B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
PHM VN DNG
TìNH TRạNG DINH DƯỡNG CủA TRẻ EM DƯớI 5 TUổI
Và KIếN THứC, THựC HàNH NUÔI TRẻ CủA Bà Mẹ
MộT Số DÂN TộC íT NGƯờI ở ĐIệN BIÊN Và LAI CHÂU NĂM 2015
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2010 - 2016
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS PHM VN PH
H NI - 2016
LI CM N
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Viện Đào
tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn
Thực phẩm, cùng toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Y Hà Nội.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy
Phạm Văn Phú – Phó trưởng Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn Thực phẩm,
người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình
thực hiện nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Để thực hiện khóa luận này, em cũng không thể không nhắc đến và biết
ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ địa phương tỉnh Điện Biên và Lai Châu đã
WHO
Chăm sóc sức khỏe
Cân nặng theo tuổi
Chiều cao theo tuổi
Cân nặng theo chiều cao
Suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng trẻ em
Tình trạng dinh dưỡng
Qũi nhi đồng liên hợp quốc
Tổ chức Y tế thế giới
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng có vai trò quan trọng đối với quá trình tăng trưởng, phát
triển, bệnh tật của trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ em từ lúc mới sinh
cho tới 5 tuổi là thời kì phát triển đặc biệt quan trọng trong của cuộc đời, đây
vào năm 2014 [6]. Trước đây cũng đã có một số nghiên cứu về tình trạng dinh
dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở dân tộc Tày, Nùng, Thái… Tuy nhiên, chưa có
nhiều nghiên cứu trên các trẻ em dân tộc Dao và H’Mông. Do vậy đề tài:
“Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi và kiến thức, thực hành
nuôi trẻ của bà mẹ một số dân tộc ít người ở Điện Biên và Lai Châu năm
2015” được thực hiện nhằm mục tiêu:
1.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
H’Mông và dân tộc Dao ở Điện Biên, Lai Châu.
2.
Mô tả kiến thức, thực hành trong chăm sóc, nuôi trẻ của bà mẹ
người dân tộc H’Mông và dân tộc Dao ở Điện Biên, Lai Châu.
10
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm chung về dinh dưỡng
Dinh dưỡng: Là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các
thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, đảm bảo chức
năng sinh lý, tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD): Là tập hợp các đặc điểm về chức phận,
cấu trúc và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
TTDD là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như: tình trạng an
ninh thực phẩm hộ gia đình, tình hình kinh tế, xã hội tại địa phương, kinh tế
hộ gia đình, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác chăm sóc trẻ em, gánh
Độ và Pakixtan. Năm 2004 tỷ lệ trẻ em từ 0-59 tháng tuổi bị thiếu cân ở
Bangladet là 48%, Ấn Độ là 47%, Pakixtan là 38% [12].
Các cuộc điều tra của nhiều nước trên thế giới cho thấy tỷ lệ SDD có
sự chênh lệch giữa vùng nông thôn và thành thị. Kết quả khảo sát tình hình
kinh tế xã hội quốc gia ở Indonesia năm 2003 cho kết quả lệ SDD ở trẻ em
dưới 5 tuổi vùng thành thị là 25% trong khi đó ở nông thôn là 30% [13].
Tại Kenya, theo báo cáo chung năm 2003, tỷ lệ SDD ở thành thị là 13%
còn ở nông thôn là 21% [14].
Thống kê của Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO), Ngân hàng Thế giới năm 2011 về suy dinh dưỡng trẻ em
(SDDTE) dưới 5 tuổi Châu Á vẫn là châu lục đứng đầu về tỷ lệ 19,3% nhẹ
cân (69,1 triệu) và tỷ lệ 10,1% gầy còm (30,1 triệu). Riêng trẻ thấp còi châu
Phi chiếm tỷ lệ cao nhất 36,5% (56,3 triệu), tiếp theo là châu Á 26,8% (98,4
triệu). Hai châu lục này chiếm 90% trẻ thấp còi trên toàn cầu [15]. Một số
nước ở khu vực Đông Nam Á, các nước có tỷ lệ SDD cao và không có khả
năng đạt được mục tiêu thiên niên kỷ bao gồm: Lào (40%), Campuchia
(36%), Myanmar (32%) và Đông Timor (46%). Nhiều nước đã đạt được tiến
bộ trong giảm tỷ lệ SDD cấp độ quốc gia song một số bộ phận dân cư vẫn
phải đối mặt với điều kiện CSSK và dinh dưỡng kém như Indonesia (28%),
12
Philippine (28%) và Việt Nam (21%) [16]. Trong những năm gần đây
SDDTE có xu hướng giảm trên phạm vi toàn cầu.
