1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phì đại lành tính tuyến tiền liệt là bệnh thường gặp ở nam giới tuổi cao. Tần
suất bị bệnh tăng lên khi tuổi thọ càng cao. Ở Hoa Kỳ, mỗi năm có tới 1,2 triệu
người đi khám về bệnh này, trong đó có 400.000 người phải can thiệp [64]. Tại
Pháp, bệnh chiếm tỷ lệ 35- 40% nam giới ngoài 50 tuổi. Ở Trung Quốc (theo
Vương kỳ- Trung y học Bắc kinh, 1995) người trên 50 tuổi phì đại lành tính tuyến
tiền liệt chiếm tỷ lệ trên 20%.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây bệnh có xu hướng tăng lên [45].
Trong 5 năm (1982- 1986), số bệnh nhân phẫu thuật phì đại lành tính tuyến tiền liệt
chiếm tới 11,8% tổng số bệnh nhân điều trị phẫu thuật tiết niệu tại bệnh viện SaintPaul [5]. Từ năm 1992 đến 1994 tại khoa Ngoại Tiết niệu bệnh viện Việt - Tiệp, Hải
Phòng đã điều trị cho 268 trường hợp phì đại lành tính tuyến tiền liệt, chiếm tỷ lệ 26%
số bệnh nhân điều trị tại khoa [17]. Theo Trần Đức Thọ, bệnh chiếm tỷ lệ khoảng 59%
nam giới ở tuổi trên 50 và 76,9% ở tuổi trên 70 [39]. Bệnh phì đại lành tính tuyến tiền
liệt ở giai đoạn đầu chủ yếu gây rối loạn tiểu tiện, làm giảm sút chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân. Giai đoạn sau, nếu không được điều trị tích cực, sẽ phát triển to ra sẽ
chèn ép cổ bàng quang và niệu quản, gây nhiều biến chứng nặng nề như nhiễm khuẩn
đường tiết niệu, sỏi tiết niệu, bí đái, suy thận có thể gây tử vong.
Hiện nay, y học hiện đại có rất nhiều phương pháp điều trị ngoại khoa hoàn
chỉnh: phẫu thuật bóc u, phẫu thuật bằng nội soi hoặc điều trị bảo tồn bằng thuốc
tân dược: thuốc đối kháng α- adrenergic, thuốc ức chế 5α-reductase, thuốc có nguồn
gốc nội tiết… Tuy nhiên, việc điều trị ngoại khoa không phải nơi nào cũng có điều
kiện áp dụng, mặt khác các thuốc điều trị nội khoa, thuốc tân dược cũng có nhiều
biến chứng và tác dụng phụ không mong muốn [5].
Y học cổ truyền không có tên bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt, các y
văn xưa và nay đều qui nạp vào phạm trù “lung bế” “long bế “, phương pháp điều trị
chủ yếu lợi niệu thông lâm, nhuyễn kiên tán kết. Ở Trung Quốc, trong những năm gần
2
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. CƠ CHẾ BỆNH SINH, GIẢI PHẪU BỆNH VÀ SINH LÝ BỆNH PHÌ ĐẠI
LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
1.1.1. Vị trí, hình dáng
Tuyến tiền liệt nằm ở dưới bàng cổ quang và bọc xung quanh niệu đạo, có
hình nón mà đáy ở trên và đỉnh ở dưới.Trục của tuyến tiền liệt đi chếch xuống dưới
và ra trước, hợp với đường ngang một góc khoảng 50 o. Tuyến nằm ngay dưới cổ
bàng quang, bao quanh phần niệu đạo sát cổ bàng quang, phần niệu đạo xuyên qua
tuyến tiền liệt dài khoảng 3cm.
Thể tích tuyến tiền liệt rất thay đổi, to nhỏ tuỳ theo từng người và từng lứa
tuổi, lúc trưởng thành nặng 15- 25gam, trung bình 20gam, rộng khoảng 4cm, cao
khoảng 3cm, dầy khoảng 2,5cm [24],[26].
