ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
(FDI) ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ
Sinh viên thực hiện:
Giáo viên hướng dẫn
Trần Thị Thùy Dinh
Th.S Nguyễn Thùy Linh
Lớp: K46B - KHĐT
Niên khóa: 2012-2016
Huế, tháng 5 năm 2016
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nổ lực của bản thân với
những kiến thức chuyên môn được bồi dưỡng khi ngồi trên ghế nhà trường, tôi còn
nhận được sự giúp đỡ, những lời động viên, chia sẻ hết sức quý báu từ phía thầy cô
giáo, gia đình và bạn bè. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến tất cả mọi
người.
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
CN
Công nghiệp
CNH
Công nghiệp hóa
DN
Doanh nghiệp
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
HĐH
Hiện đại hóa
Trần Thị Thuỳ Dinh
GVHD: Th.S Nguyễn Thuỳ Linh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Nguyễn Thuỳ Linh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trần Thị Thuỳ Dinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Nguyễn Thuỳ Linh
MỤC LỤC
Trần Thị Thuỳ Dinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Nguyễn Thuỳ Linh
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trần Thị Thuỳ Dinh
GVHD: Th.S Nguyễn Thuỳ Linh
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình thực hiện CNH - HĐH đất nước và xây dựng nền kinh tế theo mô
hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng ta đã khẳng định: nguồn
lực trong nước là chính, nguồn lực bên ngoài giữ vai trò quan trọng. Thực tiễn các quốc
gia phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng thời gian qua cho thấy, đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) là nguồn lực quan trọng cho phát triển KT - XH. FDI đóng góp đáng kể
vào bổ sung nguồn vốn, chuyển giao công nghệ, phát triển xuất khẩu, giải quyết vấn đề
việc làm. Nó trở thành nhân tố quan trọng trong phát triển KT - XH của đất nước.
Việt Nam có 63 tỉnh, thành phố với những đặc thù, tính chất phát triển khác nhau.
Do đó, lượng vốn FDI phân bổ không đều vào các địa phương. Đồng thời mức độ phát
huy tác động cũng không giống nhau, bên cạnh những tác động tích cực thì vẫn tồn tại
những ảnh hưởng không mong muốn. Đó là vấn đề bức xúc đang được đặt ra và cần được
giải quyết để phát huy những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế của FDI.
Thừa Thiên - Huế được xác định là cực phát triển kinh tế quan trọng của vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung, cửa ngõ tuyến hành lang thương mại Đông Tây nối Myanma,
Thái Lan và Lào với biển Đông. Những lợi thế về điều kiện tự nhiên, KT - XH đang là
điều kiện thuận lợi cho tỉnh Thừa Thiên - Huế đẩy mạnh thu hút FDI, mở rộng giao lưu
kinh tế với các địa phương trong và ngoài nước phục vụ phát triển KT - XH. Tuy nhiên so
với các địa phương khác trên cả nước thì tỉnh Thừa Thiên - Huế vẫn chưa thu hút được
nhiều FDI và chưa phát huy được tác động tích cực của nguồn vốn này.
Để phát triển FDI đối với phát triển KT - XH trên địa bàn tỉnh thì vấn đề bức thiết
đặt ra là phải nghiên cứu, làm rõ tác động của FDI đối với phát triển KT - XH. Nhận thức
được tác động hai mặt của FDI là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng và đưa ra các
giải pháp hiệu quả để phát huy tính tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của FDI trên
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập thông tin
Thông tin thứ cấp được thu thập chủ yếu:
+ Thu thập số liệu, tài liệu và các thông tin liên quan đến đề tài từ phòng kinh tế
đối ngoại, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Trần Thị Thuỳ Dinh
10
+ Các thông tin từ mạng Internet và sách báo có các thông tin tổng quan về điều
kiện tự nhiên, KT - XH và đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh.
+ Các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan nhằm củng cố kiến thức về thực
trạng, các tác động, giải pháp của FDI trên địa bàn tỉnh..
4.2. Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả dùng để phân tích thực trạng và tác động của FDI.
