ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ điều TRỊ ĐAU THẮT LƯNG BẰNG GIÁC hơi tại BỆNH VIỆN THANH NHÀN năm 2015 - Pdf 36

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐỖ THỊ HỒNG CÚC

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
ĐAU THẮT LƯNG BẰNG GIÁC HƠI
TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2010 – 2016
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Ths.Bs. PHẠM THỊ ÁNH TUYẾT

HÀ NỘI – 2016


2

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này, tôi
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của các thầy cô, gia
đình, các anh chị và các bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu và phòng Đào tạo Đại học trường Đại học Y Hà Nội,
Khoa Y học cổ truyền, Ban lãnh đạo viện và khoa Y học cổ truyền, bệnh viện


4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNSH

: Chức năng sinh hoạt

CSTL

: Cột sống thắt lưng

LS

: Lâm sàng

n

: Số bệnh nhân

NC

: Nghiên cứu

PHCN

: Phục hồi chức năng

T0



DANH MỤC BIỂU ĐỒ


8

DANH MỤC HÌNH


9

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau thắt lưng là bệnh lý rất thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế
giới, bệnh xảy ra với cả nam và nữ, gặp nhiều nhất ở độ tuổi lao động, ảnh
hưởng tới năng suất và ngày công lao động [1]. Allan D.B và Waddell G cho
rằng đau lưng là phổ biến nhất. Theo một số tác giả thì đau thắt lưng đứng
hàng thứ hai sau các bệnh cảm cúm khiến người bệnh phải đi khám [2]. Theo
Anderson – 1997, tỷ lệ đau vùng thắt lưng hàng năm trung bình là 30% (giao
động trong khoảng 15 – 45%). Tại Mỹ, đây là nguyên nhân hàng đầu gây hạn
chế vận động của phụ nữ dưới 45 tuổi, là nguyên nhân đứng thứ hai khiến
bệnh nhân đi khám bệnh và là nguyên nhân nằm viện đứng thứ 5 và đau vùng
thắt lưng đứng thứ 3 trong số các bệnh phải phẫu thuật (Andersson – 1999).
Có thể nói đây là một triệu chứng hơn một bệnh [3]. Có rất nhiều nguyên
nhân gây ra đau thắt lưng nhưng 90 – 95% nằm ở nhóm nguyên nhân cơ học,
chủ yếu là thoát vị đĩa đệm, thoái hóa khớp, trượt đốt sống, hẹp ống sống, gù
vẹo cột sống.
Ở Mỹ, tỷ lệ các bệnh đau thắt lưng hàng năm là 15 – 20%. Ở Việt nam,
theo Phạm Khuê trong điều tra tình hình bệnh tật, đau thắt lưng chiếm 2%
trong nhân dân, chiếm 17% những người trên 60 tuổi. Năm 2014,tại khoa Y
học cổ truyền Bệnh viện Thanh Nhàn số lượt điều trị liên quan đến đau thắt

Thực hiện phương châm này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá tác dụng điều trị đau thắt lưng bằng giác hơi tại Bệnh viện Thanh
Nhàn năm 2015” nhằm hai mục tiêu:
1. Đánh giá hiệu quả điều trị đau thắt lưng bằng phương pháp giác hơi tại
Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2015.
2. Khảo sát tác dụng không mong muốn của phương pháp.


11

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu – sinh lý cột sống thắt lưng
Cột sống thắt lưng: gồm 5 đốt sống, 4 đĩa đệm và 2 đĩa đệm chuyển
đoạn. Đây là nơi chịu tải 80% trọng lượng cơ thể và có tầm hoạt động rộng
theo mọi hướng [9],[10],[11],[12].

Hình 1.1.Các đốt sống thắt lưng
1.1.1. Cấu tạo đĩa đệm – khớp liên cuống
- Đĩa đệm: Nằm trong khoang gian đốt, là một cấu trúc không xương kết
nối hai thân đốt sống trong trụ cột trước. Cấu trúc đĩa đệm đặc trưng
gồm hai phần: nhân nhầy chứa chất căn bản keo và phần ngoại vi là
những bó sợi xếp thành các vòng đồng tâm.
- Khớp liên cuống: Là những khớp thực thụ, gồm diện khớp là sụn, bao
hoạt dịch, hoạt dịch và bao khớp. Khi đĩa đệm bị thoái hóa hoặc thoát vị,
chiều cao khoang gian đốt giảm dẫn đến sai lệch vị trí khớp, thúc đẩy
quá trình thoái hóa và gây đau cột sống.