Hình 1.1. Tuyến tiền liệt và liên quan
4
1.1.2. Cơ chế bệnh sinh và chức năng tuyến tiền liệt.
Tuyến tiền liệt là một tuyến ngoại tiết kiểu ống túi, gồm rất nhiều túi nhỏ,
trong lòng túi được lót bằng những tế bào biểu mô chế tiết hình trụ.
Tuyến tiền liệt cùng với túi tinh tiết ra tinh dịch gồm các chất kẽm, acid
citric, fructose, photphorylcolin, spermin, acid amin tự do, prostaglandin và các
enzym photphotase acid và lacticodehydrogenase để nuôi dưỡng và kích thích sự di
động của tinh trùng [22], [25], [41].
Nhưng từ 45 tuổi trở lên, tuyến tiền liệt ngừng tăng trưởng và bắt đầu có chiều
đầu tiên của TTL được điều khiển bởi testosteron bào thai. Tại tế bào đích, testosteron
được gắn với receptor để vào nhân tế bào có tác dụng: Điều hoà hormon FSH, LH, sự
biệt hoá của cơ quan sinh dục, kích thích tuyến Wolff, sản sinh tinh trùng.
Ở nam giới trưởng thành có tới 95% testosteron có nguồn gốc từ tinh hoàn.
Vai trò của androgen thực chất là dihydrotestosteron được chuyển hoá từ testosteron
tại tế bào đích nhờ tác dụng của enzym trung gian 5α- reductase Qua chuyển hoá
testosteron chuyển thành dihydrotestosteron; dihydro testosteron gắn với receptor
để vào nhân tế bào, tại nhân của tế bào dihydrotestosteron gắn với các RNAm hoạt
động. Chính các RNAm này sẽ tạo ra ở ribosom các protein tổng hợp, đây là yếu tố
tăng trưởng tế bào TTL.
Enzym 5α- redutase có hai dạng: một dạng có hoạt tính mạnh ở pH 7,5 còn
được gọi là enzym 5α- reductase kiềm và loại có hoạt tính mạnh ở pH 5,0 còn được
gọi là enzym 5α- reductase acid. Enzym 5α- reductase kiềm có ở tế bào biểu mô
đáy, phân bố chủ yếu ở gan và da, niêm mạc không thuộc cơ quan sinh dục. Trái lại,
loại 5α- reductase acid phân bố ở tế bào xơ và liên kết ở gan và cơ quan tiết niệu,
sinh dục nam [ 71], [158], [168].
Các nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ dihydrotestosteron ở những bệnh
nhân PĐLTTTL cao hơn so với những người cùng tuổi nhưng không bị PĐLTTTL.
Đối với những người có TTL bình thường, hàm lượng dihydrotestosteron có từ 12ng/g mô, còn ở bệnh nhân PĐLTTTL hàm lượng dihydrotestosteron từ 4- 6 ng/g
mô [ 45], [47]. Các nghiên cứu cũng cho thấy ở những người đã cắt bỏ tinh hoàn
6
trước tuổi dậy thì sẽ không bị PĐLTTTL. Tuy nhiên, giả thiết này vẫn còn có những
mâu thuẫn, bởi vì nam giới khi tuổi càng cao, tỷ lệ testosteron càng giảm. Ở những
người ngoài 40 tuổi tỷ lệ testosteron bắt đầu giảm, nhưng vẫn bị bệnh PĐLTTTL.
* Vai trò của estrogen:
Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy rằng estrogen có tham gia vào nguyên nhân
gây PĐLTTTL [93], [137], [141].
Tinh
hoàn
Testosteron
Prolactin
Tuyến
tiền
liệt
ACTH
Androsteron
nnn
Vỏ
thượng
thận
estrogen
Sơ đồ 1.1. Vai trò của hệ thống nội tiết trong bệnh sinh PĐLTTTL [76].
* Vai trò cuả progesteron:
Progesteron được tổng hợp bởi thể vàng, vỏ thượng thận, nhau thai và tinh
hoàn. Người ta chỉ tìm thấy thụ thể của androgen trong cytosom, chứ không thấy
trong khoang nhân ở TTL. Mặt khác, tỷ lệ hàm lượng progesteron trong plasma là
hết sức thấp và chất này cũng không thấy nhiều trong TTL [39], [93].