Các chỉ tiêu được dùng là các chỉ số tuyệt đối, số tương đối để thiết lập bảng biểu, so
sánh được sự biến động của việc thu hút FDI.
Phương pháp so sánh để so sánh các chỉ tiêu: giá trị sản xuất theo giá so sánh
năm 2010, nguồn vốn doanh nghiệp FDI, sản lượng doanh nghiệp FDI…..qua các
năm.
4.3. Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Tham khảo ý kiến các cán bộ, chuyên viên phòng kinh tế đối ngoại đưa ra các
nhận xét cho các vấn đề cần giải đáp trong đề tài nghiên cứu.
Ngoài ra căn cứ vào một số quan điểm, định hướng của Đảng và nhà nước về giải
pháp nâng cao hiệu quả của FDI.
tiếp nước ngoài là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của hai cuộc đại chiến này so với các
lĩnh vực khác. Từ năm 1914 - 1938, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng gấp đôi đạt 26 tỷ
USD. Trong thời kỳ này đánh dấu sự thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa
Kỳ, lượng vốn đầu tư trực tiếp vào Hoa Kỳ đã tăng từ 20% đến trên 28%, ngược lại
đầu tư trực tiếp nước ngoài của Anh giảm từ 44,5% xuống 40%.
Từ năm 1945 - 1990, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đánh dấu quá trình
khôi phục hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khoa học, công nghệ thời kỳ hậu
Trần Thị Thuỳ Dinh
12
chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã phát triển nhanh chóng đặc biệt trong lĩnh vực
vận tải và truyền thông. Sự phát triển của khoa học công nghệ đã góp phần vào quá
trình thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp do làm giảm chi phí cho các doanh nghiệp.
Để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhất là những sáng chế, phát minh liên quan đến công
nghệ tiên tiến, tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới trong giai đoạn này cũng được thành lập
vào năm 1967. Về thương mại, năm 1947 Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại cũng được ký kết (GATT 47) cơ bản loại bỏ sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia
trên thế giới. Từ năm 1950, hoạt động thương mại quốc tế phát triển nhanh chóng, tốc
độ tăng trưởng thương mại tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng sản xuất sản phẩm. Về
di chuyển lao động, không giống như thời kỳ trước chiến tranh thế giới thứ nhất, di
chuyển lao động đã được hạn chế và được thắt chặt thông qua Luật nhập cư của các
nước trên thế giới. Ở thời kỳ này đã xuất hiện đầu tư trực tiếp giữa các nước tư bản
phát triển hoặc các nước đang phát triển với nhau. Để đảm bảo cho hoạt động đầu tư
trực tiếp quốc tế phát triển, các nước bắt đầu ký kết những hiệp định khuyến khích và
bảo hộ đầu tư song phương từ những giữa những năm 60 của thế kỷ XX. Cuối cùng,
một trong những điểm nổi bật của giai đoạn này đó là chính sách tự do hóa đầu tư bắt
đầu được hình thành và phát triển từ giữa năm 1980.
quá trình sản xuất kinh doanh;
- Về quyền điều hành quản lý, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc
vào mức vốn góp, nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì quyền hành hoàn
toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý;
- Về phần chia lợi nhuận, dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ, đều được
phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ các khoản đóng góp.
Từ những quan niệm trên có thể hiểu: FDI là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình
thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để
đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế
về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý... nhằm mục đích thu lợi nhuận.
