Họ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO
CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG
THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN
THỪA THIÊN HUẾ.
Họ và tên sinh viên: LÊ THỊ LÃM THÚY
1
THÀNH PHỐ HUẾ, 6/2016
Họ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
KHÓA 37
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO
CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG
THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN
THỪA THIÊN HUẾ.
nhân. Cơ sở vật chất của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả sơ sài, trang thiết bị lạc
hậu chưa đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính . Việc kiểm tra, giám sát
các quá trình giải quyết các công việc của các cơ quan nhà nước và phòng
chuyên môn, cán bộ, công chức chưa thường xuyên; tình trạng chưa khép kín
trong tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả chưa được khắc phục, là kẽ hở cho
những tiêu cực có thể xảy ra. Chính những thủ tục hành chính quan lưu ,phiền
hà đã là bức xúc lớn của người dân, không phù hợp với thời kì đổi mới và hội
nhập, gây ra trở ngại cho việc giao lưu, hợp tác quốc tế, gây ra hiện tượng cửa
quyền, tạo điều kiện cho nạn tham nhũng phát sinh.Để giải quyết những tồn
tại nêu trên, việc áp dụng giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa,
một cửa liên thông theo hướng hiện đại là chủ trương đúng đắn phù hợp với
tiến trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, của thời kỳ công nghiệp hoáhiện đại hoá, xu thế hội nhập quốc tế, phù hợp với mong muốn của Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân. Sau 05 năm hoạt động, mô hình cải cách thủ tục
hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại tỉnh Thừa Thiên Huế
bước đầu cơ bản đã giải quyết nhanh chóng, thuận tiện thủ tục hành chính đối
với một số lĩnh vực thực hiện theo cơ chế một cửa, đảm bảo đơn giản, rõ ràng,
đúng pháp luật.
Với tư cách là sinh viên trường Đại học Luật Huế, sinh ra và lớn lên trên
địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nên em lựa chọn đề tài: “Cải cách thủ tục hành
chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông .Thực tiễn trên địa bàn Thừa
Thiên Huế.” làm niên luận để phần nào làm rõ những thành quả đạt được
5
cũng như những tồn tại, hạn chế trong công tác thực hiện cơ chế một cửa, một
cửa liên thông trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Hoạt động thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong cải
cách thủ tục hành chính.
đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính của tỉnh Thừa Thiên Huế.
6.Bố cục của niên luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị nội dung niên luận gồm có 2
chương:
Chương 1: Lý luận về cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế
một cửa, một cửa liên thông.
Chương 2: Thực trạng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trên
địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ THỰC HIỆN
CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG
1. Một số vần đề chung về cải cách thủ tục hành chính
1.1 Cải cách thủ tục hành chính
1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính
Theo từ điển tiếng việt thông dụng, thủ tục là cách tiến hành một công
việc với nội dung trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước.Theo đó, hoạt
động quản lí nhà nước nào cũng được tiến hành theo trình tự , thủ tục nhất
định.Khái niệm thủ tục hành chính có nhiều cách hiểu khác nhau.Thủ tục hành
chính là trình tự thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính nhà nước, là
cách thức mà nhà nước áp dụng để làm cho các quy định của luật pháp có được
sự đảm bảo thống nhất trong quá trình thực thi và áp dụng vào đời sống.
Thủ tục hành hính bao gồm những nội dung cơ bản như:
- Số lượng các hoạt động cụ thể cần thực hiện để tiến hành hoạt động
quản lí nhất định.
-Trình tự các hoạt động cụ thể và mối liên hệ giữa các hoạt động đó.
quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và
yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định.
Cải cách hành chính có thể được hiểu như là một quá trình thay đổi
nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và
phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới
trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính Nhà nước. Cải cách thủ tục
hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa
Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân
dân. Cải cách thủ tục hành chính được coi là khâu đột phá trong cải cách nền
hành chính Nhà nước, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống
nền hành chính quốc gia, thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên.
Những yêu cầu cảu quá trình cải cách hành chính tròn giai đoạn hiện nay
của nước ta là:
-
Phải đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thủ tục hành chính.
9
-
Bảo đảm sự chặt chẽ của hệ thống thủ tục hành chính.
Bảo đảm tính hợp lý của thủ tục hành chính
Bảo đảm tính khoa học của quy trình thực hiện các thủ tục hành chính đã ban
-
hành.
Bảo đảm tính rõ ràng và công khai của các thủ tục hành chính.
Dễ hiểu, dễ tiếp cận.
việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và
trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
của cơ quan hành chính nhà nước.
Cơ chế một cửa liên thông là cách thức gải quyết công việc của cá nhân,
tổ chức thuộc trách nhiêm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà
nước cùng cấp hoặc giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc
công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả
kết quả được thực hiên tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
của một cơ quan hành chính nhà nước.