1.2.2. Tình hình SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam
Nước ta là một trong những nước có tỉ lệ SDDTE nhẹ cân giảm liên tục
từ mức rất cao 51,5% vào năm 1985 xuống còn 44,9% vào năm 1995, mỗi
năm giảm trung bình 0,66% [5]. Từ năm 1995 bắt đầu thực hiện kế hoạch
quốc gia về dinh dưỡng, SDDTE thể nhẹ cân giảm trung bình mỗi năm 1,5%,
Thể thấp còi
(%)
33,9
29,8
37,6
36,2
36,2
33,2
42,3
28,1
30,8
Thể gầy còm
(%)
7,1
6,7
7,6
7,6
7,6
7,6
7,8
6,6
7,5
(Nguồn: Báo cáo thống kê của Viện Dinh dưỡng năm 2007)
Phân bố về tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi là không đều theo các khu vực,
miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có tỷ lệ cao hơn cả ở cả 3 thể.
Theo số liệu báo cáo năm 2014 của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ SDDTE dưới
5 tuổi của nước ta đã giảm nhiều cụ thể là: Thể nhẹ cân 14,5%, thể thấp còi
còi (%)
24,9
20,3
30,7
28,1
34,9
18,3
24,0
Thể gầy còm (%)
Vừa
Nặng
6,8
4,8
5,2
4,1
8,2
2,8
6,7
3,9
7,8
3,2
5,4
9,9
6,8
5,9
(Nguồn: Báo cáo thống kê của Viện Dinh dưỡng năm 2014)
Tình hình SDDTE dân tộc thiểu số
núi cao, cao hơn nhiều so với trẻ em sống tại vùng đồng bằng, tỷ lệ trẻ SDD
thuộc dân tộc thiểu số cao hơn nhiều so với trẻ dân tộc Kinh.
1.3. Một số phương pháp đánh giá
Đánh giá TTDD là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về
TTDD và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin, số liệu đó. Tình hình
dinh dưỡng của một cộng đồng, một địa phương cũng như trên phạm vi cả
nước là một nguồn dẫn liệu rất quan trọng để xây dựng và đánh giá các dự án
về sức khỏe và phát triển kinh tế xã hội.
Những phương pháp đánh giá TTDD thường dùng: nhân trắc học, điều
tra khẩu phần và tập quán ăn uống, các thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm
sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng,
xét nghiệm chủ yếu là hoá sinh (máu, nước tiểu...), kiểm nghiệm chức phận
để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng, điều tra tỷ lệ
bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh tật và TTDD, đánh
giá các yếu tố sinh thái liên quan đến TTDD và sức khỏe… Trong đó phương
pháp nhân trắc học dinh dưỡng thường được sử dụng trong cộng đồng.
15
Nhân trắc học dinh dưỡng là đo các kích thước và cấu trúc cơ thể để
đánh giá TTDD. Đó là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và môi
trường bên ngoài, trong đó yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng. Nhiều
nghiên cứu gần đây cho thấy dinh dưỡng hầu như giữ vai trò chi phối chính
trong sự phát triển của trẻ em, ít nhất là đến 5 tuổi. Vì vậy thu thập các kích
thước nhân trắc là rất quan trọng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng.
Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây:
• Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng.
• Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều dài nằm, chiều cao
đứng, chu vi vòng cánh tay.
Mức độ thiếu dinh dưỡng theo tỷ lệ
Thấp
Cao
Trung
Rất cao
(%)
< 20
< 10
17
Dựa vào chiều cao theo tuổi so với chuẩn và cân nặng so với chiều cao.
Phân loại này có ưu điểm dễ thực hiện tại cộng đồng và cho biết tỷ lệ SDD
cấp hay mạn tính.
Bảng 1.6. Bảng phân loại SDD theo Waterlow
Cân nặng theo chiều cao (80% hay -2SD)
≥ 80%
< 80%
Chiều cao/tuổi
≥ 90%
Bình thường
Gầy mòn
(90% hay -2SD)
< 90%
Còi cọc
Gầy mòn - còi cọc
1.3.2. Phương pháp đánh giá TTDD trẻ em dưới 5 tuổi
Chỉ tiêu
Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới WHO các chỉ tiêu đánh giá
tình trạng dinh dưỡng là cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng
theo chiều cao. Thiếu dinh dưỡng được ghi nhận là khi các chỉ tiêu nói trên
thấp hơn 2 đơn vị độ lệch chuẩn (-2SD) hoặc dưới -2 Z-Score so với quần thể
tham chiếu.