* Vai trò của các hormon hướng sinh dục:
Lượng LH lưu hành do thùy trước tuyến yên tiết ra đã kiểm soát số lượng
cao hơn ở những người không có PĐLTTTL và ở thiếu niên cao hơn so với người
trưởng thành. Để khẳng định giả thuyết này, người ta đã nuôi cấy tế bào TTL trong
một môi trường có đầy đủ testosteron, nhưng không có b- FGF và thấy rằng không
có sự phát triển của tế bào TTL.
9
* Yếu tố tăng trưởng chuyển dạng beta:
Yếu tố tăng trưởng chuyển dạng beta (transforming growth factor betaTGFβ) có vai trò điều hòa ức chế tăng trưởng nguyên bào sợi và tế bào biểu mô
[76], [77].
* Yếu tố tăng trưởng biểu bì:
Yếu tố tăng trưởng biểu bì (Epithelial Growth Factor- EGF) có vai trò điều
hòa sự tăng sinh tế bào biểu mô [146].
* Yếu tố tăng trưởng giống insulin:
Yếu tố tăng trưởng giống insulin (Insulin like growth factor- IGF) có vai trò
điều hòa tăng sinh tế bào sợi và các tế bào khác [138], [146].
* Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu:
Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (Vascular Endothelial Growth Factor VEGF) có vai trò kích thích sự phát triển PĐLTTTL [131], [146], [147], [150].
Trong các yếu tố trên, các yếu tố tăng trưởng EGF, bFGF, IGF, VEGF có
tính chất kích thích. Ngược lại, yếu tố tăng trưởng chuyển dạng TGFβ có tác dụng
kìm hãm sự tăng sản của TTL [47], [131], [146].
1.1.2.3. Hiện tượng chết theo chương trình
Chết theo chương trình (apoptosis) là hiện tượng có tính di truyền của các tế
bào có nhân, là cơ chế sinh lý chủ yếu để duy trì sự hằng định của mô tuyến bình
thường [120].
Tenniswood (1986), Isaacs (1990) đã nêu một sự mất cân bằng xảy ra ở tuổi
già, giữa khu vực các tế bào đang tăng trưởng và tế bào định hướng chết theo
chương trình. Chính các yếu tố tăng trưởng đã làm mất sự hằng định của mô tuyến,
làm các “tế bào gốc” phát triển nhanh trong khi quá trình chết theo chương trình bị
1.1.3.2. Vi thể
Cắt ngang PĐLTTTL thấy các thùy của u tuyến nằm rất gần nhau, giống như
hình cầu. Những thùy này đặc, chắc, mầu trắng đục và có thể tách theo các thớ. Các
thùy này là một phức hợp gồm sự tăng sinh của những tuyến ống túi xơ và cơ. Các
phần này kết hợp với nhau, thường thay đổi thất thường: xơ-cơ-tuyến, tuyến thuần
nhất, xơ hoặc mạch-xơ, xơ-cơ, cơ đơn độc hay xơ-tuyến. Những thành phần này
11
được pha trộn với những tỷ lệ khác nhau, tùy theo sự tăng trưởng các thành phần
của tuyến [6], [46], [67], [138].
1.1.4. Sinh lý bệnh.
PĐLTTTL là nguyên nhân thường gặp gây hội chứng tắc đường niệu dưới,
ảnh hưởng đến hệ tiết niệu [7], [45], [132]. Ảnh hưởng của PĐLTTTL bao gồm:
1.1.4.1. Ảnh hưởng tới niệu đạo tuyến tiền liệt
TTL bao quanh niệu đạo, sát bàng quang nên khi PĐLTTTL thì niệu đạo sẽ bị
ảnh hưởng đầu tiên. Niệu đạo TTL bị kéo dài và bị chèn ép bởi các thùy của TTL.
Nếu chụp bàng quang-niệu đạo với thuốc cản quang, trên phim nghiêng sẽ
thấy niệu đạo bị kéo dài và có hình lưỡi kiếm do hai thùy bên phì đại ép niệu đạo
dẹt lại [112].