Trên thực tế có nhiều loại hồ sơ hành chính có liên quan đến thẩm quyền
giải quyết của nhiều cấp, nhiều cơ quan, phải qua nhiều đầu mối mới có kết
quả cuối cùng. Cơ chế "một cửa liên thông" đặt ra yêu cầu các cơ quan nhà
nước có trách nhiệm phối hợp trong quy trình xử lý hồ sơ, không để tổ chức,
công dân cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác. Người dân có nhu
cầu chỉ phải nộp hồ sơ và nhận lại kết quả tại một đầu mối. Những cải cách
này đã giúp cho cơ quan hành chính nhà nước phục vụ ngày càng tốt hơn
những nhu cầu của người dân.
2.2 Nguyên tắc của cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong cải
cách thủ tục hành chính
Để thực hiện cải cách thủ tục hành chính có hiệu quả cần tuân theo
những nguyên tắc nhất định.
Nguyên tắc cải cách thủ tục hành chính được quy định tại điều 3 quy
chế” Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương” ( Ban hành kèm theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg
ngày 25 tháng 3 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ) quy định :
Một là, niêm yết công khai, đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính tại
Quyết định công bố thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)
theo quy định.
11
Cơ chế một cửa liên thông được thực hiện trong giải quyết thủ tục hành
chính thuộc các lĩnh vực: Đầu tư; đất đai; đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép
xây dựng; tư pháp và các lĩnh vực khác thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan
hành chính nhà nước.
2.5 Vị trí của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Tại điều 8 quy chế” Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương” ( Ban hành kèm theo Quyết định số
09/2015/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ) quy định:
- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh đặt tại Văn phòng cơ quan và chịu sự quản lý, chỉ đạo
của Văn phòng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả tập trung của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh được tổ chức tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương có trung tâm hành chính tập trung.
-Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đặt tại
Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hoặc Văn phòng Uỷ ban
nhân dân nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp huyện; chịu sự
quản lý, chỉ đạo của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp
huyện.
- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Uỷ ban nhân dân cấp xã đặt tại trụ
sở Uỷ ban nhân dân cấp xã.
- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các cơ quan được tổ chức theo
ngành dọc thực hiện theo quy định của cơ quan chủ quản.
2.6 Quy trình thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông
2.6.1 Đối với cơ chế một cửa
13
và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức.
7. Chuyển hồ sơ
a) Sau khi tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này,
công chức lập Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ theo mẫu số 04 tại
Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này;
b) Chuyển hồ sơ và Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ cho cơ
quan, tổ chức liên quan giải quyết. Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ
được chuyển theo hồ sơ và lưu tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
8. Giải quyết hồ sơ
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan, tổ chức phân công cán bộ, công chức
giải quyết như sau:
a) Trường hợp không quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công
chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải
quyết hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
b) Trường hợp có quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức
báo cáo người có thẩm quyền phương án thẩm tra, xác minh và tổ chức thực
hiện. Quá trình thẩm tra, xác minh phải được lập thành hồ sơ và lưu tại cơ
quan giải quyết;
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh đủ điều kiện giải quyết: Công chức
thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết
hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
15
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh chưa đủ điều kiện giải quyết: Công
chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ kèm theo thông báo bằng văn
bản và nêu rõ lý do, nội dung cần bổ sung. Thời gian mà cơ quan, tổ chức đã
cho cá nhân, tổ chức;
đ) Đối với hồ sơ giải quyết xong trước thời hạn trả kết quả: Liên hệ để cá
nhân, tổ chức nhận kết quả;
e) Trường hợp cá nhân, tổ chức chưa đến nhận hồ sơ theo giấy tiếp nhận
hồ sơ và hẹn trả kết quả thì kết quả giải quyết hồ sơ được lưu giữ tại Bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả.
2.6.2 Đối với cơ chế một cửa liên thông
Tại điều 7 Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương.(Ban hành kèm theo Quyết định số
09/2015/QĐ-TTg ngày 25tháng 3 năm 2015của Thủ tướng Chính phủ) quy
định:
Quy trình liên thông
a) Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ
quan chủ trì giải quyết thủ tục hành chính (sau đây gọi chung là cơ quan chủ
trì) hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến ở những nơi có quy định
nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến;
b) Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra tính
hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Điểm b, c
Khoản 1 Điều 6 Quy chế này;
17
c) Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan chủ trì tổ chức lấy ý kiến của các cơ
quan phối hợp bằng văn bản, cơ quan được hỏi ý kiến phải trả lời trong thời
gian quy định;
Trường hợp việc giải quyết thủ tục hành chính cần được thực hiện sau
khi có kết quả giải quyết của cơ quan phối hợp thì cơ quan chủ trì gửi văn
bản, hồ sơ cho cơ quan phối hợp để giải quyết trong thời gian quy định;
d) Trên cơ sở giải quyết hồ sơ của các cơ quan phối hợp, cơ quan chủ trì
1. Thực trạng
1.1. Điều kiện kinh tế-xã hội tại tỉnh Thừa Thiên Huế
1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm
phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông.
