TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
-------------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG MỸ TRONG THỜI GIAN QUA VÀ BÀI HỌC
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện
Lớp
Khóa
: Phạm Thu Liên
: Nhật 2
: 44E
Giáo viên hướng dẫn
: cô Lê Thị Thanh
Hà Nội - 05/2009
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
STT
TÊN
KỲ
BONG
BÓNG
THỊ
42
TRƯỜNG NHÀ Ở
SƠ ĐỒ
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng truyền thống của
63
các NHTM VN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT ĐỦ
1
NHNNVN
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
7
NHTMNN
Ngân hàng thương mại nhà nước
8
TT – GS
Thanh tra – giám sát
9
BĐS
Bất động sản
10
BHTG
Bảo hiểm tiền gửi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới trong thời gian vừa qua đã và đang tiếp tục
gây ra những tổn thất nặng nề cho hệ thống tài chính toàn cầu. Hàng loạt định chế
Mục đích của đề tài là thông qua việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ
hệ thống ngân hàng Mỹ trong cuộc khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua, và dựa trên
thực trạng những rủi ro mà các ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt, để từ đó rút ra
bài học kinh nghiệm, giúp xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh, phát triển bền
vững, và đóng góp ngày một tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nƣớc.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu : nguyên nhân đổ vỡ của các ngân hàng Mỹ trong cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua. Trong đó đề cập nguyên nhân khách quan
là các chính sách sai lầm của chính phủ Mỹ và nguyên nhân chủ quan là những yếu
kém trong công tác quản trị rủi ro của bản thân các ngân hàng, nhấn mạnh đến quản
trị rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản.
- Phạm vi nghiên cứu : hệ thống ngân hàng Mỹ trong cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới vừa qua, tính từ tháng 8/2007 đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phƣơng pháp phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh, mô tả và khái
quát hóa đối tƣợng nghiên cứu dựa trên những tài liệu thu thập đƣợc và kiến thức
của bản thân ngƣời viết. Các phƣơng pháp này đƣợc kết hợp chặt chẽ với nhau để
đƣa ra các kết luận của đề tài.
5. Kết cấu của khóa luận : Khóa luận gồm 3 chƣơng:
Chƣơng I: Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng ngân hàng
Chƣơng II: Nguyên nhân khủng hoảng của các ngân hàng Mỹ và một số bài học
Chƣơng III: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Lê Thị Thanh, giảng viên
Khoa Tài chính – Ngân hàng, trƣờng Đại học Ngoại thƣơng, vì những giúp đỡ và
chỉnh sửa của cô trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
2
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHỦNG HOẢNG
NGÂN HÀNG
2. Nguyên nhân
Kinh doanh ngân hàng là một hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro hơn các hoạt
động kinh tế khác. Bản chất của nghiệp vụ ngân hàng là trung gian tín dụng, tức là
đi vay để cho vay. Nhƣng hoạt động này đòi hỏi sự đánh đổi giữa lãi thu đƣợc khi
cho vay để trả lãi suất cho những ngƣời gửi tiền và chi phí cho nghiệp vụ ngân
hàng, với khả năng chi trả tức thời khi khách hàng rút tiền nhằm tránh đổ vỡ lòng
tin, gây ra đột biến rút tiền gửi và nguy cơ phá sản ngân hàng. Đó là bài toán mà bất
cứ vị giám đốc ngân hàng nào cũng phải quan tâm giải quyết hàng ngày.
Trên thực tế, không một ngân hàng nào tránh đƣợc rủi ro trong quá trình kinh
doanh do những nguyên nhân khách quan và chủ quan đem lại. Những rủi ro khách
quan nhƣ động đất, bão lụt, chiến tranh, những đợt khủng hoảng kinh tế, tiền tệ, tín
dụng,…lớn trên thế giới, gây nên rủi ro hệ thống thì không thể nào tránh đƣợc. Còn
những rủi ro do chủ quan ngân hàng gây ra nhƣ yếu kém trong hoạt động quản trị
ngân hàng, gây mất niềm tin, dễ xảy ra tình trạng rút tiền ồ ạt của dân cƣ, có thể đƣa
đến sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng.
