VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THU THỦY
TIẾP CẬN TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI TRUNG QUỐC,
BANGLADESH VÀ PHILIPPINES – BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số
: 62.31.01.06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2017
Công trình đƣợc hoàn thành tại
Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. GS.TS NGUYỄN QUANG THUẤN
2. PGS.TS ĐỖ VĂN ĐỨC
Phản biện 1: GS.TS ĐẶNG THỊ LOAN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Phản biện 2: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC TRUNG
NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
Phản biện 3: TS. NGUYỄN THÙY DƢƠNG
đóng vai trò quan trọng trong thành công bước đầu của hoạt động TCTC nhưng
đến năm 2005 hệ thống TCVM Trung Quốc mới có những bước chuyển mình sâu
rộng, đúng hướng. Trong kế hoạch phát triển hàng năm của mình, Chính phủ
Bangladesh luôn theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế xã hội thông qua hoạt
động TCVM nhằm mang lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp. Chính phủ
Philippines đã thiết lập môi trường chính sách tốt để hỗ trợ hoạt động TCVM
hiệu quả, cung cấp các khoản vay nhỏ đến người dân đồng thời phát triển nền
kinh tế theo hướng đa dạng, tích cực.
Các nước Trung Quốc, Bangladesh và Philippines là những nước đang phát
triển có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong lĩnh vực TCVM, những kinh
nghiệm thành công và những bài học chưa thành công của những nước này là
thiết thực đối với việc xây dựng và phát triển hệ thống TCVM nói chung và tăng
cường tiếp cận TCVM nói riêng ở nước ta. Tuy nhiên, các nghiên cứu quốc tế về
kinh nghiệm của ba quốc gia Trung Quốc, Bangladesh và Phillipiines trong việc
thúc đẩy tiếp cận hoạt động TCVM để có thể rút ra những bài học kinh nghiệm
cũng như đưa ra những giải pháp cho Việt Nam trong việc nâng cao khả năng tiếp
cận TCVM còn thiếu tính hệ thống và chi tiết, chưa đầy đủ và cụ thể. Xuất phát
từ thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài Luận án Tiến sĩ kinh tế của mình là: “Tiếp
cận tài chính vi mô tại Trung Quốc, Bangladesh và Philippines - Bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1 Mục tiêu
Luận án hướng tới nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn
về hoạt động TCVM, phân tích thực trạng tiếp cận TCVM tại Trung Quốc,
Bangladesh và Philippines để đưa ra bài học kinh nghiệm, phương hướng, giải
pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển phát triển hoạt động TCVM tại
2
TCVM chỉ từ phía các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ TCVM.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Tác giả sử dụng cách tiếp cận hoạt động TCVM tại ba quốc gia Trung
Quốc, Bangladesh và Philippines dưới góc độ nghiên cứu tổng thể và của từng
nước có phân tích, đánh giá và so sánh theo các chỉ tiêu cụ thể để rút kinh nghiệm
cho Việt Nam trong việc nâng cao khả năng tiếp cận TCVM.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương
pháp nghiên cứu định lượng. Với các mục tiêu chính và cụ thể của từng nghiên
cứu, mỗi phương pháp nghiên cứu được vận dụng, xử lý một cách linh hoạt và
phù hợp.
Phương pháp nghiên cứu định tính:
3
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Tác giả nghiên cứu tài liệu
theo từng chủ đề hợp nhất: TCTC, TCVM và tiếp cận TCVM trên cơ sở
tổng hợp phân tích từng chủ điểm, sắp xếp nội dung tài liệu, thông tin thu
thập một cách khoa học.
Phương pháp giả thuyết: Các giả định được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu
về mối tương quan giữa khả năng tiếp cận và tính bền vững, khả năng tự
vững của tổ chức TCVM.
Phương pháp đối chứng, so sánh: Luận án so sánh đánh giá khách quan
thực trạng, tìm ra những kinh nghiệm trong việc tiếp cận TCVM tại các
quốc gia Trung Quốc, Bangladesh và Philippines làm cơ sở phân tích,
đánh giá, so sánh để đưa ra đánh giá đóng góp về nội dung nghiên cứu.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
thông qua mô hình nghiên cứu:
4
thực.
Đánh giá sự phù hợp của mô hình: Mô hình được xây dựng và kiểm
chứng mối quan hệ giữa tính bền vững với khả năng tiếp cận của tổ chức
TCVM. Tác giả có sử dụng một số phương pháp kiểm định như (i) kiểm
định phương sai sai số thay đổi (heteroscedasticity test), (ii) kiểm định
của sai số ngẫu nhiên (normality test) và (iii) kiểm định về sự ổn định
của mô hình (stability test) xem liệu có tồn tại vấn đề đa cộng tuyến làm
nhiễu kết quả của mô hình hay không.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
(i) Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tiếp cận TCVM trong việc nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân, XĐGN và ổn định kinh tế xã hội.
(ii) Đánh giá khách quan về thực trạng TCTC thông qua hoạt động TCVM
tại ba quốc gia: Trung Quốc, Bangladesh và Philippines.
