.
1.2.1 Các văn bản pháp luật quy định về nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
Pháp luật Việt Nam về nguyên tắc NT và nguyên tắc MFN gồm các văn
bản sau đây:
- Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 41/2002/PLUBTVQH10 25/5/2002 về đối xử tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia trong
thương mại quốc tế (Pháp lệnh MFN, NT).
- Quy định về MFN và NT trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam và
các Hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết
(theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế, các nguyên tắc thừa nhận
trong các văn bản này sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp có mâu thuẫn
giữa các văn bản này với các quy định của pháp luật nội địa của Việt Nam).
1.2.2 Nội dung pháp luật quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên
tắc đãi ngộ quốc gia
Xuyên suốt tất cả các Hiệp định mà nước ta đã tham gia và ký kết luôn
đề cao các nguyên tắc của pháp luật quốc tế thể hiện tinh thần tôn trọng pháp
15
luật quốc tế đồng thời bảo vệ và phát huy các ưu thế của các Hiệp định để
phát triển kinh tế trong nước. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được Việt Nam tôn
nhất, nội hàm các quy định chưa được hiểu nhất quán, các chủ thể có các cách
hiểu khác nhau dẫn đến những hành vi vi phạm. Ví dụ như những quy định về
sản phẩm tương tự hay các biện pháp phòng vệ được các chủ thể hiểu và vận
dụng khác nhau hoặc các quy định chưa được giải thích đầy đủ và thừa nhận
trong tất cả các điều khoản liên quan. Vì thế, các chủ thể thực hiện không
thống nhất và có các hành vi vi phạm gây nên các vụ kiện ảnh hưởng đến
quan hệ thương mại giữa các nước với nhau.
Khái niệm “sản phẩm tương tự” có nội hàm khác nhau giữa các điều luật
trong quy định của GATT 1994 và các hiệp ước quy định cụ thể các điều
khoản của GATT đã gây nên những vụ tranh chấp. Vì thế, pháp luật Việt Nam
nên quy định thống nhất nội hàm của khái niệm “sản phẩm tương tự” trong tất
cả các quy định liên quan một cách đầy đủ hơn, chi tiết hơn để tránh các cách
hiểu, cách giải thích khác nhau về vấn đề này.
Tóm lại, nếu các quốc gia tham gia hay ký kết các Điều ước quốc tế có
liên quan đến nguyên tắc NT thì các quốc gia bị thiệt hại có quyền khởi kiện
đến WTO về hành vi vi phạm pháp luật quốc tế trong lĩnh vực thương mại
tương ứng. Khi xảy ra một tranh chấp trong WTO thì các bên phải tuân thủ cơ
chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên các nguyên tắc sau
đây: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên
tranh chấp, phù hợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa vụ, phù hợp
với các điều ước quốc tế trong lĩnh vực thương mại có liên quan dựa trên các
quy phạm của tập quán thương mại quốc tế về việc giải thích các điều ước
quốc tế. Ngoài ra, khi giải quyết các tranh chấp trong WTO thì các bên còn áp
dụng được các quy định trong GATT 1947 khi tiến hành giải quyết tranh
chấp, đây là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng về vấn đề tồn tại hệ thống
thương mại toàn cầu là nguyên tắc “cấm đơn phương áp dụng các biện pháp
trả đũa” khi chưa được phép của WTO.
17
Bên bị kiện: Hàn Quốc
Bên thứ 3: Australia, Canada, New Ziland
18
Cuối những năm 90 của thế kỉ XX, Hàn Quốc thực thi việc nhập khẩu,
phân phối và bán thịt bò để bình ổn chính sách theo Luật về Phân phối và
Bình ổn giá sản phẩm nông nghiệp và thủy sản và Luật gia cầm. Việc thực thi
chính sách mới của Bộ Nông nghiệp và thủy sản đã xuất hiện một hệ thống
bán lẻ kép về loại sản phẩm là thịt bò nhập khẩu và nội địa. Hệ thống này bao
gồm các cửa hàng riêng biệt cho thịt bò nhập khẩu và thịt bò trong nước. Các
loại thịt bò nhập khẩu chỉ có thể được bán trong các của hàng thịt bò nhập
khẩu đặc biệt, trừ thịt bò nhập khẩu đã được đóng gói trước. Không chỉ thế,
thị bò nhập khẩu không được bán tại khoảng 45.000 cửa hàng bán lẻ, các nhà
phân phối có quy mô lớn như các siêu thị và khi bán thịt bò nhập khẩu cần
phải có một khu vực riêng dành cho thịt bò nhập khẩu và phải treo biển “Cửa
hàng chuyên bán thịt bò nhập khẩu”.