Phía Đông giáp với Biển Đông.
Phía Tây giáp với Quảng Trị và Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào.
Phía Nam giáp với Đà Nẵng.
Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Trị.
Diện tích của tỉnh là 5.053,990 km², dân số theo kết quả điều tra tính
đến năm 2012 là 1.115.523 người.
Tỉnh Thừa Thiên Huế hiện có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thành
phố Huế, thị xã Hương Thủy và 07huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Hương
Trà, Phú Vang, Phú Lộc, A Lưới, Nam Đông).
19
Thừa Thiên Huế có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Vùng duyên hải đồng
bằng có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng oi bức, có
khi lên tới gần 40 độ C
1.1.2Tình hình kinh tế xã hội
Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng
hướng, huy động đầu tư tăng nhanh, hầu hết các thành phần kinh tế đều phát
triển; đầu tư có trọng điểm hơn, kết cấu hạ tầng tăng nhanh. Văn hoá, xã hội
có nhiều tiến bộ; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện.
Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đô thị phát triển.
Văn hóa xã hội có nhiều điểm tiến bộ , đời sống nhân dân ngày càng
được cải thiện, công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả quan trọng, các vấn
đề bức xúc xã hội được tập trung giải quyết.
Thừa Thiên Huế tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu là: Tập
trung đào tạo phát triển nguồn nhân lực;rà soát chức năng, nhiệm vụ của các
cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn cấp huyện; rà soát thể
chế về tổ chức,hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương;nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một
cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh,UBND cấp
huyện và UBND cấp xã theo quyết định 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015
của Thủ tướng Chính phủ…
Với mục tiêu quan trọng là tập trung làm tốt công tác cải cách hành
chính nhằm nâng cao chỉ số xếp hạng của tỉnh nằm trong top 10 tỉnh, thành
phố làm tốt, tin tưởng công tác cải cách hành chính năm 2016 của tỉnh Thừa
Thiên Huế sẽ đạt mục tiêu đề ra.
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế vừa ban hành Quyết định 888/QĐ-UBND
năm 2016 về việc ban hành thủ tục hành chính thực hiện cơ chế một cửa, một
cửa liên thông tại UBND các huyện, quận, thị xã, thành phố. Ban hành kèm
theo Quyết định này danh mục 290/295 thủ tục hành chính thực hiện tiếp
nhận, giải quyết và trả kết quả theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã,
thành phố.
21
Chủ tịch UBND tỉnh vừa có Quyết định số 637/QĐ-UBND ngày 31
tháng 3 năm 2016 ban hành danh mục 128/141 thủ tục hành chính thực hiện
tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên
thông tại Văn phòng sở và các Phòng Công chứng trực thuộc Sở Tư pháp, bao
gồm:
-40 thủ tục hành chính thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo
cơ chế một cửa tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Văn phòng Sở Tư
pháp.
tục hành chính thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại sở tài chính.
Ban hành kèm theo Quyết định này danh mục 14/14 TTHC thực hiện tiếp
nhận, giải quyết và trả kết quả theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
của Sở Tài chính, cụ thể là:
- 07 TTHC thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo cơ chế một
cửa tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của Sở Tài chính;
- 07 thủ tục hành chính thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo
cơ chế một cửa liên thông tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của Sở Tài
chính.
Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định
1913/QĐ-UBND năm 2015 về việc ban hành danh mục thủ tục hành chính
thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại sở tài nguyên và môi trường.
Ban hành kèm theo Quyết định này danh mục 51/74 thủ tục hành chính thực
hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại Bộ phận Tiếp nhận và trả
kết quả của Sở Tài nguyên và Môi trường, bao gồm:
23
- 31 TTHC thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo cơ chế một
cửa;
- 20 TTHC thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo cơ chế một
cửa liên thông.
Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định
1916/QĐ-UBND năm 2015 về danh mục thủ tục hành chính thực hiện cơ chế
một cửa, một cửa liên thông của Sở lao động –thương binh và xã hội. Danh
mục 53/66 TTHC thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo cơ chế
một cửa, một cửa liên thông của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Chi
cục Phòng chống tệ nạn xã hội, cụ thể:
- 41 TTHC thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo cơ chế một
- 03 thủ tục hành chính thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo
cơ chế một cửa tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả;
- 03 thủ tục hành chính thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo
cơ chế một cửa liên thông tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả.
Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định 51/QĐUBND năm 2013 về việc ban hành quy định hướng dẫn , tiếp nhận, giải quyết
và giao trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa
liên thông tại các sở, ban, ngành thuộc Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh.
Cơ chế “một cửa” đã được tỉnh Thừa Thiên Huế triển khai trước quy
định gần 1 năm (từ năm 2003) tại các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND cấp
huyện. Tại UBND cấp xã, trong 2 năm 2001 - 2002 triển khai ở 25 xã,
phường thuộc thành phố Huế và năm 2004 triển khai ở các xã còn lại. Tất cả
25