(iii) Luận án đã lựa chọn nhóm chỉ tiêu đánh giá mức độ tiếp cận, được cụ
thể hóa bằng độ rộng tiếp cận (số lượng khách hàng, dư nợ cho vay, quy mô tiền
gửi, sản phẩm TCVM…) và độ sâu tiếp cận (giá trị khoản vay trung bình trên mỗi
khách hàng, tỷ lệ duy trì khách hàng vay, tỷ lệ khách hàng thoát nghèo...)
(iv) Luận án vận dụng mô hình về đánh giá mức độ tiếp cận và sự bền
vững, ổn định hoạt động của TCVM của Christen và cộng sự (1995) được Thys
(2000) và Olivares-Polanco (2005) phát triển. Luận án sử dụng, đánh giá các nhân
tố ảnh hưởng đến OSS với các nhân tố về tiếp cận độc lập.
(v) Đề xuất một số quan điểm đóng góp cùng những giải pháp, kiến nghị
nhằm thúc đẩy, nâng cao khả năng tiếp cận TCVM tại Việt Nam trong những
năm tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
nội dung Luận án được chia thành bốn chương, cụ thể:
Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án.
Chương II: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tiếp cận tài chính vi mô.
Chương III: Thực trạng và kinh nghiệm của Trung Quốc, Bangladesh,
Philippines về tiếp cận tiếp cận tài chính vi mô.
Chương IV: Tiếp cận tài chính vi mô tại Việt Nam và giải pháp tăng cường
tiếp cận tài chính vi mô trên cơ sở bài học kinh nghiệm của Trung Quốc,
Bangladeh và Philippines.
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài mà tác giả Luận án
tiếp cận được phân thành hai nhóm chính theo từng chủ đề nghiên cứu trong nước
và nước ngoài với các nội dung cụ thể như: Nhóm 1, gồm những công trình
nghiên cứu về TCTC và Nhóm 2, gồm những công trình nghiên cứu về TCVM và
tiếp cận TCVM. Trong Nhóm 2, tác giả chia thành ba nhóm nghiên cứu nhỏ với
nội dung chi tiết: (i) Đánh giá phát triển hoạt động TCVM, (ii) Các hướng phát
triển TCVM và (iii) Mối quan hệ giữa tiếp cận TCVM và sự bền vững của các tổ
chức TCVM.
1.2 Những điểm đã thống nhất và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Các công trình trong phần tổng quan đề cập đến tình hình hoạt động TCVM
ở nhiều góc độ khác nhau tại nhiều quốc gia được phân tích, đánh giá một cách
sâu sắc. Tuy nhiên vẫn còn khoảng trống nghiên cứu đặt ra mà Luận án có nhiệm
vụ giải quyết là:
Một là, tác giả sẽ hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến TCTC,
tiếp cận TCVM. Với các công trình đã công bố, nhìn chung đều đề cập đến vấn
đề này tuy nhiên còn chưa gắn kết theo từng nội dung cụ thể.
Hai là, tác giả có nhiệm vụ đánh giá tình hình tiếp cận TCVM tại ba quốc
gia Châu Á: Trung Quốc, Bangladesh và Philippines. Cả ba quốc gia này có các
mô hình thực tiễn trong việc tiếp cận TCVM riêng, là cơ sở nghiên cứu và đưa ra
TCVM đã công bố Báo cáo nêu rõ đã có hơn 3.000 tổ chức TCVM hiện hoạt
động và phục vụ hơn 106 triệu người nghèo, có thu nhập thấp tại các nước đang
phát triển.
2.1.1.2 Khái niệm tài chính vi mô
- Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo (CGAP), TCVM là việc cung cấp
các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ
gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm... .
- Theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) thì TCVM là
việc cung cấp các dịch vụ tài chính như gửi tiền, cho vay, dịch vụ thanh toán,
chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các
doanh nghiệp nhỏ của họ .
Tổng hợp những khái niệm trên chúng ta có thể hiểu TCVM là hoạt động
cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính cho người nghèo, hộ gia đình nghèo và
các doanh nghiệp nhỏ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và đầu tư cho sản xuất kinh
doanh .
2.1.1.3 Tác động của tài chính vi mô
TCVM có tác động trực tiếp đến các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng trên
nhiều phương diện. Cấp độ cá nhân bao gồm: vật chất, ý thức, nhận thức, quan
hệ; Cấp độ hộ gia đình bao gồm: kinh tế, chiến lược sinh kế, mối quan hệ nội bộ
7
gia đình; Cấp độ cộng đồng: nền kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị.
2.1.2 Tổ chức tài chính vi mô
2.1.2.1 Khái niệm tổ chức tài chính vi mô
- Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP): Tổ chức TCVM
được hiểu là tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính và mục tiêu hướng đến là
người nghèo, người có thu nhập thấp. Tuy có nhiều loại tổ chức TCVM khác
nhau nhưng các tổ chức này vẫn có một đặc điểm chung là cung cấp dịch vụ tài
đưa đến các lợi ích tài chính cũng như lợi ích xã hội. Các tổ chức trung gian tài
chính cung cấp các dịch vụ tiết kiệm, bảo hiểm, tín dụng…còn các tổ chức trung
gian xã hội thì giúp những người dân nghèo nói lên được nguyện vọng, mối quan
tâm tới những nhà hoạch định chính sách .