12

13

có đau cột sống thắt lưng cấp tính hoặc từng đợt một vài lần trong cuộc đời và
khoảng 10% số này bị chuyển thành đau cột sống thắt lưng mạn tính [13],
[14]. Đau vùng thắt lưng do nhiều nguyên nhân gây nên, đòi hỏi phải xác định
nguyên nhân thì điều trị mới có kết quả.
1.2.2. Nguyên nhân
Đau thắt lưng là hội chứng bệnh lý gặp trong nhiều chuyên khoa khác
nhau có nguyên nhân rất phức tạp. Chỉ có 10 – 15% số trường hợp đau thắt
lưng xác định được nguyên nhân, còn tới 85 – 90% chưa xác định được
nguyên nhân chính xác, người ta gọi là đau thắt lưng cơ năng. Những nguyên
nhân này chỉ có hiện tượng đau và hạn chế vận động CSTL nhưng không có
rối loạn về cận lâm sàng và Xquang. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến đau
thắt lưng, trong đó có các vấn đề về kinh tế, xã hội, tâm lý. Do đó, đau lưng
không thể coi chỉ là một bệnh của y học mà còn là phức hợp các yếu tố: tâm
sinh lý, xã hội trong đó yếu tố tâm lý là rất quan trọng [15],[16],[17].
Nguyên nhân gây đau vùng thắt lưng được chia thành hai nhóm chính:
do nguyên nhân cơ học hoặc là triệu chứng của một bệnh toàn thể.
Đau thắt lưng do nguyên nhân cơ học, còn gọi là đau vùng thắt lưng “thông
thường” (les lombalgies communes) bao gồm các nguyên nhân tương ứng với
các bệnh lý cơ giới, có thể ảnh hưởng tới cơ, đĩa đệm, các khớp liên mấu. Các
nguyên nhân này chiếm tới 90 – 95% số nguyên nhân đau vùng thắt lưng, diễn
biến thường lành tính.
Đau vùng thắt lưng triệu chứng gợi ý một bệnh trầm trọng hơn như các
bệnh lý về xương, thấp khớp, chấn thương, nhiễm khuẩn, ung thư. Nhóm này
rất cần được khám chuyên khoa, làm các xét nghiệm nhằm xác định chẩn
đoán và có hướng điều trị theo nguyên nhân.


14

1.2
1.3

Đau thắt lưng dưới 7 ngày, không lan
Đau thắt lưng dưới 7 ngày, lan xuống đùi
Đau thắt lưng dưới 7 ngày, lan xuống chân

Bán
cấp

2.1
2.2
2.3

Đau thắt lưng từ 7 ngày – 3 tháng, không lan
Đau thắt lưng từ 7 ngày – 3 tháng, lan xuống đùi
Đau thắt lưng từ 7 ngày – 3 tháng, lan xuống chân

Mạn
tính

3.1
3.2
3.3

Đau thắt lưng trên 3 tháng, không lan
Đau thắt lưng trên 3 tháng, lan xuống đùi
Đau thắt lưng trên 3 tháng, lan xuống chân

1.2.4. Triệu chứng đau thắt lưng do nguyên nhân cơ học

sản phụ khoa, phế quản – phổi…


16

+ Không có biểu hiện đau các vùng cột sống khác: Lưng, cổ, sườn, khớp
khác…
+ Cũng cần khai thác về cách thức sống, đặc điểm cá nhân và trạng thái tinh
thần của bệnh nhân vì đau vùng thắt lưng do nguyên nhân tâm lý cũng rất
thường gặp. Với loại đau thắt lưng này, các xét nghiệm và Xquang hoàn toàn
bình thường [19].
1.2.4.2.Cận lâm sàng
- Hội chứng viêm sinh học và bilan phospho – calci âm tính: Đây là triệu
chứng âm tính hết sức quan trọng và là điều kiện để chẩn đoán đau vùng
thắt lưng do cơ học.
- Xquang quy ước: Nói chung không cần thiết phải chụp Xquang với tất
cả người bệnh. Có thể gặp một số hình ảnh dưới đây:
+ Xquang cột sống thắt lưng bình thường.
+ Hình ảnh thoái hóa cột sống: Hẹp khe khớp đĩa đệm; đặc xương dưới
sụn; xẹp các diện dưới sụn; chồi xương (gai xương tại thân đốt sống)…
+ Hình ảnh trượt đốt sống ra trước thường do gãy phần lá tại cung đốt
sống, còn gọi là “gãy cổ chó”.
+ Hình ảnh loãng xương: Các đốt sống tăng thấu quang; khe đĩa đệm
không hẹp, không nham nhở; các mâm đốt sống rõ nét, đặc, tạo thành các
đường viền giới hạn thân đốt sống.
1.2.5. Các phương pháp điều trị
Điều trị đau thắt lưng được chia ra làm hai phương pháp: bảo tồn và
phẫu thuật.
1.2.5.1. Nguyên tắc chung [1]
- Nghỉ ngơi và bất động.

các trường hợp:
- Các di lệch đốt sống, chèn ép tủy sống, hội chứng đuôi ngựa.
- Phẫu thuật làm cứng, cố định từ hai đốt sống trở nên khi có nguy cơ lún
đốt sống, gù vẹo.
- Thoát vị đĩa đệm gây chèn ép tủy sống hoặc thần kinh nặng.
- Hẹp ống sống gây ép tủy sống nặng.


