Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING
---------------
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU
CHO CÔNG TY CỔ PHẦN NĂNG LƯỢNG MỚI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện
: Ngô Thị Kim Dung
Lớp
: Truyền thông Marketing 54
Mã SV
: 11120623
GV hướng dẫn
: Ths Nguyễn Quang Dũng
Hà Nội, 2016
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
động thương hiệu, đặc biệt là thu hút khách hàng mục tiêu đối với doanh nghiệp.
Vì vậy,hoạt động xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu cần được quan tâm
hàng đầu cũng như chú trọng đầu tư một cách sâu rộng và dài lâu trong bất kì
ngành nghề nào.
Vật tư ngành nước được biết đến là lĩnh vực thiết yếu đối với đời sống dân
cư và xã hội với sự cạnh tranh gay gắt từ các công ty trong nước và nước ngoài.
Đối với những công ty tư nhân trong nước, việc sở hữu một thương hiệu mạnh
không những tạo sự khác biệt lớn đối với các đối thủ cùng cung cấp vật tư ngành
nước khác mà còn là công cụ thu hút số lượng lớn khách hàng mua và sử dụng các
sản phẩm của công ty. Không chỉ dừng lại ở thương hiệu, các doanh nghiệp kinh
doanh thiết bị nước cần phải xây dựng hệ thống các yếu tố nhận diện tạo nên sự
hình dung một cách cụ thể về sản phẩm mà công ty cung cấp thể hiện qua tính
chuyên nghiệp, thống nhất. Tuy nhiên, theo điều tra của báo Sài gòn Tiếp thị năm
2014 chỉ có 57% doanh nghiệp tư nhân quan tâm đến việc xây dựng và phát triển
thương hiệu, chưa đầy 30% thương hiệu của doanh nghiệp Việt được đăng kí bảo
hộ. Đây vừa là cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp kinh doanh
các thiết bị vật tư ngành nước.
Công ty cổ phần năng lượng mới Việt Nam là một trong những nhà sản xuất
và cung cấp vật tư ngành nước có mức tiêu thụ lớn tại miền Bắc. Bên cạnh một
danh mục hàng hoá đa dạng nhập khẩu trong và ngoài nước, công ty đã đưa ra thị
trường nhiều sản phẩm chất lượng cao mang tính độc quyền. Ban lãnh đạo công ty
đã nhận thức được vai trò của thương hiệu cũng như các yếu tố nhận diện trong quá
trình phát triển doanh nghiệp. Tuy nhiên, các hoạt động xây dựng hệ thống nhận
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
4
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
b. Thời gian: Năm 2014 - nay
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
5
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu mô tả: Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp về thị
trường, bức tranh tổng quan công ty, hệ thống nhận diện thương hiệu, đối thủ cạnh
tranh công ty…
- Phương pháp thống kế, phân tích, tổng hợp số liệu
6. Kết cấu chuyên đề
Chương I : Tổng quan về công ty cổ phần năng lượng mới Việt Nam và môi
trường kinh doanh
Chương II : Thực trạng hoạt động xây dựng HTND thương hiệu của công ty
CP năng lượng mới Việt Nam
Chương III : Đề xuất một số giải pháp xây dựng HTND thương hiệu cho công
ty CP năng lượng mới Việt Nam.
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
6
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
công ty hợp tác gia công với đối tác nước ngoài, sản xuất ra nhiều sản phẩm của
riêng mình có tên gọi như VNEC, AVK, Spring,…
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
7
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
Hiện nay nhu cầu về các thiết bị, vật tư ngành nước rất lớn, đơn thuần được
dùng trong nhà ở, chung cư, trường hoc, bệnh viện đến các công trình công cộng.
Mặc dù đặc tính sản phẩm này là chu kì sử dụng dài nhưng số lượng các dự án, các
công trình sử dụng luôn tăng bên cạnh việc người dân mua phải sản phẩm có chất
lượng sản phảm không tốt, thường xuyên hỏng hóc. Lĩnh vực xuất khẩu cũng là
hướng đi đầy tiềm năng cho công ty nói riêng và thị trường nguyên vật liệu ở Việt
Nam nói chung.