Trước những hành vi nêu trên, Hoa Kỳ đã yêu cầu tham vấn Hàn Quốc
về việc Hàn Quốc phân biệt đối xử với thịt bò nhập khẩu với thịt bò nội địa
khi hạn chế việc bán thịt bò nhập khẩu tại các cửa hàng chuyên biệt (hệ thống
bán lẻ kép), hạn chế cách thức trưng bày hàng bán và các biện pháp khác
nhằm hạn chế cơ hội bán hàng của thịt bò nhập khẩu. Hoa Kỳ cho rằng các
hành vi của Hàn Quốc đã vi phạm Hiệp định về nông nghiệp khi hạn chế nhập
khẩu thịt bò và trợ cấp cho ngành công nghiệp chăn nuôi nội địa. Bằng lập
luận của mình, Hoa Kỳ đã khẳng định Hàn Quốc đã vi phạm các điều II, III,
XI và điều XVII của GATT 1994, điều 3, 4, 6, 7 của Hiệp định về nông
nghiệp và điều 1, 3 của Hiệp định nhượng quyền nhập khẩu.
Ngày 01/02/1999, Hòa Kỳ đã yêu cầu tham vấn Hàn Quốc về vấn đề
này. Ngày 13/04/1999, Australia yêu cầu tham vấn với Hàn Quốc về vấn đề
nhập khẩu và việc quản lý hạn ngạch nhập khẩu thịt bò của Hàn Quốc. Hoa
Kỳ và Australia đã khiếu nại hệ thống bán lẻ kép của Hàn Quốc đã phân biệt
thịt bò nhập khẩu và nội địa và các quy định theo điều III:4 của GATT 1994.
Hoa Kỳ và Australia phản đối việc quản lý hạn ngạch nhập khẩu thịt bò của
LPMO trên cơ sở lập luận chúng vi phạm Điều XI:1 và XVII của GATT 1994.
Hàn Quốc bảo vệ các biện pháp của mình với lập luận họ không vi phạm các
nghĩa vụ này của GATT và cho rằng nếu hệ thống bán lẻ kép và các biện pháp
quản lý liên quan vi phạm điều III:4 của GATT 1994 thì chúng được cho phép
theo ngoại lệ của điều XX(d) của GATT 1994.
20
2.1.1.3 Các vấn đề trong vụ kiện tranh chấp thịt bò nhập khẩu và việc
quản lý hạn ngạch nhập khẩu thịt bò của Hàn Quốc
Từ các quan điểm của các bên thì các vấn đề đặt ra cho cơ quan giải
quyết: (i) Liệu hệ thống bán lẻ kép của Hàn Quốc và biện pháp liên quan có vi
phạm điều XI:1 của GATT 1994 với việc phân biệt đối xử giữa thịt bò trong
nước với thịt bò nhập khẩu hay không? (ii) Nếu hệ thống bán lẻ kép của Hàn
Quốc vi phạm điều XI:1 của GATT 1994, liệu điều này có được phép theo
ngoại lệ điều XX(d) của GATT 1994 hay không? (iii) Liệu LPMO của Hàn
Quốc có xử sự nhất quán với các nghĩa vụ đặt ra cho một Doanh nghiệp
Thương mại nhà nước (STE) như yêu cầu của Điều XVII của GATT 1994 hay
không? (iv) Liệu IPMO có đặt ra các hạn chế thiếu nhất quán với điều XI:1
của GATT 1994 hay không?
2.1.1.4 Lập luận của các bên và kết quả
Hoa Kỳ và các nước thứ ba đều cho rằng việc Hàn Quốc sử dụng hệ
thống bán lẻ kép và các biện pháp tiếp thị liên quan mà phía Hàn Quốc cho là
để ngăn chặn hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã vi phạm điều III:4 của
GATT 1994, hành vi này thực chất là dành nhiều ưu đãi cho thịt bò trong
nước. Hành vi nêu trên của Hàn Quốc đã được GATT quy định và Hàn Quốc
thịt bò nhập khẩu là “sản phẩm tương tự” của nhau (vấn đề này được hai bên
đồng ý, không bên nào có quan điểm khác), việc phân biệt của Hàn Quốc được
thực hiện thông qua các quy định trong nước cụ thể là việc thực thi Luật về
Phân phối và Bình ổn giá sản phẩm nông nghiệp và thủy sản và Luật Gia cầm.