1.1.1.3. Bản chất FDI
Đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp
(FPI). Trong đó, FDI quan trọng hơn nhiều, dù cho đầu tư gián tiếp có xu hướng tăng
lên (trong năm 1992, FDI lên tới khoảng 15 tỷ USD, bằng 38% tổng chu chuyển vốn
nước ngoài còn đầu tư gián tiếp lên tới 4,7 tỷ USD). FDI tăng lên nhanh chóng trong
Trần Thị Thuỳ Dinh
14
những năm qua với đặc điểm tập trung co cụm về địa dư, ngành, và hãng. Hầu hết FDI
diễn ra ở Đông Á (Malaisia, Thái Lan, Singapore, Hong Kong, Trung Quốc) và Châu
Mĩ Latinh (Brazil, Mexico), trong lĩnh vực thiết bị vận tải, hoá chất, máy móc và điện
tử. Một số lượng ít các hãng lớn từ các nước công nghiệp chiếm một phần lớn đầu tư
nước ngoài. Mô hình đầu tư cũng thiên lệch về địa lý; các hãng của Mỹ đầu tư mạnh
vào châu Mỹ Latinh, các hãng của Nhật đầu tư vào châu Á, còn các hãng của Anh lại
tập trung vào các nước thuộc khối Thịnh vượng Chung.
Tầm quan trọng tăng nhanh của FDI là nhờ nhận thức về những đóng góp to lớn
của FDI vào phát triển kinh tế, cung cấp cho các nước chủ nhà về vốn, công nghệ, và
kỹ năng quản lý hiện đại. FDI chịu ảnh hưởng của các yếu tố cụ thể trong nước chủ
cho nên có thể lựa chọn kỹ thuật, công nghệ thích hợp, nâng cao dần trình độ quản lý,
tay nghề cho công nhân ở nước tiếp nhận đầu tư.
- FDI liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia và sự
phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế.
1.1.1.4. Các hình thức của FDI
Có nhiều tiêu thức để xác định hình thức FDI, về cơ bản là:
Xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân làm hai hoặc đầu tư theo chiều ngang
và đầu tư theo chiều dọc.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang: là việc một công ty tiến hành
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ đang có lợi thế cạnh tranh
một loại sản phẩm nào đó. Với lợi thế này họ muốn tìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở
nước ngoài nên đã mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài. Hình thức này thường
dẫn đến cạnh tranh độc quyền mà Mỹ, Nhật Bản đang dẫn đầu việc đầu tư này ở các
nước phát triển.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc: Với mục đích khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ như lao động, đất đai của các nước nhận
đầu tư. Các nhà đầu tư thường khai thác các lợi thế cạnh tranh đó để hoàn thiện qua
lắp ráp ở nước chủ nhà. Sau đó các sản phẩm được bán trên thị trường quốc tế. Đây là
hình thức khá phổ biến của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang
phát triển.
Xét về hình thức sở hữu, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có các hình thức sau:
Trần Thị Thuỳ Dinh
16
+ Doanh nghiệp liên doanh: đây là hình thức FDI, qua đó pháp nhân mới được
thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh. Doanh nghiệp mới này do hai hoặc nhiều
bên hợp tác thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Hình thức này
Hợp đồng BOT thường được thực hiện bằng 100% vốn nước ngoài, cũng có thể
được thực hiện bằng vốn nước ngoài và phần góp vốn của chính phủ hoặc các tổ chức,
cá nhân của nước chủ nhà.
+ BTO: là phương thức đầu tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công
trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công
trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà có thể sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh
doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
hợp lý.
+ BT: là một phương thức đầu tư nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài, để xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
công trình đó cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho nhà đầu tư
nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
Các hình thức BOT, BTO, BT có ưu điểm là thu hút vốn đầu tư vào những dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng với đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian khá dài.
Như vậy sẽ làm giảm áp lực cho ngân sách, đồng thời lại có được các công trình hoàn
chỉnh để phát huy các nguồn lực khác nhằm phát triển KT - XH. Tuy nhiên, với các
phương thức này, nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ tiên
tiến và khó kiểm soát công trình.
Ngày nay, cùng với sự gia tăng của dòng vốn FDI, thì ngày càng xuất hiện nhiều
hình thức đầu tư mới, đa dạng nhằm đưa lại hiệu quả cao cho nhà đầu tư và nước nhận
đầu tư.