1.1.3 Nguồn lực công ty
1.1.3.1 Nguồn lực tài chính
• Cơ cấu nguồn vốn:
Số vốn tròn 100 triệu vào những ngày đầu thành lập, đến nay tổng số vốn đầu
tư của công ty lên tới 15 tỉ đồng, trong đó cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu là 12 tỉ
đồng, chiếm 75%, còn vốn vay ngân hàng là 3 tỉ. Có thể thấy mặc dù quy mô hoạt
động của công ty không lớn nhưng mức đầu tư cho kinh doanh là không hề nhỏ.
Tuy nhiên, tỉ lệ huy động vốn hiện tại chưa thực sự tốt vì khi so sánh với
doanh thu tháng, tỉ lệ vốn/doanh thu là 15/4. Thời kì đầu, tỉ lệ này hiệu quả hơn vì tỉ
lệ thu hồi vốn cao hơn, vào khoảng 2/3. Công ty cũng biết rằng để có hoạt động tài
chính tốt cần tăng tỉ lệ phần trăm vay ngân hàng, nhưng vì lí do khách quan và chủ
quan nên giám đốc công ty ngày càng sử dụng vốn chủ sở hữu nhiều hơn. Điều này
có thể làm giảm doanh thu nên ban giám đốc cần có kế hoạch phù hợp.
40.852
Giá vốn hàng bán
18.820
22.092
26.356
Chi phí kinh doanh
2.906
2.484
3.834
Lãi vay phải trả
980
855
594
Tổng lợi nhuận
6.653
phận giao nhận.
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
9
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
Sơ đồ 1.1 Bộ máy tổ chức công ty CP năng lượng mới Việt Nam
GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH DN
GIÁM ĐỐC KINH DOANH
BỘ PHẬN
KẾ TOÁN
BỘ PHẬN
KHO
HÀNG
BỘ PHÂN
GIAO
NHẬN
Nguồn: Phòng kế toán công ty CP năng lượng mới VN (2015)
Giám đốc điều hành doanh nghiệp có vai trò quản lí chung tất cả các bộ phận
khác. Là người có chức danh cũng như quyền hành cao nhất. Giám đốc sẽ phải điều
phối hoạt động, đưa ra tầm nhìn chiến lược, các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch phát
đường phù hợp và thuận tiện nhất, sau khi giao hàng xong thì mang giấy tờ chuyển
về đưa cho kế toán để xác nhận.
Mặc dù công ty tổ chức theo chức năng nhưng vì quy mô nhỏ, để tận dụng
nguồn nhân lực và tiết kiệm chi phí nên chức năng của các bộ phận có thể linh động
và đảm nhiệm lẫn nhau. Bộ phận quản lí( giám đốc) có thể phụ trách công việc kế
toán khi cấp thiết. Bộ phận giao hàng khi chuyển hàng về kho đảm nhiệm công việc
vận chuyển luôn.
• Cơ cấu nhân sự :
Tổng số nguồn nhân lực hiện tại gồm có 10 người. Dưới đây là số lượng cụ
thể và cơ cấu tuổi, chuyên môn
Bảng 1.2 Cơ cấu nhân sự tại công ty CP năng lượng mới VN
Chỉ tiêu
Số lượng nhân sự
1.
Phân theo vị trí làm việc
10
Giám đốc kinh doanh
1
Bộ phận kế toán
1
Bộ phận kho hàng
3
Bộ phận giao hàng
4
2.
Phân theo trình độ học vấn
Đại học và sau đại học
3
Cao đẳng – Trung cấp
1
nhân viên theo quy trình, nhưng do chưa làm đến nơi đến chốn và thiếu nhân lực
nên chưa làm tốt được.
Nhưng khi so sánh trình độ học vấn của nhân sự đối với mặt bằng chung ,
nguồn lực công ty còn yếu. Ngoài ban lãnh đạo, bộ phận kế toán có lĩnh vực đào tạo
đúng với vị trí công việc, còn lại số lượng lao động phổ thông chiếm tới 60%. Họ
còn thiếu vốn kiến thức về doanh nghiệp, về thương hiệu, nguồn nhân sự này chủ
yếu phụ thuộc vào người quản lí, nghe và làm theo nên thiếu tư duy hoặc đóng góp
những nhận xét. Khi khảo sát hỏi trực tiếp, trong tổng số 6 nhân viên kho hàng và
giao hàng thì 100% đều không biết thương hiệu là gì, không nhớ được sản phẩm,
logo công ty mặc dù hàng ngày tiếp cận. Điều này không đáp ứng được yêu cầu về
nhân sự, có thể làm giảm hiệu quả trong quá trình công ty xây dựng thương hiệu và
hệ thống nhận diện thương hiệu. Công ty cũng chưa có nhân viên marketing để
triển khai các hoạt động thương hiệu và truyền thông một cách bài bản.