1.1.4.2. Ảnh hưỏng tới cổ bàng quang:
Khi PĐLTTTL, cổ bàng quang sẽ bị đẩy lên cao vào trong lòng bàng quang
và bị chèn ép. Tùy theo sự phì đại của các thùy mà kéo theo sự biến dạng của cổ
bàng quang. Ngoài sự chèn ép, cổ bàng quang còn bị xơ cứng, mép sau bị đẩy lên
cao làm thành bè chắn, cản trở sự tiểu tiện sau mổ. Vì vậy, trong những trường hợp
này, khi phẫu thuật phải cắt cổ bàng quang mới tránh được đái khó sau phẫu thuật
[112].
1.1.4.3. Ảnh hưởng tới bàng quang:
Do sự phát triển của TTL gây chèn ép ở cổ bàng quang, trong giai đoạn đầu
* Hội chứng kích thích:
Đó là sự đáp ứng của bàng quang với chướng ngại vật ở cổ bàng quang. Vì
phải luôn tăng cường sức co bóp để chống lại sự cản trở gây nên do PĐLTTTL nên
bàng quang dễ bị kích thích hơn so với bình thường. Các triệu chứng gồm có:
- Tiểu gấp: buồn đi tiểu một cách cấp thiết, không nhịn được quá vài phút
hoặc nhịn rất khó.
- Tiểu nhiều lần cả ban đêm lẫn ban ngày, nhất là về đêm, thường từ 2 lần trở
lên làm bệnh nhân mất ngủ.
Hai triệu chứng này thường xuất hiện sớm, những bệnh nhân thích nghi được
hoặc thường quan niệm là do tuổi già nên không đi khám [26], [39].
* Hội chứng do chèn ép:
Đó là biểu hiện của PĐLTTTL chèn ép cổ bàng quang:
- Tiểu khó: phải rặn nhiều mới đi tiểu được, tia nước tiểu yếu và phải đi làm
nhiều giai đoạn, đứng lâu mới tiểu hết.
- Đi tiểu có tia nước tiểu yếu và nhỏ, có khi ra hai tia.
- Khi đi tiểu, luợng nước tiểu sau cùng tiểu rớt xuống không vọt ra xa.
- Có nước tiểu tồn đọng: đi tiểu xong bệnh nhân vẫn còn cảm giác tiểu chưa
hết [26], [39], [47].
Các triệu chứng này có thể đơn độc, nhưng khi nặng có thể kết hợp nhiều
triệu chứng. Trong giai đoạn có biến chứng còn có thể gặp các triệu chứng sau 26],
[47]:
- Đái máu đầu bãi, nếu cuối bãi có thể là viêm niêm mạc bàng quang, u bàng
quang kết hợp, sỏi tạo ra do quá trình ứ nước tiểu hoặc túi thừa bàng quang do quá
trình co dãn không đồng đều mà phát sinh ra túi thừa.
- Tiểu đục và tiểu buốt khi có nhiễm khuẩn bàng quang, TTL, viêm mào tinh
hoàn, viêm bể thận, nhiễm khuẩn máu...
- Đái tràn: nước tiểu tự chẩy qua cổ bàng quang khi có một áp lực nhỏ ở
trong ổ bụng ép vào bàng quang, đái rỉ hay xuất hiện khi bệnh nhân ngủ.
1.2.2.2. Giai đoạn 2
* Triệu chứng toàn thân: Có thể có triệu chứng mất ngủ, kém ăn, mệt mỏi…
15
* Triệu chứng cơ năng:
Đái khó tăng lên, đi đái phải rặn đái, sau tiểu vẫn còn cảm giác không thoải
mái, thời gian đái kéo dài, đái tăng dần cả ban ngày và ban đêm, cảm giác nặng tức
hạ vị.
* Triệu chứng thực thể:
Có cầu bàng quang nhỏ ở vùng hạ vị (chỉ phát hiện được ở những bệnh nhân
gầy) bằng phương pháp thăm trực tràng kết hợp với một tay nắm ở vùng hạ vị, thăm
trực tràng tuyến tiền liệt to.
* Cận lâm sàng:
- Xét nghiệm: Ure và creatinin máu bình thường.