1.1.2. Tác động của FDI tới phát triển KT - XH
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động rất lớn đối với phát triển KT - XH của
một quốc gia, nó vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực, điều này được thể
hiện qua mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển KT - XH của
nước tiếp nhận đầu tư. Cụ thể các tác động đó bao gồm:
phải tính toán kỹ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện dự án. Trước khi tiến hành
đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài thường có sẵn một số điều kiện cơ bản như vốn, kỹ
thuật, kinh nghiệm quản lí, khả năng thị trường… tức là nhà đầu tư đã dự báo được
phần nào hiệu quả có thể thu được của đồng vốn đầu tư. Mặc dù vậy, cũng không ai
dám chắc khi có đầy đủ các điều kiện như vậy là sẽ đạt kết quả tốt trong đầu tư. Rất dễ
nhận thấy rằng khi nhà đầu tư bắt đầu bỏ vốn thực hiện dự án đầu tư thì xác suất giữa
thành công và thất bại là ngang nhau. Khi doanh nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoài
Trần Thị Thuỳ Dinh
19
kinh doanh có lãi, thì phần lãi thu được họ phải trích một phần đóng góp cho nước sở
tại, nhưng nếu kinh doanh thua lỗ thì nhà đầu tư phải gánh chịu toàn bộ. Trong trường
hợp kinh doanh gặp khó khăn thì chính các công ty mẹ ở chính quốc phải tìm cách hỗ
trợ… nói đúng hơn đây là những rủi ro có thể xảy ra mà tất cả các nhà đầu tư đều phải
tính toán trước. Điều này chỉ ra rằng không có dự án FDI ngoài nào lại không tính toán
kỹ trước khi đầu tư. Hay nói cách khác, các nhà đầu tư chỉ xin phép và triển khai dự án
khi họ tính toán thấy độ rủi ro ít và khả năng thu lợi cao. Đây là lợi thế hơn hẳn của
FDI so với các loại vốn vay khác.
Như vậy, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài là bước đi hiệu quả nhất cho các nước
để phát triển, trong đó nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và
phát triển kinh tế. Thực chất của việc làm này là tận dụng điều kiện khách quan thuận
lợi mà thế giới đã tạo ra thay vì phải mất trăm năm phát triển để tích lũy. Tức là các
nước đi sau có thể “mượn sức” những nước đi trước để thực hiện chiến lược “đi tắt
đón đầu” để thu dần khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển.
Thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản
lực, từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tiến bộ với sự giảm dần về
tỷ trọng của nông nghiệp, sự gia tăng của công nghiệp, dịch vụ trong sản xuất GDP và
cơ cấu lao động.
FDI góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Bằng việc tăng nguồn vốn đầu tư xã hội, FDI tác động đến cung - cầu lao động;
nó không những trực tiếp thu hút và sử dụng lao động, mà còn gián tiếp tạo thêm việc
làm cho các ngành dịch vụ và cho các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước.
Ở nước ta, FDI đã trực tiếp thu hút, giải quyết số lượng việc làm cho xã hội. Số
người lao động trong các doanh nghiệp FDI tăng lên hàng năm.
Cùng với việc phát triển của khu vực FDI, nhiều lĩnh vực, ngành nghề sản xuất,
cung ứng dịch vụ cho khu vực này cũng phát triển theo. Như vậy, sẽ nâng cao khả
năng tạo việc làm, giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp. Hiện nay, với chính sách tăng dần tỉ lệ
nội địa hóa trong sản phẩm của các doanh nghiệp FDI các ngành sản xuất ô tô, xe máy,
giày da, may mặc…. đã xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp vệ tinh cung cấp sản phẩm
dịch vụ cho doanh nghiệp FDI, tạo ra nhiều việc làm. Tùy theo lĩnh vực sản xuất, số
việc làm do doanh nghiệp FDI gián tiếp tạo ra tương đối lớn.