Bảng 1.7. Phân loại mức độ dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi của WHO
Chỉ tiêu
Phân loại
Bình thường
≥ -2SD
- 2SD
Dưới -3SD
Bảng 1.8. Phân loại WHO năm 2006 theo Z-Score
Chiều cao/Tuổi
< -2: Thấp còi
< -3: Thấp còi trầm trọng
Cân nặng/Chiều cao
> 3: Béo phì
> 2: Thừa cân
> 1: Nguy cơ thừa cân
< -2: Còm
< -3: Còm trầm trọng
Cân nặng/Tuổi
< -2: Nhẹ cân
< -3: Nhẹ cân trầm trọng
BMI/Tuổi
> 3: Béo phì
> 2: Thừa cân
> 1: Nguy cơ thừa cân
< -2: Còm
< -3: Còm trầm trọng
18
đó là ỉa chảy và nhiễm khuẩn hô hấp. Số lần mắc trung bình của trẻ em Việt
Nam trong 1 năm đối với ỉa chảy là 2,2 lần, viêm phổi là 1,6 lần [28]. Như
vậy cùng với thiếu dinh dưỡng thì nhiễm khuẩn cũng là nguyên nhân hàng
đầu dẫn tới trẻ SDD [8].
- Do mẹ thiếu kiến thức: Kiến thức của bà mẹ trong việc chăm sóc trẻ
ảnh hưởng rất lớn tới TTDD của trẻ. Những nghiên cứu ở cộng đồng cũng
cho thấy số trẻ SDD 71% là con thứ nhất, 60% các bà mẹ không biết cách cho
con ăn bổ sung và không biết thế nào là tô màu bát bột cho trẻ. Đối với trẻ
còn đang trong thời bú mẹ thì yếu tố nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung
không hợp lý đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Nghiên cứu của
một số tác giả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về trình độ văn hóa cũng như
kiến thức dinh dưỡng giữa nhóm bà mẹ có con SDD và nhóm bà mẹ có con
khỏe mạnh [29],[30]. Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2002 cho thấy:
tỷ lệ trẻ ăn bổ sung quá sớm là rất cao, ngay ở tháng tuổi thứ 2 đã được ăn bổ
sung là 12,5%, trước 4 tháng là 32,7% [31]. Ăn bổ sung là rất cần thiết cho sự
phát triển của trẻ nhưng hiện nay do thiếu kiến thức của các bà mẹ nên việc
thực hiện ăn bổ sung cho trẻ còn chưa đúng thời gian, thức ăn bổ sung chưa
đạt yêu cầu về số lượng, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Một số nguyên nhân khác: Trẻ bị dị tật như sứt môi, hở hàm ếch, hẹp,
phì đại môn vị, tim bẩm sinh, SDD bào thai, đẻ non…
1.4.2. Một số hoạt động làm giảm nguy cơ SDD của trẻ
- Chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho phụ nữ mang thai và cho con
bú: Phụ nữ mang thai và cho con bú cần có chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp
lý, quản lý thai nghén.
- Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ: Sữa mẹ không chỉ là nguồn thức ăn
có giá trị dinh dưỡng tốt nhất giúp cho sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ
mà còn cung cấp một lượng lớn các kháng thể giúp trẻ chống đỡ bệnh tật
trong những năm đầu của cuộc đời và đặc biệt là trong 6 tháng đầu. Vì vậy
21
đào tạo: 3 Y sỹ đa khoa, 2 Nữ hộ sinh, 4 Điều dưỡng trung cấp. Huyện có 104
thôn bản hiện mới có 89/104 có y tế thôn bản hoặc cô đỡ thôn bản.
+ Lai Châu là tỉnh miền núi cao, nằm phía Tây Bắc nước ta, phía Bắc
tỉnh Lai Châu giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, phía Đông giáp tỉnh Lào Cai,
Yên Bái, Sơn La, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Điện Biên.
Diện tích tự nhiên gồm 9112,3 km 2, dân số: 319.900 người, gồm 20 dân
tộc cùng chung sống, dân tộc Dao gồm 51.995 người chiếm 13,41% tổng dân
số, là nhóm đông dân thứ 4 tại Lai Châu. Người Dao có nền văn hoá lịch sử
lâu đời và tri thức dân gian rất phong phú, đặc biệt là y học cổ truyền, các bài
thuốc dân gian lưu truyền trong cộng đồng, bằng ngôn ngữ, chữ viết riêng,
truyền thống văn hóa được bảo tồn và phát triển trong cộng đồng. Thầy cúng
là người có uy tín lớn nhất bản. Người Dao là một cộng đồng cư dân canh tác
vào vùng rẻo cao giữa đồi núi. Họ sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương
và lúa nước, nhưng còn nặng nề nhiều hủ tục lễ nghi cúng bái, vừa tốn kém
vừa rườm rà.