18

1.3. Chứng yêu thống theo Y học cổ truyền
Y học cổ truyền xếp đau thắt lưng vào chứng tý, chứng yêu thống [6],[7],
[8],[22].
1.3.1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
1.3.1.1. Nội thương:
Chính khí hư yếu làm cho khí huyết lưu thông ở hệ kinh lạc bị ứ trệ.
Theo lý luận của y học cổ truyền “thông tắc bất thống, thống tắc bất thông”
nghĩa là khí huyết vận hành trong kinh lạc được lưu thông thì không đau, còn
khí huyết vận hành trong kinh lạc bế tắc sẽ gây đau, bế tắc chỗ nào sẽ gây đau
chỗ đó.
Do tuổi cao, mắc bệnh quá lâu sức khỏe kém đến nỗi thận tinh sút kém,
hoặc do bẩm tố tiên thiên thận tinh bất túc gây ra “ Yêu thống’’.
1.3.1.2. Ngoại nhân:
Do tà khí từ bên ngoài cơ thể thừa lúc tấu lý sơ hở xâm nhập vào kinh lạc
gây bệnh. Trong nội kinh đã mô tả, nguyên nhân của chứng tý chủ yếu do ảnh
hưởng của phong tà, hàn tà và thấp tà.
Phong tà: Phong là gió, chủ khí mùa xuân, có tính di chuyển, đột ngột
xuất hiện và đột ngột mất đi. Bệnh thường khởi phát đột ngột, diễn biến nhanh.
Hàn tà: Chủ khí mùa đông, có tính chất ngưng trệ làm cho khí huyết,
kinh lạc bị bế tắc. Do bản thân người bệnh sẵn có tình trạng ngưng trệ khí

1.3.2.3. Thể can thận hư
Triệu chứng lâm sàng: Đau vùng thắt lưng âm ỉ, đau tăng khi vận động,
giảm khi nghỉ ngơi, kèm hoa mắt chóng mặt, ù tai, triều nhiệt, cốt chưng, đạo
hãn. Đại tiện táo, tiểu vàng, rêu lưỡi vàng, mạch trầm tế sác.
Chẩn đoán bát cương: Biểu lý tương kiêm, hư trung hiệp thực, nhiệt.
Pháp điều trị: Bổ can thận, thông kinh hoạt lạc.
1.3.3. Điều trị theo Y học cổ truyền


20

Cũng như y học hiện đại, y học cổ truyền cũng có nhiều phương pháp
điều trị chứng yêu thống mang lại hiệu quả cao.
1.3.3.1. Phương pháp dùng thuốc
Theo y học cổ truyền, mỗi thể bệnh có một pháp điều trị đặc thù với
nhiều bài thuốc cho từng thể. Trên lâm sàng, mỗi bệnh nhân với các đặc điểm
khác nhau, phải dựa theo chứng mà gia giảm cho phù hợp [8].
- Thể phong hàn thấp dùng bài “ Can khương thương truật thang” gia giảm.
- Thể huyết ứ dùng bài “ Tứ vật đào hồng thang” gia vị.
- Thể can thận hư:
+ Độc hoạt tang ký sinh thang.
+ Nếu thiên thận dương hư dùng bài “ Hữu quy hoàn”.
+ Nếu thiên thận âm hư dùng bài “ Tả quy hoàn”.
1.3.3.2. Phương pháp không dùng thuốc
 Xoa bóp bấm huyệt [23]
Xoa bóp là phương pháp ra đời từ rất sớm và phát triển trên cơ sở tích
lũy những kinh nghiệm trong quá trình chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Dưới
ánh sáng của lý luận y học cổ truyền, xoa bóp được làm một cách bài bản, tác
động một cách có hiệu quả lên bì phu, cơ nhục, gân cốt và các điểm đặc biệt
mà y học cổ truyền gọi là huyệt. Thông qua tác động vào kinh lạc, và huyệt,

chỗ do đó có tác dụng giảm đau.
Trong điều trị “Yêu thống”, châm cứu được chỉ định trong mọi mức độ
đau. Các huyệt được lựa chọn theo nguyên tắc “tuần kinh thủ huyệt” và theo
kinh nghiệm. Các huyệt thường được dùng là: Hoa Đà giáp tích, Thận du, Đại
trường du, Ủy trung, Dương lăng tuyền và một số huyệt khác…Bệnh nhiệt thì
châm, bệnh hàn thì cứu.
Để tăng thêm tác dụng của châm cứu, và thuận tiện cho việc thực hiện
thủ thuật này, ngày nay sử dụng phương pháp điện châm, kim châm cứu được