- Siêu âm:
+ Thận, niệu quản, bàng quang không giãn, thể tích tuyến tiền liệt tăng.
+ Thể tích nước tiểu tồn dư trong bàng quang sau khi đi tiểu: >50ml,
nhưng không vượt quá dung tích sinh lý bình thường của bàng quang.
1.2.2.3. Giai đoạn 3
* Triệu chứng toàn thân:
-
Bệnh nhân mệt mỏi, chán ăn, khát nước, đau đầu.
* Triệu chứng cơ năng:
- Đái rỉ, ban đêm ngủ xuất hiện nước tiểu nhưng không có phản xạ đi đái
(đái nghịch thường).
- Triệu chứng của tăng ure máu: gồm những triệu chứng về thần kinh (đau
- Viêm tuyến tiền liệt:
Biểu hiện viêm, đau vùng sinh dục, sốt, nhất là trong trường hợp cấp tính.
- áp xe tuyến tiền liệt:
Thăm trực tràng thấy cơ hậu môn nhão, khối mủ bùng nhùng khác biệt rõ
ràng với tuyến tiền liệt bình thường.
- Ung thư tuyến tiền liệt:
Thăm trực tràng có một hoặc nhiều u nhỏ, rắn chắc, cứng như đá, không
nhẵn, có thể xâm nhiễm sang vỏ tuyến, trực tràng. Siêu âm có biểu hiện cản âm và
gián đoạn ở vùng vỏ của khối ung thư. Xét nghiệm đặc hiệu là PSA và nồng độ
photphataza acid. Nếu nghi ngờ cần làm sinh thiết, chụp cắt lớp vi tính (CT
scanner) và cộng hưởng từ (MRI).
17
1.2.3.1. Các thang điểm đánh giá lâm sàng tuyến tiền liệt
Để lượng giá các triệu chứng cơ năng của PĐLTTTL các nghiên cứu trên thể
giới đó đề xuất nhiều thang điểm đánh giá lâm sàng PĐLTTTL:
- Thang điểm quốc tế IPSS: 6/1991, hội nghị các nhà tiết niệu quốc tế đã
thông qua thang điểm của hội niệu học Mỹ dành cho u lành tuyến tiền liệt (IPS:
International Prostate Symptom Score), dùng để đánh giá mức độ của các triệu
chứng và đề ra biện pháp điều trị cũng như theo dõi. Thang điểm gồm 7 câu hỏi.
Tổng số điểm là từ 0-35 điểm, chia ra 3 mức độ: nhẹ (1-7 điểm), vừa (8-19 điểm),
nặng (20-35 điểm) (phụ lục) [18], [21], [66], [78], [85], [100], [118].
- Thang điểm chất lượng cuộc sống (Quality of Life – QoL): bao gồm các
câu hỏi đánh giá liên quan đến tình trạng tiểu tiện với 7 mức độ cảm nhận khác
nhau của bệnh nhân và được cho điểm từ 0-6, chia làm 3 mức độ nhẹ: từ 1-2 điểm,
trung bình từ 3-4 điểm, nặng từ 5-6 điểm (phụ lục).
- Thang điểm Madsen: bao gồm 9 câu hỏi về các rối loạn tiểu tiện của bệnh
nhân. Điểm từ 0 - 25 điểm, rối loạn càng nặng thì thang điểm càng cao.
1.2.5.2. Xét nghiệm máu
* Định lượng ure, creatinin máu: để đánh giá chức năng thận. PĐLTTTL giai
đoạn muộn đều có nguy cơ suy thận [76], [129].
* Định lượng PSA (Prostatic Specific Antigen):
PSA là kháng nguyên đặc hiệu với tế bào tuyến tiền liệt, việc áp dụng đo
nồng độ PSA vào chuẩn đoán, theo dõi điều trị và tiến triển của bệnh là việc làm rất
có ý nghĩa trên lâm sàng. Mặc dù PSA không phải đặc hiệu riêng cho ung tuyến tiền
liệt nhưng tế bào ung thư của tuyến tiền liệt tiết ra PSA gấp 10 lần so với tế bào phì
đại lành tính tuyến tiền liệt cũng như viêm tuyến tiền liệt. Nhiều nghiên cứu đã cho
thấy ung thư TTL chủ yếu tăng dạng PSA kết hợp, ngược lại trong u lành TTL tăng
chủ yếu PSA tự do.