- Theo Conroy (2002), Tiếp cận TCVM là việc các tổ chức tài chính cung
cấp hàng loạt các sản phẩm dịch vụ tài chính như: cho vay, gửi tiết kiệm, các dịch
8
vụ thanh toán, bảo hiểm cho các hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ .
Như vậy, chúng ta có thể hiểu tiếp cận TCVM là việc các khách hàng;
người nghèo, hộ gia đình nghèo, doanh nghiệp nhỏ tiếp cận hay được cung cấp
các sản phẩm dịch vụ tài chính cơ bản thông qua các tổ chức TCVM .
2.2.3 Lợi ích của việc tiếp cận tài chính vi mô
(i) TCVM là một công cụ quan trọng trong chiến lược XĐGN. Tăng cường
khả năng tiếp cận và cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính hiệu quả tới khách
hàng như: tiết kiệm, tín dụng, dịch vụ bảo hiểm có thể giúp người nghèo gia tăng
thu nhập, giúp họ quản lý rủi ro tốt hơn... Các dịch vụ TCVM giúp cải thiện phân
bổ nguồn lực, thúc đẩy thị trường hay nói cách khác, TCVM giúp thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
(ii) TCVM giúp cung cấp hiệu quả các sản phẩm dịch vụ tài chính để hỗ trợ
và giúp đỡ người nghèo, những người có thu nhập thấp, yếu thế trong xã hội.
(iii) TCVM đóng góp vào sự phát triển tổng thể của hệ thống tài chính
thông qua quá trình hội nhập thị trường tài chính.
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tài chính vi mô
Hoạt động TCVM chịu sự chi phối của nhiều yếu tố bao gồm:
(i) Yếu tố bên trong: Chiến lược phát triển kinh doanh của các tổ chức
TCVM, sự đa dạng trong sản phẩm và dịch vụ, kênh phân phối đáp ứng nhu cầu
của thị trường và khách hàng, tiềm lực tài chính, nguồn nhân lực.
Nhóm khách hàng
mục tiêu (chỉ số
hiệu quả xã hội)
Chỉ tiêu cụ thể
Số lượng các tổ chức TCVM hoạt động
Mục đích/đối tượng vay
Các sản phẩm dịch vụ tổ chức TCVM cung ứng
Số lượng khách hàng vay
Số lượng khoản vay
Dư nợ cho vay
Số lượng tài khoản tiết kiệm
Tổng huy động tiết kiệm
Tỷ lệ khách hàng nữ so với tổng số lượng khách
hàng
9
chiều sâu)
Hiện tại trên thế giới đang áp dụng khá nhiều các mô hình phát triển
TCVM, như: (i) mô hình ngân hàng Grameen, (ii) mô hình ngân hàng Rakyat,
(iii) mô hình ngân hàng làng xã, (iv) mô hình Swayam Krishi Sangam.
2.3.1 Mô hình ngân hàng Grameen
2.3.2 Mô hình ngân hàng Rakyat
2.3.3 Mô hình ngân hàng làng xã
2.3.4 Mô hình Swayam Krishi Sangam
2.3.5 Đánh giá và việc lựa chọn mô hình tại Việt Nam từ các mô hình hoạt
động tài chính vi mô quốc tế
Các mô hình hoạt động TCVM đều có những điểm tương đồng, phù hợp
với từng tổ chức tại Việt Nam. Hoạt động sinh lời của TCVM góp phần tăng
trưởng vốn, tăng số lượng khách hàng được tiếp cận các dịch vụ TCVM, qua đó
góp phần XĐGN, tăng thu nhập, nâng cao phúc lợi xã hội cho người nghèo nhất.
Trên cơ sở đánh giá những ưu điểm của từng mô hình được áp dụng ở các
quốc gia và kết quả thu được từ giai đoạn thử nghiệm ở Việt Nam trong những
năm qua tác giả đề xuất một số mô hình có thể áp dụng hiệu quả trong điều kiện
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như sau:
(i) Thứ nhất, mô hình chuyên cung cấp dịch vụ tiết kiệm, tín dụng cho phụ
nữ nghèo, thường là các NGO tài trợ thông qua các đối tác là các cấp của Hội Phụ
nữ. Một số loại hình này được thiết kế theo thông lệ quốc tế, hoạt động tiến tới
hướng tự vững. Đây được xem như việc kế thừa các mô hình Swayam Krishi
Sangam và Grameen và có chút biến thể cho phù hợp với điều kiện của Việt
Nam.Việc cho vay theo tổ nhóm (Grameen) tiếp tục được áp dụng tại khu vực
nông thôn kết hợp với mô hình ngân hàng làng xã đã có có kết quả nhất định như
tại các tổ chức TCVM TNHH Thanh Hóa (Thanh Hoa MFI), tổ chức tài chính vi
mô Tình thương (TYM)…
10
nhóm TCVM vì lợi ích cộng đồng, (ii) nhóm TCVM tương trợ và (iii) nhóm
TCVM thương mại. Hệ thống ba nhóm nhà cung ứng TCVM được chia thành 11
loại khác nhau: (1) NGO hoạt động vì lợi ích cộng đồng; (2) dự án tín dụng vi mô
được cung cấp bởi các ngân hàng quốc doanh như Ngân hàng Nông nghiệp Trung
Quốc (ABC), Ngân hàng phát triển nông nghiệp Trung Quốc (ADBC) nhằm hỗ
trợ XĐGN; (3) các dự án tín dụng vi mô cho nông dân được thực hiện bởi Hợp
tác xã tín dụng nông thôn (RCC); (4) dự án tín dụng vi mô được thực hiện bởi
NHTM đô thị; (5) các công ty tín dụng vi mô (MCC) - một dự án thí điểm của
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc; (6) ngân hàng làng xã, dự án thí điểm của
CBRC; (7) tổ chức Hợp tác xã tín dụng tương trợ nông thôn (RMCC), dự án thí
điểm của CBRC; (8) các công ty cho vay được thành lập bởi các NHTM, dự án
thí điểm của CBRC; (9) các dự án của tổ chức TCVM XĐGN (PAM) được thực
11
hiện bởi các định chế tài chính nông thôn; (10) dự án tín dụng vi mô do Ngân
hàng tiết kiệm bưu điện Trung Quốc (PSBC) và (11) các dự án TCVM được thực
hiện bởi các NHTM Trung Quốc
- Ở Bangladesh, hệ thống tổ chức TCVM được phân ra thành 4 nhóm cơ
bản: (i) các NGO, (ii) tổ chức ngân hàng đặc thù (Grameen Bank), (iii) các
NHTM tư nhân và (iv) chương trình tín dụng vi mô tại cơ quan Chính.