22

mắc với các nguồn điện kích thích phù hợp, làm tăng hiệu quả giãn cơ, giảm
đau.
1.4. Phương pháp giác hơi
1.4.1. Đại cương
Liệu pháp giác hơi có nguồn gốc từ YHCT Trung Quốc, có lịch sử từ
hàng ngàn năm nay. Sử dụng một trong các loại chén tre, chén sành, chén
thủy tinh, đặt chúng lên các vùng trên da bệnh nhân, để làm chỗ đó xung
huyết hoặc chảy máu cục bộ, nhằm mục đích chữa bệnh. Việc sử dụng giác
hơi trong điều trị bệnh nói chung là an toàn qua thực tế lâm sàng sử dụng lâu
dài và các báo cáo từ các nghiên cứu lâm sàng. Có 7 phương pháp giác chính
được sử dụng ở Trung Quốc là: Giác cơ bản, huyết giác, uốn kim, thuốc giác,
uốn nước, đèn flash giác, kim giác. Mỗi phương pháp giác được sử dụng điều
trị các bệnh khác nhau và mục đích điều trị khác nhau như: giảm đau, giãn cơ
liên quan đến đau cơ mãn tính, đau thần kinh, thoái hóa cột sống, đau do
Zona; giảm ho và hen suyễn do lạnh; cảm lạnh thông thường; điều trị mụn
trứng cá; mề đay; viêm tuyến vú…[26]. Tác dụng của giác ảnh hưởng bởi
các yếu tố như nhiệt độ giác, áp suất giác, thời gian lưu giác, vị trí giác, tình
trạng sức khỏe của bệnh nhân. Phương pháp giác hơi không chỉ có tác dụng

người ta so sánh chỉ số tiêu diệt vi khuẩn của tế bào bạch cầu số lượng huyết
thanh. Kết quả cho thấy sau khi giác hơi, chỉ số này cao hơn rõ rệt. Ngoài ra
liệu pháp “giác hơi” cũng có tác dụng nâng cao rõ rệt đối với một số chức
năng miễn dịch đặc biệt khác.
1.4.3. Cơ chế tác dụng của giác hơi theo YHCT


24

Như đã trình bày ở phần châm cứu, bệnh tật phát sinh là do mất cân bằng
âm dương, và cơ chế chữa bệnh là lặp lại cân bằng âm dương đã mất. Giác hơi
thông qua việc đặt ống hút lên một số vị trí xác định trên cơ thể, có thể giúp
điều chỉnh phủ tạng khí công, giúp cơ thể đạt được trạng thái cân bằng âm
dương. Bệnh tật phát sinh do nguyên nhân bên ngoài (ngoại nhân, tà khí), hoặc
do nguyên nhân bên trong (nội nhân). Tà khí thực thì phải loại bỏ tà khí, chính
khí hư thì phải bổ. Thông qua tác dụng hít và nhổ của giác hơi, có thể đưa tà
khí ra ngoài và nâng cao chính khí cho cơ thể.
Kinh lạc là đường vận hành của khí huyết, khi cơ thể phát sinh bệnh tật,
kinh lạc bị ứ trở không thông, khí huyết không điều hòa. Theo YHCT “thông
thì bất thống, thống thì bất thông”. Thông qua lực hút và nhiệt độ của giác hơi
có thể làm đả thông kinh lạc, khí huyết lưu thông, đã thông thì không còn đau
nữa, từ đó đạt được hiệu quả chỉ thống (cắt đứt cơn đau).
1.4.4. Chỉ định
- Cảm lạnh hay nóng.
- Bệnh đường hô hấp: viêm phế quản, hen suyễn...
- Bệnh đường tiêu hóa: Đau bụng, sôi bụng, đại tiện lỏng.
- Bệnh cơ xương khớp: Đau cổ vai gáy, đau lưng, đau tay do lạnh.
- Bệnh hệ thần kinh: Đau đầu, đau thần kinh liên sườn, đau thần kinh tọa...
- Bệnh phụ khoa: Thống kinh, bế kinh, bạch đới...
- Bệnh ngoài da: Mụn nhọt, chắp lẹo.

khá là 26,7%, trung bình là 10%, kém là 16,7% [30].
Năm 2008, Lương Thị Dung đánh giá tác dụng của phương pháp điện
châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt điều trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống
cho kết quả: tỷ lệ khỏi là 57,2%, khá là 31,4%, trung bình là 11,4% và không
có bệnh nhân ở mức độ kém [31].
Từ những nghiên cứu trên có thể rút ra kết luận, việc điều trị đau thắt
lưng bằng phương pháp châm cứu, hoặc kết hợp châm cứu với phương pháp
khác cho hiệu quả cao. Công thức huyệt sử dụng huyệt Ủy trung, Hoa Đà giáp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status