Giai đoạn năm 2010-2011 công ty có bổ sung lực lượng nhân sự về mảng
nhân viên kinh doanh nhưng không duy trì được lâu do không quản lí chưa chặt chẽ
và đào tào không bài bản. Cho tới hiện tại ban lãnh đạo là người trực tiếp gọi điện
tìm kiếm khách hàng và thực hiện các giao dịch kinh doanh. Với tình hình cạnh
tranh gay gắt như hiện nay cùng với thay đổi thị trường một cách chóng mặt thì
công ty cần có kế hoạch tuyển dụng và đào tạo nhân viên kinh doanh một cách kịp
thời để phát triển thị trường rộng khắp và nâng cao lượng khách hàng. Bên cạnh đó,
công ty cũng cần có một leader đảm nhiệm công việc marketing để cùng ban điều
hành xây dựng hoạt động thương hiệu và triển khai các hoạt đồng truyền thông.
1.1.3.3 Nguồn lực cơ sở vật chất
Trụ sở công ty cũng là địa chỉ nhà riêng của giám đốc điều hành, tại ngõ 135
Đội Cấn, Quận Ba Đình, Hà Nội, một trong những khu vực đông dân cư nhất thành
phố cùng với lợi thế về giao thông đã tạo điều kiện cho việc kinh doanh thuận lợi.
Tuy nhiên bất lợi là nằm trong ngõ hẹp nên không thu hút được sự chú ý của người
tiêu dùng.
Công ty có 4 nhà kho để hàng gồm 1 nhà kho chính là trụ sở công ty và 3 nhà
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
ở tên thương hiệu. Các yếu tố nhận diện cơ bản và ứng dụng khác chưa được biết
đến. Cùng với các doanh nghiệp tự sản xuất, doanh nghiệp cung ứng khác, các
doanh nghiệp trong nước chưa xây dựng được một hệ thống nhận diện đồng nhất và
theo đúng quy trình là một cơ hội tốt đối với công ty.
Thị phần thương hiệu còn lại dành cho các thương hiệu có tiếng nhập ngoại từ
Nhật Bản, Thái Lan và đặc biệt là Trung Quốc. Trái ngược với các sản phẩm có
thương hiệu từ châu Âu có chất lượng tương đối cao thì sự xuất hiện tràn lan của
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
13
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
các sản phẩm giá rẻ từ các tổ chức chuyên làm hàng chất lượng thấp, hàng nhái,
hàng rẻ đã một phần tác động tới nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Có thể nhận thấy, với thị trường tiềm năng từ vật tư, thiết bị về nước, bên cạnh
những thương hiệu lớn đã được khẳng định, sẽ ngày càng có nhiều công ty nhỏ và
vừa gia nhập vào thị trường, các công ty từ nước ngoài cũng sẽ thâm nhập sâu rộng
hơn vào Việt Nam, Với sự phát triển của thị trường, nguồn cung sản phẩm lớn, trải
rộng khắp các phân khúc từ cấp thấp đến cấp cao yêu cầu các tổ chức trung gian,
phân phối vật tư nước như công ty CP năng lượng mới Việt Nam phải xây dựng cho
mình một hệ thống nhận diện tốt để có thể tồn tại và phát triển lâu dài trên thị
trường có trung bình 75000 doanh nghiệp mới được thành lập mỗi năm ở Việt Nam
(theo thống kê từ Bộ kế hoạch và đầu tư)
2.1.1.2 Đặc điểm cầu
Nhu cầu đối với các mặt hàng vật tư về nước là rất lớn. Từ khi đất nước mở
cửa nền kinh tế, không những nền kinh tế phát triển nhanh chóng mà sức sống, nhu
Khách hàng là một đối tượng hướng đến căn bản của hệ thống nhận diện
thương hiệu mà công ty xây dựng. Việc tìm hiểu, nghiên cứu thị hiếu khách hàng là
nhân tố quan trọng góp phần phát triển hệ thống nhận diện này. Khách hàng của
công ty gồm có 3 đối tượng chính:
• Các nhà phân phối cấp 2/ đại lí.
Số lượng các đại lí, cửa hàng bán vật tư ngành nước ngày càng tăng nhanh.