- Hệ thống tổ chức TCVM tại Philippines, phân thành ba nhóm chính: (i)
nhóm ngân hàng, (ii) nhóm Hợp tác xã tín dụng và (iii) nhóm NGO.
Bảng 3.1: Tổng tài sản và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các tổ chức tài chính
vi mô tại Trung Quốc, Bangladesh và Philippines (2010 - 2014)
Chỉ tiêu
Tổng tài sản (USD)
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản (USD)
11.118
1,59
3.812
3,77
4.539
2,92
5.584
3,13
3.440
1,53
1.028
3,87
745
3,98
749
4,17
1.005
3,64
Nguồn: Mix market (2014)
khích và thúc đẩy các tổ chức ngân hàng chính thức hướng thấp dần xuống phân
khúc khách hàng có thu nhập thấp hoặc liên kết với các tổ chức TCVM NGO.
Cũng tương tự như vậy, tại Trung Quốc, CBRC và Ngân hàng Nhân dân Trung
Quốc cùng với BSP và Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái Philippines (SEC) đã
điều tiết thành công hàng loạt các chính sách nhằm thúc đẩy TCVM. Những
chính sách hữu hiệu sẽ tạo thêm cơ hội kinh doanh cho các trung gian tài chính
mới cũng như thúc đẩy việc đổi mới hoạt động kinh doanh.
3.2 Thực trạng tiếp cận tài chính vi mô tại Trung Quốc, Bangladesh và
Philippines
3.2.1 Khái quát về tiếp cận tài chính tại Trung Quốc, Bangladesh và
Philippines
3.2.1.1 Cầu dịch vụ tài chính
Theo đánh giá của CGAP (2012) thì hiện tại có ba nhóm khách hàng khó
tiếp cận được với các dịch vụ tài chính cũng như dịch vụ ngân hàng hoặc sử dụng
sản phẩm không phù hợp như: (i) hộ gia đình tại nông thôn, (ii) cá nhân với mức
thu nhập thấp và (iii) các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Hình 3.1: Tiếp cận dịch vụ tài chính tại ba quốc gia Trung Quốc, Bangladesh và
Philippines (2014)
Nguồn: Universal financial acess (WB) (2014)
Mặc dù khó tiếp cận, nhưng nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính của
nhóm khách hàng này thường cao. Tính đến tháng 12/2014, tại Trung Quốc số
lượng người trưởng thành là hơn 1141triệu người, trong đó có tới hơn 240 triệu
người không tiếp cận được với các dịch vụ tài chính chính thức (chiếm hơn
21,1%). Số người trưởng thành tại Bangladesh không tiếp cận được với các dịch
vụ tài chính cao hơn rất nhiều đạt 77.1 triệu người (chiếm 69,1%) so với 33.7
triệu người trưởng thành tiếp cận được với các dịch vụ tài chính. Tương tự như
vậy, tại Philippines, số người người trưởng thành là 66.3 triệu người và hơn
68,7% số người trưởng thành trong đó không có khả năng tiếp cận được với các
người
CN
TCTCVM/1
.000 km2
Số máy
ATM/
100.000
người
Số máy
ATM/ 1.000
km2
Trung Quốc
Bangladesh
Philippines
10
11
12
13
14
10
7,8
8,1
n.a
31,4
33,7
19,3 22,4
23,6
n.a
n.a
9,1
9,2
9,59
59,0
61,8
64,7
20,9
22,8
8,2
9,2
12,8
14,7
17,6
n.a
n.a
6,5
5,7
5,18
13,9
15,3
14,6
12,7
26.3
4,0
6,0
n.a
n.a
n.a
n.a
n.a
n.a
n.a
n.a
15,3
21,2
27,4
6,3
9,2
15,4
17,2
19,3
22,4
23,6
28,8
35,5
44,2
55,3
65,4
16,2
19,1
46,9
ngân hàng.