Stamey và Partin (1990) cho rằng nồng độ PSA có liên quan trực tiếp với thể
tích khối ung thư tuyến tiền liệt. Nếu nồng độ PSA 30ng/ml ung thư là 90%, nếu nồng độ PSA
>50ng/ml bao xơ bị xâm lấn tới 78%, túi tinh bị xâm lấn tới 90% và các hạch bị xâm
19
lấn tới 60%. Vì vậy, những năm gần đây định lượng PSA trong huyết thanh vẫn được
coi là một phương tiện hữu hiệu để phát hiện sớm ung thư tuyến tiền liệt (khi khối ung
thư vẫn còn nằm trong bao tuyến).
Gần đây nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra các chỉ số mới như mật độ
PSA, tốc độ PSA, chỉ số PSA tự do trên PSA toàn phần (fPSA/tPSA)[9], [12], [19],
[39], [46].
Nhiều nghiên cứu chỉ ra giới hạn của chỉ số PSA tự do/ PSA toàn phần là từ
0,15 – 0,25. Đối với những bệnh nhân có tỉ lệ PSA tự do / PSA toàn phần
* Phương pháp:
Cần điều chỉnh chế độ ăn uống và cách sống phù hợp [35], [163].
- Ăn uống điều độ hợp lý, tránh uống rượu mạnh, thức ăn nhiều gia vị.
- Tránh nhịn đi tiểu lâu.
- Nên có chế độ sinh hoạt vận động, luyện tập hợp lý, tránh ngồi lâu, nằm lâu
gây cương tụ máu vùng tầng sinh môn.
- Luyện thói quen đại tiểu tiện đúng giờ, tăng cường hoạt động của cơ bụng,
cơ hoành và chống táo bón.
- Điều trị kịp thời khi viêm nhiễm hệ tiết niệu.
- Chú ý điều trị các bệnh về tiêu hóa, đái tháo đường.
- Ngâm tầng sinh môn trong nước ấm hàng ngày sau khi tập thể dục và buổi
tối trước khi đi ngủ, tập dưỡng sinh.
- Phát hiện sớm các triệu chứng của sự ứ tắc và sự kích thích đường tiểu để
có hướng điều trị phù hợp.
1.3.2. Theo dõi và chờ đợi
Đối với y học hiện đại khi các triệu chứng bế tắc đường tiểu do PDTLT gây
ra cũng nhẹ, không gây ảnh hưởng nhiều, thì người ta khuyến cáo chưa nên điều trị
thuốc, bởi vì biến chứng do điều trị thuốc thì lại lớn hơn. Hơn nữa thật phiền toái
21
khi phải dùng thuốc hàng ngày, vừa tốn kém vừa có nguy cơ chịu tác dụng phụ kéo
dài của thuốc [35], [163].
Chỉ định theo dõi và chờ đợi cho bệnh nhân có rối loạn tiểu tiện nhẹ với
IPSS
* Thuốc có nguồn gốc nội tiết:
Androgen là hormon chủ yếu kích thích sự tăng trưởng của TTL. Vì thế người ta loại bỏ androgen, có thể dùng các phương pháp như sau:
- Loại bỏ sự phóng thích (ức chế) LH của tuyến yên dẫn đến giảm testosteron
(ví dụ, các chất đối kháng LHRH) như: Leprolid, Gonadonalin…
- Ức chế sự tổng hợp testosteron ở tế bào Leydig của tinh hoàn bằng cách ức
chế 5α- reductase không cho chuyển hoá testosterone thành dihydro testosteron.
- Ức chế tác động của androgen ở cơ quan đích: cạnh tranh vị trí kết hợp
receptor ở cơ quan nhận cảm androgen hoặc can thiệp vào quá trình chuyển hóa nội
bào của testosterone như: Cyproteronacetat, Flutamid.
Hiện nay, các loại thuốc này được dùng chủ yếu trong ung thư TTL và ít được dùng trong PĐLTTTL [11], [35], [45], [122].