Trong đó, ở Hà Nội, đối tượng khách hàng chủ yếu của công ty là những nhà buôn
lấy hàng trực tiếp tại công ty và đem bán lại cho các cửa hàng vật tư trên địa bàn để
lấy lợi nhuận. Phần lớn đối tượng này lại phụ thuộc vào nhu cầu thị trường hoặc yêu
cầu của bên mua, họ làm việc để kiếm phần chênh nên họ không quan tâm nhiều
đến các yếu tố nhận diện thương hiệu ngoài tên gọi. Ở các tỉnh, công ty tiến hành đi
thị trường và lựa chọn các cửa hàng lớn để hợp tác. Số lượng khách hàng đại lí trải
dài khắp nước, nguồn cung chủ yếu dựa vào mối quan hệ quen biết, giới thiệu lẫn
nhau và truyền thông “ miệng”, dần dần thành khách hàng thân thiết. Giai đoạn đầu
tiếp cận thường tốn rất nhiều chi phí cho việc giới thiệu, chào hàng, gây dựng uy
tín. Một số cửa hàng ở tỉnh lẻ còn bảo thủ nhất quyết không đồng ý hợp tác kinh
doanh vì họ không nhận biết được thương hiệu công ty, đặc biệt với tâm lí chuộng
thương hiệu nổi tiếng lâu năm, dùng cái đã biết cho chắc chắn của người dân. Tuy
nhiên, đây vẫn là đối tượng đem lại doanh số lớn nhất. Đặc điểm của đối tượng này
là mua thường xuyên nhưng lại phản ứng nhạy trước thị trường và giá bán. Vì thế
công ty cần chú trọng xây dựng được các dấu hiệu nhận cơ bản và ứng dụng để
khách hàng có thể dễ dàng nhận biết và tạo tính chuyên nghiệp trong hoạt động.
Bên cạnh đó, công ty cũng nên đẩy mạnh khâu giao dịch, chiết khấu và các dịch vụ
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
15
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Minh Hoà chiếm phần trăm rất lớn ( trên 2 tỉ/ năm) nhưng gần đây, Minh Hoà
chuyển hướng kinh doanh bằng việc giảm bớt trung gian để phân phối trực tiếp đến
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
16
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
người tiêu dùng cuối cùng nên số lượng hàng nhập giảm dần.
Ngoài ra, hàng thương mại còn được nhập khẩu trực tiếp từ các nước như
Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan ( như dòng sản phẩm cao cấp SANWA của Thái).
Tất cả các đối tác được công ty tìm hiểu rất kĩ,cho người khảo sát để đàm phán.
Theo định kì, hàng năm công ty còn cử người qua nước ngoài để kiểm tra, đánh giá
quy trình sản xuất, đóng gói và báo cáo lại về phía công ty để đảm bảo chất lượng
hàng hoá tốt nhất.
Đối với các sản phẩm riêng của công ty: về kĩ thuật, bản vẽ do chính tay giám
đốc và đội ngũ nhân viên công ty dày công nghiên cứu, học tập từ công nghệ nước
ngoài và qua nhiều lần thử nghiệm, thiết kế. Những sản phẩm mới này sử dụng
nguyên liệu tốt, khắc phục các nhược điểm hiện tại. Sau đó, công ty hợp tác với một
nhà máy sản xuất quy mô hàng trăm ha bên Trung Quốc chuyên gia công các sản
phẩm này. Vì lí do bảo mật nên tác giả xin phép không nêu tên cụ thể của nhà máy.
Đây là một doanh nghiệp lớn ở Trung Quốc chuyên hợp tác với các đối tác châu Âu
để sản xuất sản phẩm chất lượng cao. Lúc đầu, bên họ nhất quyết không làm việc
với công ty vì nghĩ rằng đối tác Việt Nam không quan tâm đến chất lượng. Nhưng
sau thời gian thuyết phục, công ty đưa cho họ bản vẽ thiết kế và các yêu cầu kĩ
thuật, họ đã phải ngạc nhiên vì không ngờ yêu cầu sản xuất bên mình quá cao khi
mỗi chi tiết bao gồm cả trăm bản vẽ, hơn cả những đối tác Âu. Do đồng quan điểm
sản xuất, cùng tâm huyết thiết kế sản phẩm chất lượng Cùng với khoảng thời gian
xuất, nhập khẩu và kinh doanh các loại vật tư, thiết bị ngành cấp nước, xăng dầu,
công nghiệp đóng tàu. Công ty hoạt động rộng khắp cả nước với gần 100 đại lí,
trong đó nhiều nhất là TP Hồ Chí Minh( 36 đại lí) và Hà Nội ( 17 đại lí) theo thống
kê tại website Sau 15 phát triển, công ty hiện
tại chiếm vị trí lớn trên thị trường cũng như được nhiều người trong ngành biết đến.