b. Sự đa dạng trong dịch vụ cung cấp
Các tổ chức TCVM tại Trung Quốc cung cấp khá nhiều các sản phẩm dịch
14
14
vụ đặc thù của lĩnh vực TCVM cho các khách hàng nhằm mục tiêu phát triển hoạt
động kinh doanh, giúp đỡ các cá nhân, doanh nghiệp ổn định sản xuất, XĐGN, ổn
định kinh tế. Các loại lọai hình sản phẩm dịch vụ bao gồm: khoản vay nông
nghiệp, nông thôn, các khoản vay cá nhân, các dịch vụ phát triển doanh nghiệp….
c. Quy mô giá trị tài chính cung ứng và số lượng khách hàng của các tổ chức
TCVM
Mức độ tiếp cận theo chiều rộng tính trên quy mô giá trị dịch vụ và số
lượng khách hàng của TCVM tại Trung Quốc năm 2014 khá cao. Trong vòng 5
năm từ năm 2010 đến năm 2014 số lượng khách hàng tham gia thị trường TCVM
tăng dần đều và tính đến ngày 31/12/2014, số lượng khách hàng TCVM trên thị
trường Trung Quốc đã đạt 31.933.678 người với tổng dư nợ cho vay là
5.524.526.294 USD. Bên cạnh hoạt động cho vay phát triển, các tổ chức TCVM
trong năm 2014 cũng đã chú trọng đến việc huy động tiết kiệm từ người dân với
mức huy động lên tới hơn 3 tỷ USD.
Bảng 3.3: Mức độ tiếp cận, khoản vay, huy động của các tổ chức TCVM tại
Trung Quốc (2010-2014)
a
Năm
2010
2011
Số lƣợng tài
khoản tiết
kiệm
183.428
687.641
1.013.484
1.763.836
2.637.836
Tổng huy
động tiết
kiệm (USD)
262.420.158
1.003.128.480
1.684.600.610
2.234.382.837
3.874.031.020
a:
Năm 2010-2013 (tính đến 30/9); năm 2014 (tính đến 31/12)
Nguồn: Mix Market (2010-2014)
Theo chiều sâu tiếp cận
a. Nhóm khách hàng mục tiêu
Phụ nữ là nhóm đối tượng tiếp cận chủ yếu mà các tổ chức TCVM hướng
tới. Tính đến ngày 31/12/2014, tỷ lệ phụ nữ đi vay vốn tại Trung Quốc chiếm
76,4% trên tổng số khách hàng đang vay vốn trên cả nước. Trong vòng 5 năm kể
từ năm 2010 đến năm 2014, tỷ lệ khách hàng nữ tại các tổ chức TCVM tại Trung
một phần chiến lược của mình để duy trì lượng khách hàng cũ.
d. Tỷ lệ khách hàng thoát nghèo
Theo chuẩn nghèo với mức thu nhập 1.9 USD/ngày tính theo sức mua năm
2011 do WB đề ra thì số lượng người nghèo tại Trung Quốc đã giảm đi khá
mạnh. Theo Báo cáo hàng năm của Trung Quốc thì tính đến 31/12/2014, số lượng
người thoát nghèo chỉ đạt 3.9 triệu người và trong đó số lượng khách hàng thoát
nghèo nhờ sử dụng các sản phẩm dịch vụ TCVM chỉ đạt hơn 1 triệu khách hàng
(ước đạt hơn 25% lượng người dân thoát nghèo). Mặc dù tổng thể số lượng người
thoát nghèo của năm 2014 chưa cao nhưng tỷ lệ % khách hàng sử dụng sản phẩm
dịch vụ TCVM để thoát nghèo tăng thêm 5% so với năm 2013.
3.2.2.2 Tại Bangladesh
Theo chiều rộng tiếp cận
a. Mạng lưới hoạt động
Tính đến cuối năm 2014, tại Bangladesh có 4 tổ chức lớn (big-four):
Grameen Bank; BRAC; ASA và Buro Bangladesh có thị phần lớn nhất trong thị
trường TCVM tại Bangladesh. Từ năm 2010 đến năm 2014, số lượng NGO tăng
gần 20%, số lượng chi nhánh cũng gia tăng tương ứng. Điều này chứng tỏ chiến
lược, biện pháp của Chính phủ Bangladesh nhằm gia tăng số lượng các tổ chức
cung ứng và nâng cao chất lượng dịch vụ tại từng tổ chức được áp dụng rất rõ
ràng và triệt để.
b. Sự đa dạng trong dịch vụ cung cấp
Các sản phẩm dịch vụ mà các tổ chức TCVM cung cấp cho khách hàng
nghèo bao gồm các sản phẩm, dịch vụ chủ yếu là vay nông nghiệp và vay doanh
nghiệp
c. Quy mô giá trị tài chính cung ứng và số lượng khách hàng của tổ chức TCVM
Các tổ chức TCVM tại Bangladesh đã mở rộng tính trên quy mô và giá trị
dịch vụ. Mặc dù số lượng khách hàng của các tổ chức TCVM tại Bangladesh có
giảm nhưng chất lượng khách hàng đã được nâng cao.