2.1. Nguyên nhân khách quan
2.1.1. Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
a. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng không thu đƣợc
đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi
không đúng kỳ hạn. Còn trong trƣờng hợp ngƣời vay tiền phá sản, việc thu hồi gốc
và lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó ngân hàng có thể gặp rủi ro tín
dụng.
Rủi ro tín dụng đƣợc bắt nguồn từ việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng,
đồng thời nắm giữ các giấy nhận nợ do con nợ phát hành với sự cam kết là sẽ thanh
toán cả gốc lẫn lãi đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng. Trái phiếu coupon có thu
nhập cố định và giấy nhận nợ tín dụng đối với ngân hàng là hai ví dụ điển hình về
giấy nhận nợ do công ty phát hành. Trong cả hai trƣờng hợp, ngân hàng đều đầu tƣ
vào các giấy nhận nợ nhằm nhận đƣợc trái tức từ trái phiếu hay lãi suất từ khoản tín
phó với rủi ro thanh khoản sẽ phải đối mặt với rủi ro phá sản.
c. Các loại rủi ro khác
Ngoài hai loại rủi ro trên, hoạt động kinh doanh ngân hàng còn phải đối mặt với
các loại rủi ro khác nhƣ:
- Rủi ro lãi suất
- Rủi ro ngoại hối
- Rủi ro hoạt động ngoại bảng
- Rủi ro công nghệ và hoạt động
5
Chƣơng I: Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng ngân hàng
- Rủi ro quốc gia…
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của ngƣời viết, chủ yếu chỉ có rủi ro tín dụng và rủi ro
thanh khoản là có liên quan trực tiếp đến đối tƣợng nghiên cứu của khóa luận, nên
ngƣời viết xin phép không trình bày kỹ hơn về các loại rủi ro còn lại đối với hoạt
động kinh doanh ngân hàng.
2.1.2. Chính sách của chính phủ
Chính phủ mà đại diện là ngân hàng trung ƣơng (NHTW) nắm trong tay công cụ
quan trọng để điều tiết hoạt động của hệ thống tài chính nói chung và các ngân hàng
nói riêng, đó là chính sách tiền tệ. Chính sách tiền tệ giải quyết khả năng thanh toán
cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lƣợng tiền cung ứng
cho lƣu thông; điều khiển hệ thống tiền tệ và tín dụng đáp ứng vốn cho hoạt động
kinh tế; tạo điều kiện thúc đẩy thị trƣờng tiền tệ, thị trƣờng vốn theo những mục tiêu
đề ra; kiểm soát hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) và các tổ chức
tín dụng khác; cùng với việc xác định tỷ giá hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩy kinh
tế đối ngoại; hƣớng tới mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của
đồng tiền, ổn định giá cả. Thông qua các quy định về cơ chế lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt
chi phí, thu hẹp sản xuất; còn những ngƣời vẫn có việc làm thì sẽ giảm bớt thu nhập
do bị cắt giảm thƣởng, phụ cấp…làm cho tổng thu nhập xã hội giảm, kéo theo sẽ là
giảm tổng cầu. Ngoài ra, sự phá sản của ngân hàng luôn có hiệu ứng lây lan và
mang tính dây chuyền. Việc một ngân hàng đổ vỡ có thể khiến ngƣời gửi tiền nghi
ngờ về sự ổn định và khả năng thanh toán của toàn hệ thống ngân hàng nói chung
và có thể tạo ra sự náo loạn trong xã hội, gây mất ổn định trật tự, an ninh xã hội.