Công ty đã xây dựng được cho mình bộ nhận diện thương hiệu tương đối đầy đủ,
chuyên nghiệp với slogan “ Van vòi Minh Hoà cho ngôi nhà Việt”. Đặc biệt, một số
nhãn hiệu của công ty như MIHA, Daling, MBV thu hút được sự quan tâm chú ý
của người tiêu dùng. Đây có thể coi là nguồn tài liệu học hỏi lớn trong việc xây
dựng hệ thống nhận diện thương hiệu của công ty.
+ Công ty CP vật tư ngành nước Vinaconex là đơn vị thành viên của tổng
công ty Vinaconex, hoạt động với sứ mệnh mang thương hiệu ống nhựa và phụ kiện
PPR/HDPE VIWAPICO thâm nhập và khẳng định vị thế trên thị trường. Với
phương châm “ chất lượng sản phẩm và phong cách phục vụ là nền tảng sự phát
triển bền vững” thương hiệu VIWAPICO của công ty đã xây dựng được cho mình
độ nhận biết lớn trong khách hàng và sự tin tưởng khi sử dụng. Mặc dù chưa đẩy
mạnh về mặt thiết bị vật tư nước nhưng đây chắc chắn là một đối thủ “đáng gờm”.
Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chính thức, còn tồn tại một
đối tượng cung ứng khác, đó là các làng nghề thủ công chuyên sản xuất các sản
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
18
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
phẩm tương tự. Họ sản xuất với số lượng lớn, chất lượng bình dân nên giá thành
cũng rẻ hơn nhiều. Sau khi sản xuất, họ lại tự mình đi bán, bán trực tiếp cho đại lí
nên chi phí kinh doanh giảm đáng kể.
Slogan
Chưa có
sản phẩm chưa rõ ràng, công ty
không có thương hiệu riêng.
Đại Vũ
Công ty + Lĩnh vực kinh doanh mở rộng
TNHH
ra các thiết bị vệ sinh như chậu
Chưa có
DV & SX rửa, bình nóng lạnh.
An Hiếu
Có thể nhận thấy, các đối thủ cạnh tranh này đều chưa định hướng rõ ràng
được chiến lược phát triển thương hiệu cho mình cũng như hệ thống nhận diện
thương hiệu còn sơ sài, hầu như chưa có hệ thống nhận diện ứng dụng. Đây chính là
một cơ hội lớn đối với công ty CP năng lượng mới để hoàn thiện và mở rộng bộ
nhận diện của mình.
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
19
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
của công chúng nhận tin, từ đó sẽ có những kế hoạch xây dựng yếu tố nhận diện cơ
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
20
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
bản, ứng dụng một cách hiệu quả đi vào công chúng mục tiêu.
1.2.3.2 Môi trường kinh tế
Kinh tế Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đang có những bước phát
triển mạnh mẽ. Việc gia nhập các tổ chức thương mại kinh tế cả ở khu vực và thế
giới đã thúc đẩy hơn nữa sự hội nhập và phát triển của nền kinh tế.
Hà Nội có tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng đều qua các năm, trung bình 9.45%
mỗi năm và hằng năm đóng góp 10% GDP cả nước. Thu nhập bình quân đầu người
đạt 2248 USD.
Hiện tại, có trên 120.000 doanh nghiệp đang hoạt động tại Hà Nội. Thị trường
mở cửa đem lại nhiều cơ hội kinh doanh mới, tốc độ phát triển của các doanh
nghiệp ngày càng tăng. Sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các cá nhân và tổ
chức tăng lên có ảnh hưởng trực tiếp đến mức chi tiêu cho các sản phẩm thiết yếu
như các vật tư về nước. Các cá nhân sẽ ít quan tâm hơn về giá mà thay vào đó sẽ có
xu hướng quan tâm đến chất lượng sản phẩm, sự đa dạng phong phú trong hình
thức, mẫu mã và chế độ hậu mãi, chăm sóc khách hàng của công ty. Họ sẵn sàng bỏ
ra một mức giá cao hơn để có thể mua được những sản phẩm chất lượng tốt hơn,
mẫu mã đẹp, có chế độ bảo hành rõ ràng. Nếu như trước đây, người dân chỉ cần sử
dụng vòi nhựa vừa nhẹ vừa rẻ thì bây giờ thì không phải chỉ có chức năng dẫn
nước, những chiếc van vòi còn được đầu tư làm từ nhiều chất liệu, kiểu dáng, mẫu
mã khác nhau đáp ứng nhu cầu đa dạng, đẳng cấp của người dùng.