* Thuốc chiết xuất từ thảo mộc
Dùng trong các trường hợp đi tiểu nhẹ, bệnh nhân còn chịu được và nước
tiểu tồn lưu dưới 100ml. Các thuốc thảo mộc hiện nay cơ chế tác dụng chưa rõ ràng
cần phải nghiên cứu tiếp. Các loại thuốc thường dùng là:
- Tadenan có hoạt chất chiết xuất từ vỏ cây Pygeum Africanum [19], [35], [68].
- Permixon chiết xuất từ quả cây cọ lùn ở Nam Mỹ (Serenoa Repens) [35].
- Bromocriptin là chất bán tổng hợp Alcaloit của cây cựa gà, có tác dụng ức chế sự
bài tiết prolactin, chất đối kháng đặc hiệu của các thụ thể Dopaminergic [38], [44], [47].
- Cernilton: là thuốc có thành phần chiết xuất từ lúa mạch đen (Secale Cereale).Viên nang CRILA là thuốc được chiết xuất từ cây Trinh nữ hoàng cung.
1.3.4. Điều trị ngoại khoa
1.3.4.1. Chỉ định
Được dùng để điều trị PĐLTTTL khi có biến chứng. Theo khuyến cáo của Hiệp
hội Niệu học Hoa Kỳ, điều trị ngoại khoa được chỉ định cho các trường hợp sau:
23
- Chỉ định tuyệt đối:
+ Bí tiểu hoàn toàn: ít nhất 1 lần thất bại sau khi rút ống thông tiểu.
+ Nhiễm khuẩn đường tiểu tái diễn, đái máu đại thể tái diễn.
* Những cải tiến trong cắt nội soi PĐLTTTL [44]
- Dùng điện cực bốc hơi (TUEVP- Transurethral electro- vaporization of the
prostate). Irwin Bush (1960) dùng một điện cực có đầu lăn có khả năng làm bốc hơi mô
TTL, khi được cung cấp năng lượng 200- 300W. Phương pháp được sử dụng cho các
PĐLTTTL nhỏ, ít gây chảy máu và ít gây các biến chứng.
-Laser: dùng sức nhiệt để gây bốc hơi hay gây hoại tử đông, nhờ sự điều
chỉnh làn sóng, công suất và thời gian sử dụng. Năng lượng laser đó được sử dụng
để phá hủy các khối u ở nhiều cơ quan trong cơ thể. Hai nguồn năng lượng chính được sử dụng là neodymium: yttrium-aluminum-garnet và Holmium: YAG. Các
phương pháp thường dùng: đốt mô tuyến tiền liệt và gây hoại tử bằng laser, làm bốc
hơi bằng laser qua niệu đạo, cắt u bằng Holmium laser qua đường niệu đạo [20],
[40].
Tại Viện Lão khoa đã điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng laser
diode cho hiệu quả cao. Laser diode cải thiện tốt điểm triệu chứng và điểm chất
lượng cuộc sống, khối lượng tuyến tiền liệt không teo hẳn nên ít ảnh hưởng đến
các hoạt động sinh dục so với phần cắt phẫu thuật [19], [39], [47], [100].
* Các phương pháp nội soi khác [44], [80]:
- Nong TTL: Burhenne (1984) đã sử dụng một bóng nhỏ để nong TTL. Các
cơ trơn được giãn ra, mép trước của TTL được nới rộng.
- Đặt nòng “Prostakath”: Fabian (1980) dùng một nòng lò xo trong niệu đạo
TTL để nong một cách thường xuyên nhưng không cản trở hoạt động của cơ thắt.
Sau 3- 6 tháng, niêm mạc phủ lên nòng, giúp cho dòng chảy thuận lợi.
- Dùng nhiệt hay sức nóng để điều trị (hyperthermy, thermotherapy): đưa sức
nóng hay nhiệt vào chiều sâu của TTL để làm tổn thương các tế bào của TTL và
làm cho kích thước TTL nhỏ đi [44], [47], [106].
1.4. QUAN NIỆM CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN VỀ PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH
TIỀN LIỆT
1.4.1. Quan niệm của các y văn cổ
25