Huyện Sìn Hồ là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lai Châu, giáp với
Trung Quốc, diện tích 1746 km2, giao thông đi lại khó khăn, xã xa nhất cách
huyện 180 km và chưa có đường ô tô vào trung tâm xã. Huyện gồm 21 xã và
01 thị trấn. Đội ngũ cán bộ y tế làm chương trình dinh dưỡng tuyến huyện có
5 người trong đó có 2 người có trình độ đại học, 22/22 xã có cán bộ chuyên
trách dinh dưỡng với trình độ đào tạo: 9/22 là Y sỹ đa khoa, 6/22 là Nữ hộ
sinh + y tá kỹ thuật, 7/22 là Điều dưỡng trung học, 187/212 thôn bản có y tế
thôn bản hoặc cô đỡ thôn bản hoạt động.
4 xã có đồng bào dân tộc Dao sinh sống gồm: Tả Phìn, Căn Co, Nậm
Hăn, Phăng Sô Lin chiếm hơn 80% dân số trong xã.
23
= 0,05 là độ chính xác mong muốn
Thay vào công thức n = x 0,2(1 – 0,2) / = 246
Như vậy ta sẽ chọn mỗi huyện tối thiểu 246 trẻ tham gia nghiên cứu.
Tổng số trẻ được điều tra của 2 huyện thuộc 2 tỉnh Điện Biên và Lai Châu là
492 trẻ.
- Phương pháp chọn mẫu: theo nhiều giai đoạn
Giai đoạn 1: Dựa vào số liệu dân số của Cục thống kê tỉnh Điện Biên và
Lai Châu năm 2014, chọn 2 huyện Mường Chà và Sìn Hồ
Giai đoạn 2: Từ mỗi huyện chọn 4 xã có tỷ lệ đồng bào dân tộc H’Mông
và Dao chiếm đa số > 70% được xác định là:
+ Huyện Mường Chà (Điện Biên): Huổi Lèng, Hừa Ngài, Sa Lông, Ma Thì Hồ.
+ Huyện Sìn Hồ (Lai Châu): Tả Phìn, Căn Co, Nậm Hăn, Phăng Sô Lin.
Giai đoạn 3: Từ 8 xã được chọn vào nghiên cứu, lập danh sách trẻ dưới
5 tuổi người dân tộc H’Mông và dân tộc Dao với đầy đủ thông tin về ngày
tháng năm sinh, tên bà mẹ của mỗi xã. Tiến hành chọn mẫu nghiên cứu theo
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn cho đến khi lấy được ít nhất là đủ số
lượng theo cỡ mẫu dự kiến.
2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu
2.5.1. Đo các chỉ số nhân trắc của trẻ dưới 5 tuổi
- Cách tính tuổi:
* Tuổi bà mẹ: Tính bằng năm
* Tuổi của trẻ: Tính bằng tháng
* Tuổi theo tháng:
24
+ Trẻ từ 1 - 29 ngày: 0 tháng
- Cân nặng
Sử dụng cân điện tử TANITA và cân lòng máng, chính xác đến 0,1 kg.
Cân được chuẩn trước mỗi lần cân cho trẻ.
Phòng cân: Phải thoáng mát và có đầy đủ ánh sáng.
Vị trí đặt cân: Cân được đặt trên các mặt phẳng chắc chắn, không gồ ghề.
Thao tác: Trẻ không mang theo các đồ vật nào khác bên người vì có
thể làm sai số cân nặng thực của trẻ. Hai bàn chân của trẻ được đặt theo
hình chữ V trên mặt cân, đứng yên, người cân sẽ đọc cân nặng của trẻ đến
một chữ số thập phân. Trong trường hợp trẻ không thể đứng trên cân điện
tử thì cân lòng máng sẽ được sử dụng. Trẻ cũng được chuẩn bị và được cân
tương tự như trên.
2.5.2. Các yếu tố khác
Các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội, tình hình nuôi dưỡng, chăm sóc và
bệnh tật của trẻ theo phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp bà mẹ.
2.5.3. Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Dựa vào bảng phân loại dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi của WHO năm
2006 (Bảng 1.8). Với điểm ngưỡng được chọn là -2SD đơn vị. Những trẻ có
các chỉ tiêu < -2SD (theo CC/T, CN/T, CN/CC) sẽ được coi là SDD và trẻ có
chỉ tiêu càng thấp thì tình trạng SDD càng nặng.