Tuy nhiên, kinh tế phát triển cũng khiến đặc điểm hành vi của khách hàng thay
dàng tạo được cảm tình tốt và dễ chinh phục được khách hàng cũng như công chúng
mục tiêu hơn.
1.2.3.4 Môi trường khoa học công nghệ
Sự tiến bộ của công nghệ vừa giúp doanh nghiệp rút ngắn được thời gian sản
xuất vừa đem lại nhiều dòng sản phẩm hiện đại, tiện lợi. Đây là cơ hội cho đội ngũ
kĩ thuật và các nhà sản xuất phát triển hơn nữa sản phẩm của mình để tăng mức độ
cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của Internet
cũng ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của công ty nói riêng. Theo số liệu
thống kê của trung tâm Internet Việt Nam, tới thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2015,
Việt Nam có 39,8 triệu người sử dụng internet, chiếm tỉ lệ 44% dân số Việt Nam.
Công nghệ thông tin được con người phát triển từng giờ khi ngày càng nhiều các
trang mạng xã hội được sáng lập để phục vụ nhu cầu kết nối cộng đồng, giao lưu
kết bạn, mua sắm trực tuyến, tìm kiếm thông tin, cập nhật tin tức, mua bán trao đổi
giữa những người dùng mạng. Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong những
quốc gia có lượng người dùng tăng nhanh nhất hàng năm. Internet, khoa học công
nghệ phát triển nhanh, khách hàng có thể nhanh chóng tìm kiếm được những thông
tin cần thiết về thương hiệu, sản phẩm. Trong số rất nhiều những thương hiệu đó,
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
22
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Quang Dũng
thương hiệu nào thật sự có hệ thống nhận diện khác biệt, dễ nhớ thì mới có được cơ
hội được khách hàng để ý và ghi nhớ lâu.
Tuy nhiên, công nghệ phát triển cũng là thách thức nếu công ty không nắm bắt
nhanh được tình hình thị trường cũng như áp dụng các phương thức truyền thông
tiên tiến để tiếp cận khách hàng một cách nhanh nhất.
ngành nước hướng tới đối tượng khách hàng mục tiêu bao gồm cả đại lí bán
buôn, các công trình xây dựng và người tiêu dùng cuối cùng. Với lợi thế bộ máy
tổ chức đơn giản, chi phí quản lí thấp làm giảm đáng kể giá thành cùng với sự đa
dạng về nguồn gốc, chất liệu và mẫu mã, các sản phẩm công ty được khách hàng
lựa chọn ngày càng nhiều.
Chương I của chuyên đề cũng phân tích được những yếu tố về môi trường vi
mô và vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu.
Nhu cầu rất lớn đối với các mặt hàng vật tư về nước là cơ hội để công ty mở rộng
thị trường, khẳng định thị phần trên thị trường.
Tuy nhiên, thách thức từ nguồn lực, định hướng chiến lược công ty, đặc biệt là
thách thức từ môi trường kinh doanh đòi hỏi công ty phải có những bước tiến
mang tính chiến lược lâu dài, trong đó việc triển khai xây dựng thương hiệu và hệ
thống nhận diện thương hiệu đóng vai trò quan trọng.
Để hiểu rõ hơn về những vấn đề liên quan đến thương hiệu và hệ thống nhận
diện thương hiệu công ty, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chương II của chuyên đề “
thực trạng hoạt động xây dựng HTND thương hiệu công ty cổ phần năng lượng
mới Việt Nam.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG HTND THƯƠNG HIỆU
CÔNG TY CỔ PHẦN NĂNG LƯỢNG MỚI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng xây dựng thương hiệu công ty CP năng
lượng mới Việt Nam.
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
24
Lớp: Truyền thông 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nước. Vòi VNEC đã thay thế bi sắt bằng bi đồng và sử dụng vít vừa chịu nhiệt,
Sinh viên: Ngô Thị Kim Dung
25
Lớp: Truyền thông 54