Vấn đề tiếp theo cần chứng minh là các hành vi của Hàn Quốc đã tạo sự phân
biệt đối xử giữa thịt bò trong nước với thịt bò nhập khẩu. Các nước khởi kiện
đưa ra lập luận dựa vào hệ thống cửa hàng bán lẻ kép đã loại thịt bò nhập khẩu
ra khỏi hệ thống bán lẻ thông thường, việc các cửa hàng bán thịt bò nhập khẩu
bị nằm ở các khu vực chuyên biệt hay việc các cửa hàng treo các biển ghi chú
bán sản phẩm nhập khẩu đã tước bỏ cơ hội cạnh tranh với sản phẩm trong
nước. Ngoài ra, Hàn Quốc đã khiến người tiêu dùng bị hạn chế khả năng so
sánh các sản phẩm trong nước với nhập khẩu về giá cả, chất lượng, từ đó tạo ra
sự phân biệt sản phẩm trong nhận thức người tiêu dùng. Ngoài ra, trên thị
trường Hàn Quốc có nhiều sản phẩm có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh
nhưng Hàn Quốc chỉ áp dụng hệ thống cửa hàng bán lẻ kép cho thịt bò nhập
22
khẩu. Mục đích của điều III:4 là hướng tới các sản phẩm nhập khẩu tiếp cận thị
trường nội địa một cách hiệu quả và các sản phẩm này được dành các cơ hội thị
trường tương tự như các sản phẩm trong nước. Với hành vi phân biệt qua hệ
thống phân phối và cách thức trưng bày thì thịt bò nhập khẩu đã bị tước bỏ các
lợi ích cần thiết theo quy định tại điều III:4 của GATT 1994.
Từ những lập luận, chứng cứ mà các bên tranh chấp cung cấp, Ban hội
thẩm quyết định rằng: Hàn Quốc đã có những hành vi vi phạm, các quy định
của Hàn Quốc là trái với quy định của điều III:4; còn vấn đề hạn ngạch nhập
khẩu mà Hàn Quốc cho rằng là hành vi nhất quán với WTO thì Ban hội thẩm
khẳng định sự tồn tại của nó không liên quan đến hệ thống bán lẻ kép, là vi
phạm điều III:4, hệ thống bán lẻ kép cần tôn trọng các quy định của WTO đặc
biệt trong vụ kiện này là điều III:4 của GATT 1994.
WTO, thì không riêng các nước phát triển mà ngay cả các nước đang phát
triển cũng bị kiện về các tranh chấp thương mại. Như vậy, yêu cầu hàng đầu
đặt ra tính công bằng khi giải quyết các vụ kiện tranh chấp cần được ưu tiên
để giúp các nước đang phát triển giảm thiểu tác động tiêu cực sau vụ kiện.
Trong quy định của Luật quốc tế nói chung hay trong WTO nói riêng, các
nước đang phát triển có thể sử dụng một số đặc quyền để việc tham gia các
“sân chơi” quốc tế tránh khỏi các tác động tiêu cực nhất có thể.
Một trong các nước đang phát triển dính vào một vụ kiện với các nước
phát triển hàng đầu thế giới là vụ kiện giữa Inđônsia với các nước Hoa Kỳ,
Ấn Độ, EU, Hàn Quốc về các biện pháp thuế và thuế quan cho loại hàng hóa
là ô tô.
2.1.2.1 Quan điểm của các bên tranh chấp
Các bên trong tranh chấp về các biện pháp thuế và thuế quan của các nhà
sản xuất ô tô vào thị trường Inđônêsia:
-
Bên khởi kiện: Cộng đồng Châu Âu
Bên bị khởi kiện: Inđônêsia
Bên thứ ba: Hoa Kỳ, Ấn Độ, Hàn Quốc
Để bảo vệ nền sản xuất ô tô nội địa còn non yếu, Inđônêsia đã thực hiện
hai chính sách ưu đãi cho nền sản xuất nội địa là Hệ thống ưu đãi 1993 được
sửa đổi 2 lần là vào năm 1995 và năm 1996 và Chương trình Ô tô quốc gia.
Để thực thi hiệu quả của chính sách khuyến khích phát triển nền sản xuất ô tô
24
nội địa, Inđônêsia đã sử dụng các biện pháp thuế và thuế quan để bảo vệ nền
sản xuất nội địa của mình. Cụ thể là: các loại ô tô nhập khẩu nguyên chiếc
(lắp ráp hoàn chỉnh) nhập khẩu vào thị trường nội địa Inđônêsia sẽ chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt là 35% và các loại thuế nhập khẩu là lên đến 200% (phụ