Bảng 3.4: Mức độ tiếp cận, khoản vay, huy động của tổ chức TCVM tại
21.009.466
22.359.724
22.691.975
25.512.322
2.600.803.564
2.860.674.570
3.779.047.764
4.524.030.175
5.782.158.276
20.367.254
19.808.785
21.445.265
22.534.748
23.541.186
Tổng huy
động tiết
kiệm (USD)
788.768.294
880.207.560
1.022.006.628
1.027.077.114
1.979.477.608
Nguồn: Mix market (2010-2014)
Số lượng khoản vay từ năm 2010 đến cuối năm 2014 tăng gần 20% trong
khi đó dư nợ cho vay thì luôn tăng mạnh theo từng năm. Điều này chứng tỏ các tổ
3.2.2.3 Tại Philippines
17
Theo chiều rộng tiếp cận
a. Mạng lưới hoạt động
Hệ thống các tổ chức TCVM tại Philippines đã hình thành và phát triển
thành một hệ thống cung cấp các dịch vụ tài chính hướng tới đối tượng khách
hàng mục tiêu. Từ năm 2010 đến hết năm 2014, số lượng các tổ chức đã giảm gần
30%, điều này có được là do Chiến lược của Chính phủ nhằm thu hẹp quy mô,
đẩy mạnh chất lượng, phát huy hiệu quả của các tổ chức nhằm hoạt động ổn định
và phát triển.
b. Sự đa dạng trong dịch vụ cung cấp
Các tổ chức TCVM tại Philippines cung cấp các giải pháp tài chính, giúp
đỡ người dân, tạo việc làm và phát triển cộng đồng. Các sản phẩm dịch vụ mà các
tổ chức này cung cấp giúp khách hàng mục tiêu phát triển kinh doanh, sản xuất
thông qua các sản phẩm cho vay, tiết kiệm để XĐGN và tích lũy cho tương lai:
khoản vay TCVM, khoản vay nông nghiệp vi mô, các khoản vay nhà vi mô,
khoản huy động vi mô…
c. Quy mô giá trị tài chính cung ứng và số lượng khách hàng của tổ chức TCVM
Tính đến ngày 31/12/2014, tổng số khách hàng TCVM tại Philippines là
hơn20 triệu khách hàng với mức dư nợ cho vay ước đạt hơn 3 tỷ USD và huy
động tiết kiệm đạt hơn 2 tỷ USD. Nếu năm 2010, tổng huy động tiết kiệm mới đạt
khoảng 1.543 triệu USD thì 5 năm sau, con số này đã tăng lên gần 35%.
Bảng 3.5: Mức độ tiếp cận, khoản vay, khoản huy động của tổ chức TCVM tại
Philippines (2010-2014)
a
Năm
3.339.935.613
3.721.309.814
3.555.179.775
Số lƣợng tài
khoản tiết
kiệm
3.900.260
4.429.552
3.700.592
3.487.482
4.732.766
Tổng huy động
tiết kiệm (USD)
1.543.832.114
1.476.793.669
1.360.714.509
2.198.079.372
2.133.107.865
a:
Năm 2010-2013 (tính đến 30/9); năm 2014 (tính đến 31/12)
Nguồn: Mix Market (2010-2014)
Theo chiều sâu tiếp cận
a. Nhóm khách hàng mục tiêu
Kể từ năm 2010 đến cuối năm 2014, tỷ lệ khách hàng nữ tại các tổ chức
Philippines vẫn duy trì mức trên 90%. Có thể nói, khách hàng nữ tại Philippines được
TCVM nhằm gia tăng khả năng tiếp cận TCVM, (ii) Nâng cấp các loại hình tổ chức
truyền thống cũ, (iii) Phát triển khu vực tài chính Hợp tác xã nông thôn dựa trên cộng
đồng và nâng cao tính cạnh tranh, hiệu quả của thị trường, (iv) Khuyến khích cải cách
quy trình và sản phẩm để khách hàng dễ dàng tiếp cận, (v) Thiết lập các quỹ quy mô
lớn đặc thù, (vi) Liên kết hoạt động giữa ngân hàng và các tổ chức TCVM, (vii) Thúc
đẩy dịch vụ bảo hiểm vi mô và (viii) Tăng cường xây dựng năng lực, đào tạo.
3.3.1.2 Tại Bangladesh
Chính phủ Bangladesh đã có Chiến lược phát triển ngành cụ thể theo từng giai
đoạn giúp nâng cao khả năng TCTC thông qua hoạt động TCVM giữa các tổ chức
TCVM với người dân có thu nhập thấp và với các doanh nghiệp nhỏ, cụ thể: (i) Sử
dụng tín dụng vi mô trong việc XĐGN thông qua khuyến khích tự chủ trong công
việc, (ii) Trao quyền cho phụ nữ, (iii) Xuất khẩu mô hình tiếp cận TCVM của các tổ
chức TCVM tại Bangladesh.