II. CÁC QUI CHẾ NHẰM ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG KINH DOANH
NGÂN HÀNG
Do hậu quả từ việc phá sản ngân hàng đến nền kinh tế là rất nặng nề, cho nên
hoạt động kinh doanh ngân hàng phải đƣợc điều chỉnh bằng luật định. Nhìn chung,
có sáu loại qui chế nhằm đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng và nâng cao
hiệu quả kinh tế - xã hội từ các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
1. Qui chế về an toàn trong hoạt động kinh doanh
Để bảo vệ ngƣời gửi tiền và ngƣời vay tiền trong trƣờng hợp ngân hàng phá sản,
những nhà định chế áp dụng các qui định nhằm đảm bảo an toàn trong kinh doanh
ngân hàng bằng một cơ chế bao gồm nhiều vòng. Ví dụ ở Úc, vòng một của cơ chế
bảo vệ là qui định việc đa dạng hóa danh mục đầu tƣ của ngân hàng. Theo đó, các
ngân hàng Úc không đƣợc cho vay quá 30% vốn tự có của mình đối với bất cứ một
khách hàng nào và những trƣờng hợp cho vay một khách hàng từ 10% vốn tự có trở
lên đều phải báo cáo cho Ngân hàng dự trữ của Úc (RBA - Reserve Bank of
7
Chƣơng I: Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng ngân hàng
Autralia). Vòng hai là điều khoản về “van an toàn” đƣợc qui định dƣới dạng tái
chiết khấu. RBA sẽ trực tiếp và ngay lập tức tái cấp vốn cho ngân hàng nhằm đảm
bảo khả năng thanh toán thông qua việc mua lại các giấy tờ có giá mà ngân hàng
nắm giữ. Vòng ba là các qui định buộc ngân hàng tự theo dõi, giám sát hoạt động
của mình, bao gồm việc các ngân hàng lập các báo cáo tài chính và hệ thống quản
thông qua chính sách ƣu đãi về lãi suất. Việc qui định nhƣ vậy đã tạo nền tảng cho
sự công bằng xã hội, đặc biệt là tín dụng tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo,
tín dụng nhà ở…
4. Qui chế về bảo vệ khách hàng
Luật của hầu hết các quốc gia đều qui định ngân hàng không đƣợc công bố trong
hồ sơ tín dụng về các vấn đề cá nhân thuộc đời tƣ của khách hàng khi chƣa đƣợc
khách hàng đồng ý; và khách hàng có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp những
thông tin chi tiết về qui chế tín dụng, cũng nhƣ lý do từ chối cấp tín dụng của mình.
5. Qui chế về bảo vệ ngƣời đầu tƣ
Hầu hết các bộ luật đều có qui định về việc bảo vệ lợi ích của ngƣời đầu tƣ trong
những trƣờng hợp nhƣ giao dịch tay trong, bƣng bít thông tin, không minh bạch rõ
ràng, các hành động phân biệt đối xử trong đầu tƣ.
6. Qui chế về thành lập ngân hàng và cấp giấy phép kinh doanh
Việc thành lập các ngân hàng mới và cấp giấy phép kinh doanh phải đƣợc tuân
thủ theo quy chế. Việc tăng hay giảm các khoản phí để thành lập một ngân hàng
mới và cấp giấy phép kinh doanh có ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của các ngân
hàng mới thành lập cũng nhƣ các ngân hàng đang hoạt động. Xu hƣớng chung trong
tất cả các ngành, trong đó có ngành ngân hàng là muốn bảo vệ các công ty của mình
bằng cách đánh cao chi phí trực tiếp đối với việc thành lập ngân hàng mới (ví dụ
nhƣ qui định vốn pháp định tối thiểu thật cao) và đánh chi phí gián tiếp cao (ví dụ
hạn chế các pháp nhân và thể nhân đƣợc thành lập ngân hàng mới). Hơn nữa, phạm
vi hoạt động của từng ngân hàng đƣợc qui định cụ thể trong giấy phép kinh doanh
của ngân hàng đó. Nếu các lĩnh vực hoạt động trong giấy phép càng nhiều, thì chi
phí để xin cấp phép càng cao.
III. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ RỦI RO THANH
KHOẢN
1. Các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng
Các nhà kinh tế, các nhà phân tích ngân hàng đã sử dụng nhiều mô hình khác
nhau để đánh giá rủi ro tín dụng. Các mô hình này rất đa dạng, bao gồm các mô
hợp pháp của công ty. Một hợp đồng tín dụng đƣợc ký kết bởi ngƣời không đƣợc ủy
quyền có thể sẽ không thu hồi đƣợc nợ, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng.
Thu nhập của ngƣời vay: tiêu chí thu nhập của ngƣời vay tập trung vào câu
hỏi: ngƣời vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ hay không? Nhìn chung, ngƣời
vay có ba khả năng để tạo ra tiền, đó là: luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu
nhập; bán thanh lý tài sản; tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn.
Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân
10
Chƣơng I: Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng ngân hàng
hàng. Tuy nhiên, ngân hàng ƣu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn
thu đầu tiên và căn bản để trả nợ vay ngân hàng
Bảo đảm tiền vay: khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, phải tìm hiểu xem
ngƣời vay có sở hữu một giá trị hay tài sản nào có chất lƣợng để hỗ trợ cho khoản
vay hay không. Trong đó, phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm nhƣ tuổi
thọ, điều kiện, và mức độ chuyên dụng của tài sản ngƣời vay. Khía cạnh công nghệ
cũng phải đặc biệt chú ý, bởi vì nếu tài sản của ngƣời vay có công nghệ lạc hậu, thì
giá trị giảm rất nhiều và rất khó tìm đƣợc ngƣời mua trong khi công nghệ lại thay
đổi hàng ngày.
Các điều kiện: cán bộ tín dụng và nhà phân tích tín dụng cần phải biết đƣợc xu
hƣớng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của ngƣời vay, cũng nhƣ
khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến khoản tín dụng. Để
làm đƣợc điều này, hầu hết các ngân hàng đều duy trì các “phai” dữ liệu thông tin,
bao gồm các mẫu báo có liên quan, các bài tạp chí, và các báo cáo nghiên cứu.
Kiểm soát: tập trung vào những vấn đề nhƣ: Các thay đổi trong luật pháp và
quy chế có ảnh hƣởng xấu đến ngƣời vay hay không? Yêu cầu tín dụng của ngƣời
vay có đáp ứng đƣợc tiêu chuẩn của ngân hàng và của nhà quản lý về chất lƣợng tín
dụng hay không?
tài sản nào là đối tƣợng có thể gán nợ và có thể bán đƣợc, đồng thời phải chứng
minh đƣợc bằng văn bản cho các chủ nợ khác biết rằng mình là ngƣời hợp pháp có
quyền chiếm đoạt tài sản nếu nhƣ ngƣời vay không trả đƣợc nợ. Khi đã nhận tài sản
thế chấp, ngân hàng sẽ có vị thế ƣu tiên trong việc nhận gán nợ so với các chủ nợ
khác và ngay cả với chủ sở hữu.
Các loại bảo đảm tín dụng thông thƣờng:
Tài khoản phải thu: ngân hàng nhận bảo đảm tín dụng bằng việc quy định tỷ
lệ % (thông thƣờng từ 40 đến 90%) giá trị của tài khoản phải thu (bán hàng chịu,
hay tín dụng thƣơng mại) theo số liệu trên bảng cân đối kế toán. Khi khách hàng
của ngƣời vay thanh toán tiền hàng mua chịu, thì số tiền này đƣợc dùng để trả nợ
cho ngân hàng.