FDI tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp nhận đầu tư liên quan đến cả số
lượng và chất lượng lao động. FDI đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng
lực, kỹ năng lao động và quản trị doanh nghiệp của lao động Việt Nam. Nhiều doanh
nghiệp FDI đã tạo điều kiện cho lao động nước ta nâng cao tay nghề, tiếp cận kỹ năng,
Trần Thị Thuỳ Dinh
21
công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, rèn luyện kỷ luật, tác phong lao động
FDI làm mất cân đối trong đầu tư
Trần Thị Thuỳ Dinh
22
Việc sử dụng nhiều vốn đầu tư nước ngoài nói chung và FDI nói riêng có thể dẫn
đến việc thiếu chú trọng huy động và sử dụng tối đa vốn trong nước. Từ đó, gây ra sự mất
cân đối trong cơ cấu đầu tư (giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài), có thể gây nên sự
phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn nước ngoài, vào nhà đầu tư nước ngoài (kể cả bí quyết
kỹ thuật, công nghệ, đầu mối cung cấp vật tư, nguyên liệu, thị trường sản phẩm...). Nếu tỷ
trọng FDI chiếm quá lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thì tính độc lập tự chủ có thể bị
ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển có tính lệ thuộc bên ngoài, thiếu vững chắc.
Nguy cơ trở thành bãi thải công nghệ
Lợi dụng trình độ công nghệ thấp và quản lý yếu kém của nước chủ nhà, một số
nhà đầu tư nước ngoài thông qua con đường FDI để tiêu thụ những máy móc, thiết bị
lạc hậu, thậm chí đã thải loại sang nước tiếp nhận FDI. Thực tế ở nhiều nước cho thấy
khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nước ngoài đã tranh thủ góp vốn bằng
các thiết bị và vật tư đã lạc hậu, đã qua sử dụng (được tân trang) hoặc nhiều khi đã đến
thời hạn thanh lý. Nếu không có những quy định và sự kiểm soát chặt chẽ, nước nhận
FDI dễ trở thành “bãi thải công nghệ” của các công ty xuyên quốc gia, gây thiệt hại to
lớn cho nền kinh tế.
Do vậy, công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực thu hút và quản lý nguồn vốn
FDI cần có các biện pháp hữu hiệu để có thể giảm thiểu tình trạng tiếp nhận công nghệ
lạc hậu, thiết bị, máy móc cũ, năng suất thấp gây thiệt hại cho nền kinh tế.
bậc. Trong một thời gian dài Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế có tốc
độ tăng trưởng tương đối cao và ổn định. Quy mô nền kinh tế tăng lên, quá trình hội
nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, đời sống người dân ngày một nâng cao. Đạt được
những thành công này có phần đóng góp quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp
(DN) và khu vực FDI tại Việt Nam. Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành,
dòng vốn đàu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được khơi thông nhanh chóng và tác động
mạnh mẽ tới nền kinh tế Việt Nam thông qua huy động nguồn vốn cho phát triển, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho chuyển giao công nghệ; thúc đẩy quá trình
chuyển đổi quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao
động và mở rộng hội nhập với thế giới…; đóng góp vào ngân sách nhà nước tăng từ
5,2% năm 2000 lên 14,3% năm 2014.
Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến hết
quý I/2015, có 267 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới được cấp giấy chứng
nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 1,2 tỷ USD, chỉ bằng 59,4% so với cùng
kỳ. Việt Nam đã thu hút được 1,837 tỷ USD vốn FDI trong đó, lĩnh vực xây dựng, bất
động sản dẫn đầu với 203 triệu USD đăng ký mới. Theo dự báo năm 2015, vốn đăng
ký FDI sẽ đạt khoảng 18 tỷ USD và vốn giải ngân kỳ vọng đạt 12 tỷ USD, sau khi Việt
Nam hoàn tất nhiều thỏa thuận đàm phán từ các hiệp định thương mại song phương, đa
Trần Thị Thuỳ Dinh
24
phương, nhất là hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN, đàm phán Hiệp định đối tác
Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP)…
Như vậy, FDI không những góp phần khơi dậy đầu tư trong nước mà còn giúp
kinh tế Việt Nam hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh tích lũy không
đáp ứng nhu cầu về đầu tư, nguồn vốn FDI đã thực sự là nguồn vốn bổ sung quan
trọng cho đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, nó còn góp phần đáng kể vào thu ngân sách
và các cân đối vĩ mô; chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công