3.3.1.3 Tại Philippines
Chính phủ và các tổ chức TCVM tại Philippines đã mang các sản phẩm dịch vụ
TCVM cải tiến đến gần hơn với khách hàng thông qua nền tảng công nghệ thông tin
hiện đại như: thanh toán khoản vay, giải ngân khoản vay, huy động tiết kiệm giữa
khách hàng và một số các tổ chức TCVM tại Philippines có thể được sử dụng trực
tuyến hoặc thông qua công cụ phần mềm thân thiện với người sử dụng với mục tiêu:
(i) hướng tới khách hàng mới, (ii) nâng cao hiệu quả kinh tế cho các tổ chức TCVM
và (iii) phục vụ tốt hơn khách hàng cũ.
3.3.2 Những kinh nghiệm chưa thành công và nguyên nhân
3.3.2.1 Tại Trung Quốc
Hoạt động TCVM tại Trung Quốc đang trong quá trình phát triển, nên không
thể tránh khỏi những rủi ro phát sinh. Kiểm soát rủi ro tại các tổ chức TCVM đang
19
được xem là điểm chưa thành công của Chính phủ Trung Quốc trong việc nâng cao
TCVM cũng như việc thiếu thông tin tín dụng chính xác của khách hàng được xem
như những bài học kinh nghiệm trong quá trình nâng cao khả năng tiếp cận TCVM
của phân khúc khách hàng nghèo tại Philippines.
CHƢƠNG IV: TIẾP CẬN TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM - GIẢI PHÁP
TĂNG CƢỜNG TIẾP CẬN TÀI CHÍNH VI MÔ TRÊN CƠ SỞ BÀI HỌC
KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC, BANGLADESH VÀ PHILIPPINES
4.1 Tiếp cận tài chính vi mô tại Việt Nam
4.1.1 Tổng quan về thị trường tài chính vi mô tại Việt Nam
Tại Việt Nam, có ba đơn vị cung ứng TCVM: (i) Chính thức: Ngân hàng
thương mại, ngân hàng chính sách (VBSP), ngân hàng Hợp tác (Coop Bank), tổ
chức TCVM chính thức, (ii) Bán chính thức: Tổ chức TCVM bán chính thức, các
chương trình TCVM tại Hội phụ nữ tỉnh/huyện và (iii) Phi chính thức: họ,
20
phường, hụi....
Tốc độ giảm nghèo của Việt Nam đang có xu hướng chậm lại. Dân số trung
bình Việt Nam ước tính gần 93 triệu người, trong đó dân số nông thôn chiếm gần
70%, 15% dân số là dân tộc thiểu số, cơ hội và khả năng TCTC còn hạn chế. Bên
cạnh đó, mạng lưới hoạt động của các tổ chức tài chính – ngân hàng ở Việt Nam
hiện chưa hoàn thiện và được đầu tư đúng mức hướng tới đối tượng người nghèo,
vùng sâu vùng xa; nhận thức của người dân về lợi ích của việc sử dụng các sản
phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại còn chưa cao và đầy đủ.
4.1.2 Hệ thống khuôn khổ pháp lý và các quy định liên quan đến hoạt động tài
chính vi mô
Hiện nay, hành lang pháp lý đã tạo nền tảng cơ bản để phát triển TCVM
bền vững ở Việt Nam. Hệ thống cơ chế, chính sách đã có những yếu tố đặc thù
của TCVM, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi hơn cho hoạt động
TCVM. Hệ thống quy định, pháp lý tại Việt Nam được chia thành hai khu vưc: (i)
hàng (ngƣời)
637.562
Số lƣợng
khoản vay
532.370
Dƣ nợ cho
vay (USD)
113.374.387
Số lƣợng tài
khoản tiết kiệm
436.937
Tổng huy động
tiết kiệm (USD)
109.383.371
21
2011
2012
2013
2014
974.472
1.284.374
1.427.361
các tổ chức TCVM nhắm tới. Tỷ lệ phụ nữ đi vay vốn tại Việt Nam chiếm 86,94%
trên tổng số khách hàng đang vay vốn trên cả nước, thậm chí, ở một số tổ chức, như tổ
chức TYM, tỷ lệ này gần như là 100%
b. Quy mô khoản vay và khoản tiết kiệm
Căn cứ theo tiêu chuẩn của Mix và WB, có thể thấy, đối tượng khách hàng mục
tiêu của các tổ chức TCVM tại Việt Nam là người có thu nhập thấp và rất thấp và
đang ở ngưỡng tiếp cận với phân khúc khách hàng có mức thu nhập trung bình thấp,
tùy vào mục tiêu sứ mệnh mà mỗi tổ chức TCVM đề ra.
c. Tỷ lệ duy trì khách hàng vay
Các tổ chức TCVM tại Việt Nam luôn cố gắng duy trì tỷ lệ khách hàng vay vốn
thường xuyên. Nếu năm 2010, tỷ lệ này mới đạt trên 65% thì đến năm 2013 và 2014
con số này đã tăng thêm khá nhanh, đạt hơn 85% trên cả nước. Theo VMFWG, tại
một số các tổ chức TCVM chính thức, tỷ lệ này còn cao hơn rất nhiều, như TYM năm
2014, tỷ lê này là 115%, M7MFI là 86% và Thanh Hóa MFI là 100%. Có thể nhận
thấy rõ, khả năng duy trì khách hàng tại cá tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam rất
cao nhờ có những chiến lược cụ thể trong việc tiếp cận từng phân khúc khách hàng,
đưa ra các chính sách kêu gọi cũng như hỗ trợ hợp lý giúp khách hàng an tâm khi sử
dụng các sản phẩm của tổ chức.