Bao thanh toán: ngân hàng có thể mua tài khoản phải thu của ngƣời vay theo
một tỷ lệ % nhất định theo giá trị ghi sổ. Tỷ lệ % này phụ thuộc vào chất lƣợng và
thời hạn của các khoản phải thu. Bởi vì ngân hàng đã mua khoản phải thu (chuyển
giao quyền sở hữu), nên ngân hàng sẽ thông báo cho khách hàng của ngƣời vay là
khoản tiền thanh toán mua hàng chịu sẽ trả trực tiếp cho ngân hàng. Thông thƣờng,
ngƣời vay phải cam kết với ngân hàng là sẽ bù đắp những khoản tiền phải thu
nhƣng thực tế không thu đƣợc.
12
Chƣơng I: Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng ngân hàng
Hàng tồn kho: để bảo đảm tín dụng, ngân hàng có thể nhận hàng tồn kho, vật
tƣ, nguyên liệu của ngƣời vay làm tài sản cầm cố. Thông thƣờng, ngân hàng chỉ cho
vay một tỷ lệ % nhất định (từ 30 đến 80%) trên giá trị thị trƣờng hiện hành của tài
sản cầm cố, nhằm phòng ngừa hàng hóa giảm giá. Tài sản cầm cố có thể do ngƣời
vay kiểm soát hoàn toàn, nhƣng giấy tờ sở hữu do ngân hàng nắm giữ; hoặc ngân
hàng là ngƣời nắm giữ tài sản cầm cố cho đến khi nào nợ đƣơc trả hoàn toàn.
Thế chấp tài sản cố định: các ngân hàng cũng có thể chấp nhận bảo đảm tín
Chất lƣợng và điều kiện của tài sản dùng làm đảm bảo tín dụng.
Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, đảm bảo rằng ngân hàng có
đầy đủ thẩm quyền hợp pháp để sở hữu các tài sản đảm bảo tín dụng đối với ngƣời
vay trƣớc tòa án nếu cần thiết.
Đánh giá điều kiện tài chính và những dự báo về ngƣời vay xem đã thay đổi
hay chƣa, trên cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng của ngƣời vay thay đổi nhƣ
thế nào.
Đánh giá xem khoản tín dụng có tuân thủ chính sách cho vay của ngân hàng
và các tiêu chuẩn do cơ quan quản lý đặt ra hay không.
c. Kiểm tra thƣờng xuyên các khoản tín dụng lớn, bởi vì nếu các khách hàng
quan trọng bị vỡ nợ sẽ ảnh hƣởng nghiêm trọng đến điều kiện tài chính của ngân
hàng.
d. Quản lý chặt chẽ và thƣờng xuyên các khoản tín dụng có vấn đề, tăng cƣờng
kiểm tra giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh liên quan đến
khoản tín dụng của ngân hàng.
e. Tăng cƣờng kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu hiện đi xuống,
hoặc những ngành nghề sử dụng nhiều tín dụng của ngân hàng có biểu hiện về
những vấn đề nghiêm trọng trong phát triển (ví dụ nhƣ xuất hiện các đối thủ cạnh
tranh mới, hay có sự áp dụng công nghệ mới đòi hỏi phải có sản phẩm mới và các
phƣơng pháp phân phối mới).
Kiểm tra tín dụng là công việc rất cần thiết để hình thành chính sách cho vay của
ngân hàng một cách lành mạnh. Kiểm tra tín dụng cũng giúp cho hội đồng quản trị
và ban giám đốc điều hành trong việc đánh giá toàn bộ rủi ro tiềm ẩn đối với ngân
hàng, từ đó đề ra các biện pháp phòng chống cũng nhƣ định hƣớng chính sách “quỹ
dự trữ bù đắp rủi ro” và chiến lƣợc tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong tƣơng
lai. Đồng thời, nó còn có tác dụng kiểm tra thƣờng xuyên xem cán bộ tín dụng có
chấp hành đúng chính sách cho vay của ngân hàng hay không.
1.1.3. Xử lý tín dụng có vấn đề
Cho dù hầu hết các ngân hàng đã xây dựng một cơ chế đảm bảo an toàn tín
dụng, nhƣng điều không thể tránh khỏi là có một số khoản tín dụng vẫn đƣợc thể
nợ có vấn đề, bao gồm cả việc thỏa thuận gia hạn nợ tạm thời nếu khách hàng chỉ
gặp khó khăn trƣớc mắt, hoặc tìm kiếm giải pháp nhằm tăng cƣờng lƣu chuyển tiền
tệ cho khách hàng. Các khả năng khác có thể là bổ sung tài sản bảo đảm tín dụng,
yêu cầu có bảo lãnh của ngƣời thứ ba, cơ cấu lại doanh nghiệp, sát nhập, hay thanh
lý công ty, nộp đơn xin phá sản. Giải pháp tối ƣu phải bảo đảm thu hồi đƣợc nợ,
đồng thời tạo cơ hội cho cả khách hàng và ngân hàng có thể duy trì đƣợc hoạt động
tiếp theo một cách bình thƣờng.
1.1.4. Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khách hàng
15
Chng I: Mt s vn c bn v khng hong ngõn hng
H thng ch tiờu ti chớnh dựng phõn tớch ỏnh giỏ tớn dng doanh nghip
c chia thnh bn nhúm nh sau:
a. Nhúm ch tiờu thanh khon (Liquidity ratios)
Ch tiờu thanh toỏn nhanh hay tc thi (Quick ratio): Nhỡn chung, trong hu
ht cỏc trng hp, doanh nghip khụng th chuyn ngay lp tc ton b ti sn lu
ng thnh tin, do ú, o lng kh nng thanh khon tc thi ca doanh
nghip, tc kh nng chuyn ti sn lu ng thnh tin mt cỏch nhanh chúng,
ngi ta s dng ch tiờu thanh toỏn nhanh theo mt trong hai cỏch sau:
Ch tiờu thanh toỏn tc thi =
hoc
Ch
Các tài sản l-u động chuyển thành tiền tức thời
Nợ ngắn hạn
Vn lu ng = Ti sn lu ng N ngn hn
Nh vy, vn lu ng rũng (hay vn lu ng) l chờnh lch gia ti sn lu
ng v n ngn hn, do ú, xột v quan h tớn dng thỡ vn lu ng rũng chớnh l
phn ti sn lu ng c ti tr bng ngun vn cú tớnh cht trung v di hn.
b. Nhúm ch tiờu hot ng (Activity ratios)
16
Chƣơng I: Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng ngân hàng
Nhóm chỉ tiêu hoạt động đo lƣờng mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản
của doanh nghiệp. Nhìn chung, các chỉ tiêu này phản ánh mối tƣơng quan giữa từng
nhóm tài sản nhất định (nhƣ hàng tồn kho, tài khoản phải thu, tổng tài sản) với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp (nhƣ doanh thu, giá thành hàng hóa, lãi hoạt
động). Có ba chỉ tiêu chính về hoạt động của doanh nghiệp, là:
Vòng quay hàng tồn kho (Inventory turnover): vòng quay hàng tồn kho là số
vòng quay của doanh thu hàng năm trên hàng tồn kho bình quân, và đƣợc tính nhƣ sau:
Vòng quay hàng tồn kho =
Doanh thu hµng n¨m
Hµng tån kho b×nh qu©n
So với chỉ tiêu ngành, nếu vòng quay hàng tồn kho quá cao thì có thể doanh
nghiệp đã dự trữ một mức hàng tồn kho quá ít, điều này có thể là không tốt, bởi vì
doanh nghiệp sẽ không có đủ hàng hóa cho hoạt động kinh doanh hoặc sẽ mất
khách hàng vì hàng dự trữ không có sẵn. Nếu chỉ tiêu này quá thấp thì cũng không
tốt, vì có thể doanh nghiệp đã mua quá mức và bị tồn kho nguyên vật liệu hay hàng
hóa sản xuất ra mà không bán đƣợc.
Kỳ thu nợ bình quân (Average collection period): chỉ tiêu này đƣợc tính bằng