d. Tỷ lệ khách hàng thoát nghèo
Trong những năm qua, Việt Nam được thế giới chú ý bởi những thành tựu
trong công tác XĐGN và nâng cao mức sống của người dân. Theo chuẩn nghèo của
WB, thì tính đến 31/12/2010, số lượng người nghèo trong cả nước là 4.2 triệu người,
nhưng đến năm 2012 giảm còn 2.9 triệu và năm 2014 chỉ còn là 2.8 triệu người. Theo
Báo cáo của NHNN và VMFWG thì tính đến cuối 2014, số lượng khách hàng thụ
hưởng các dịch vụ từ các tổ chức TCVM cung cấp, kinh doanh phát triển và thoát
nghèo là hơn 1.1 triệu người (chiếm gần 40% tổng số lượng người thoát nghèo trên
toàn quốc).
4.1.4 Phân tích hoạt động tiếp cận tài chính vi mô tại Việt Nam thông qua mô hình
kinh tế lượng
Mô hình về mối quan hệ giữa mức độ tiếp cận và tính bền vững của tổ chức
2.300000
0.200000
0.671173
Borrower
31
2414.154
43.21000
68630.42
1.300000
12299.50
Average
31
0.555806
0.250000
7.870000
0.080000
1.375899
Growth
31
31.41742
26.14000
126.4100
-6.430000
30.91151
Operation
31
khách hàng cũng không tăng mạnh, nhưng các tổ chức TCVM tại Việt Nam đã đạt
được nhiều kết quả mong đợi như sau: (i) Tỷ lệ hoạt động bền vững luôn duy trì ở
mức khá, (ii) Các tổ chức tài chính vi mô luôn hướng tới khách hàng mục tiêu ban
đầu, (iii) Các tổ chức tài chính vi mô phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa (iv)
Khách hàng luôn gắn bó, trung thành với các tổ chức TCVM.
4.1.5.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
Bên cạnh những kết quả khả quan, việc tiếp cận TCVM của tổ chức tới khách
hàng vẫn còn khá nhiều hạn chế và không đồng đều giữa các tổ chức như: (i) chiến
lược và kế hoạch của nhiều tổ chức TCVM tại Việt Nam chưa rõ ràng, (ii) sản phẩm
dịch vụ chưa đa dạng và chất lượng chưa thực sự cao, (iii) chất lượng nguồn nhân lực
còn gặp nhiều hạn chế và (iv) môi trường pháp lý và chính sách còn nhiều bất cập.
Có nhiều nguyên nhân gây ra những hạn chế trong việc tiếp cận: (i) Chiến
lược và kế hoạch của nhiều tổ chức TCVM tại Việt Nam còn chưa rõ ràng, (ii) Sản
phẩm dịch vụ chưa đa dạng và chất lượng chưa cao, (iii) Chất lượng nguồn nhân lực
và (iv) Môi trường pháp lý và chính sách còn nhiều bất cập và hạn chế.
4.2 So sánh tiếp cận tài chính vi mô của Việt Nam với tiếp cận tài chính vi mô tại
Trung Quốc, Bangladesh và Philippines
Cả ba quốc gia Trung Quốc, Bangladesh và Philippines đều là các quốc gia có
hoạt động TCVM khá sôi nổi trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Với đặc thù
tại mỗi quốc gia khác nhau, nên mỗi quốc gia đều có những mặt mạnh và những mặt
cần khắc phục. Các tổ chức TCVM tại Trung Quốc, Bangladesh và Philippines với bề
dày hoạt động lâu năm nên thu hút được số lượng khách hàng đông đảo, giúp khách
hàng thu nhập thấp sử dụng công cụ TCVM như một phương pháp hữu hiệu giúp họ
cải thiện đời sống, từng bước phát triển hoạt động kinh doanh và thoát nghèo.
Bên cạnh đó, để so sánh mức độ tiếp cận TCVM tại bốn quốc gia phải kể đến
chỉ số cho vay bình quân trên một khách hàng cũng như số dư tiết kiệm bình quân trên
một khách hàng. Đây là hai chỉ số đo lường thực mức độ tiếp cận của khách hàng theo
23
hội TCVM. Năm hướng phát triển được thể hiện qua ba góc độ: ngành TCVM, các tổ
chức TCVM và khách hàng của các tổ chức TCVM.
4.5 Giải pháp tăng cƣờng tiếp cận tài chính vi mô tại Việt Nam
4.5.1 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: (i) Tạo điều môi trường chính sách,
khung pháp lý hiệu quả nhằm phát triển ngành tài chính vi mô theo hướng bền vững,
mở thêm nhiều hướng tiếp cận mới và tuân thủ theo định hướng thị trường, (ii) Phối
hợp với chính quyền địa phương, cơ sở và các tổ chức chính trị xã hội nhằm phát triển
hoạt động tài chính vi mô bền vững, (iii) Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò