1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, lệch lạc khớp cắn cũng như những ảnh hưởng của nó đến
thẩm mỹ và chức năng đang ngày được quan tâm. Theo những nghiên cứu
trước đây ở Việt Nam và trên thế giới, tỷ lệ lệch lạc răng hàm ở mọi lứa tuổi khá
cao. Nghiên cứu của Hoàng Thị Bạch Dương năm 2000 [1] chỉ ra tỷ lệ lệch lạc
răng hàm của học sinh cấp 2 ở một trường ở Hà Nội là 90%. Theo Đồng Khắc
Thẩm [2], tỷ lệ sai khớp cắn của người Việt là 83,2%. Theo một nghiên cứu ở
Ấn Độ, ước tính có gần 90% thanh thiếu niên có sai khớp cắn [3].
Những nghiên cứu về lệch lạc khớp cắn chủ yếu dựa vào quan điểm về
khớp cắn ở trạng thái tĩnh dựa trên nghiên cứu của Angle năm 1899 [4] và sau
đó là Andrews (1972) [5]. Những yếu tố này rất được các bác sỹ chỉnh nha
coi trọng trong quá trình điều trị. Tuy vậy, lại có rất ít sự quan tâm được dành
cho khớp cắn động. Theo Nattaya Asawaworarit, 20,2% cộng đồng người
Thái có cản trở khớp cắn khi đưa hàm ra trước và sang bên [6]. Theo nghiên
cứu của Robert Ceclic trên nam thanh niên từ 19 đến 28 tuổi, 35% nhóm đối
tượng nghiên cứu có cản trở khớp cắn [7].
Tất cả thành phần của hệ thống nhai có mối quan hệ mật thiết với nhau,
lệch lạc của bất cứ thành phần nào cũng sẽ tác động tới các thành phần còn
lại. Những sai lệch ở khớp cắn tĩnh cũng như động sẽ ảnh hưởng lên khớp thái
dương hàm, hệ thống cơ nhai, tổ chức nha chu và tổ chức cứng của răng...
Theo nhiều tác giả, những sai lệch khớp cắn như cắn sâu, cắn hở, chen chúc,
răng mọc sai vị trí, điểm chạm sớm tại tương quan tâm, điểm chạm quá mức ở
lồng múi tối đa, cản trở cắn trong vận động hàm ra trước và sang bên.... là
nguyên nhân và yếu tố thuận lợi hình thành và phát triển của các tổn thương
mòn cổ răng và co lợi [8],[9],[10].
2
Grossary Prosthodontic Term (8th) đưa ra định nghĩa về tương quan trung
tâm “Tương quan trung tâm là một tương quan giữa hàm trên và hàm dưới
trong đó lồi cầu ăn khớp với phần mỏng nhất và không có mạch máu của đĩa
khớp tương ứng, tạo thành phức hợp ở vị trí cao nhất, trước nhất so với dốc
nghiêng của hõm khớp” [12].
1.1.1.2. Các đặc điểm của tương quan trung tâm [13]
Tương quan trung tâm là vị trí chức năng sau nhất của hàm dưới, từ đây,
hàm dưới có thể thực hiện được các động tác há ngậm, ra trước và sang bên.
Tương quan trung tâm không phụ thuộc vào vị trí của răng.
Ở tương quan trung tâm, hàm dưới có thể thực hiện vận động bản lề
(chuyển động xoay đơn thuần) với độ mở của các răng cửa khoảng 1 – 2 cm.
Tương quan trung tâm là vị trí tham chiếu quan trọng nhất, cốt yếu nhất
trong việc phân tích và phuc hồi chức năng của hệ thống nhai, do nó thể lặp
4
lại được trên bệnh nhân, ghi lại được bằng cung mặt và tái lập được để
chuyển sang giá khớp.
Chính vì những đặc điểm này, tương quan trung tâm là vị trí duy nhất
được chọn để xác lập khớp cắn trung tâm cho người mất răng toàn phần hoặc
xác lập khớp cắn trung tâm mới trong điều trị các trường hợp như mòn răng
trầm trọng.
1.1.2. Khớp cắn lồng múi tối đa
Khớp cắn lồng múi tối đa (LMTĐ) là một vị trí có tiếp xúc giữa các răng
của hai hàm nhiều nhất, hai hàm ở vị trí đóng khít nhất và hàm dưới đạt được
sự ổn định cơ học cao nhất.
Đây là tương quan răng – răng, nó không phụ thuộc vào vị trí của lồi cầu
trong ổ khớp. Tư thế này không phải là bất biến mà có thể thay đổi, do nó phụ
thuộc vào tình trạng và vị trí của các răng trên cung hàm.
giúp bảo vệ các răng trước tránh được các lực nhai quá mức theo chiều thẳng
đứng khi nhai. Trong vận động tiếp xúc ra trước và sang bên, các răng sau
nhả khớp do hướng dẫn của các răng trước. Các răng trước hướng dẫn hàm
dưới trong vận động ra trước và sang bên: trong vận động ra trước, các răng
cửa tiếp xúc và hướng dẫn (hướng dẫn răng cửa), các răng sau nhả khớp.
Trong chuyển động sang bên, răng nanh tiếp xúc và các răng sau nhả khớp
(hướng dẫn răng nanh). Hướng dẫn răng nanh và răng cửa gọi là hướng dẫn
trước và sang bên. Như vậy, ở tiếp xúc lệch tâm, các răng trước hướng dẫn
hàm dưới bảo vệ các răng sau khỏi các lực tác động theo chiều ngang.
1.1.4. Khớp cắn sinh lý
Trên thực tế, chỉ một số rất ít người có khớp cắn lý tưởng, hầu hết đều có
một khớp cắn" xấu" về một phương diện nào đó, nhưng có chức năng tốt. Khả
năng thích ứng ở đa số người đủ cao để những lệch lạc so với lý tưởng vẫn có
thể là bình thường, ổn định và hài hòa [14]
Angle (1989) [4] là người đầu tiên đưa ra khái niệm về một khớp cắn
sinh lý. Ở khớp cắn sinh lý, múi ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm
6
trên khớp với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới ở khớp cắn
LMTĐ, các răng còn lại trên cung hàm sắp xếp theo một đường cong khớp
cắn đều đặn và liên tục.
Houston và cộng sự (1992) [15] cho rằng khớp cắn của một người có thể
lệch lạc so với những tiêu chuẩn bình thường nhưng cũng không gây ra vấn
đề về chức năng và thẩm mỹ. Theo tác giả, rất khó để đưa ra một tiêu chuẩn
cụ thể cho giới hạn của một khớp cắn sinh lý, một khớp cắn có thể được cho
là sinh lý nếu nó không gây hại cho bệnh nhân.
Lawrence F.Andrews [5] nghiên cứu 120 mẫu hàm có khớp cắn bình
thường từ 1960-1964. Các mẫu hàm được lựa chọn theo tiêu chuẩn: 1.Chưa
phía gần.
- Đường cong Spee phẳng hay cong ít: đường cong Spee sâu không quá
1,5 mm.
1.1.5. Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle [5],[16]
Theo quan điểm của Eward H. Angle, răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất
hàm trên là ‘chìa khoá khớp cắn’. Đây là răng vĩnh viễn mọc sớm nhất trên
cung hàm, có vị trí tương đối cố định so với nền sọ, khi mọc không bị cản trở
bởi răng sữa mà còn được hướng dẫn vào đúng vị trí nhờ răng sữa. Căn cứ
vào tương quan của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên và dưới cùng sự sắp xếp
của các răng trên đường khớp cắn, Angle phân khớp cắn thành bốn loại:
• Khớp cắn bình thường: múi ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất
hàm trên khớp với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới,
các răng còn lại trên cung hàm sắp xếp theo một đường cong khớp cắn
đều đặn và liên tục.
8
Hình 1.1: Khớp cắn bình thường [17]
• Sai khớp cắn loại I: múi ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên
khớp với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới nhưng
đường khớp cắn không đúng do các răng mọc sai chỗ, răng xoay....
Hình 1.2: Sai khớp cắn loại 1 [17]
• Sai khớp cắn loại II: múi ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm
trên tiến về phía gần so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất
hàm dưới. Trong loại này, lại có hai tiểu loại:
o Tiểu loại 1: các răng cửa trên nghiêng về phía môi, độ cắn chìa tăng
o Tiểu loại 2: các răng cửa trên nghiêng nhiều về phía lưỡi, độ cắn
chìa giảm
10
Để khắc phục những hạn chế của hệ thống của Angle, nhiều tác giả đã
đưa ra những bổ sung cho phân loại khớp cắn của Angle. Martin Dewey
(1881-1963) dựa trên phân loại của Angle nhưng ông đã đưa ra các tiểu loại cho
khớp cắn loại I và III để phân biệt các sai lạc vị trí răng trước và sau. Ackerman
– Profitt sử dụng phân loại của Angle làm một trong năm đặc điểm để đánh giá
tương quan khớp cắn. Năm đặc điểm đó là: sự thẳng hàng của răng, mặt
nghiêng, tương quan xương-răng theo chiều ngang, tương quan xương - răng
theo chiều trước sau và tương quan xương – răng theo chiều đứng.
Mặc dù có rất nhiều hệ thống phân loại lệch lạc khớp cắn khác nhau,
phân loại khớp cắn của Angle vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nghiên
cứu và thực hành răng hàm mặt. Houston và cộng sự (1992) [15] nhận định
rằng phân loại của Angle là phân loại duy nhất được ghi nhận toàn cầu và sử
dụng rộng rãi trong nghiên cứu dịch tễ về sai khớp cắn.
1.2. Tổng quan về vận động của hàm dưới, các cản trở khớp cắn trong
quá trình vận động của hàm dưới [14]
Vận động của hàm dưới trong mối tương quan với hàm trên tạo ra nhiều
hoạt động chức năng (nhai, nuốt, nói, hô hấp, biểu hiện thái độ...) cũng như
các hoạt động cận chức năng (nghiến răng...) khác nhau. Có nhiều cách khác
nhau để phân loại vận động của hàm dưới.
Cách phân loại phổ biến nhất là dựa vào hướng dịch chuyển của hàm
dưới khi thực hiện vận động. Vận động của hàm dưới có thể được chia thành
vận động đưa hàm dưới ra trước, vận động lùi hàm về sau, vận động đưa hàm
sang bên, vận động nâng hàm và hạ hàm.
Vận động của hàm dưới cũng có thể được phân loại theo tính chất vận
động của lồi cầu, bao gồm chuyển động trượt và chuyển động xoay.
Chuyển động xoay là chuyển động của một vật quay quanh một điểm
hay một trục cố định. Trong khớp cắn học, chuyển động xoay xuất hiện trong
12
Trên bộ răng có khớp cắn bình thường, vận động sang bên của hàm dưới
được hướng dẫn bởi mặt trong răng nanh trên hoặc của các múi ngoài các
răng trên từ vị trí LMTĐ đến vị trí đầu đối đầu. Tùy thuộc vào răng tham gia
vào hướng dẫn vận động, ta có các loại hướng dẫn:
• Hướng dẫn răng nanh: hướng dẫn răng nanh được D’Amico giới thiệu
lần đầu tiên năm 1958. Đây là chức năng hướng dẫn vận động trượt sang
bên mà chỉ có răng nanh tham gia hướng dẫn sự trượt suốt hành trình từ
LMTĐ đến vị trí đối đầu, các răng sau nhả khớp toàn bộ và lập tức.
Điều kiện để có hướng dẫn răng nanh thường là:
• Khớp cắn loại I răng nanh theo Angle
• Có sự chạm khớp của răng nanh hàm trên và hàm dưới ở vị trí lồng múi
tối đa
• Răng nanh trên có độ cắn chìa nhỏ hơn độ cắn chìa của răng cửa bên và các
răng sau để có thể gây nhả khớp lập tức các răng sau và răng cửa khi vận
động hàm dưới sang bên, và độ cắn phủ lớn hơn độ cắn phủ các răng cối nhỏ
và răng cối lớn) sao cho có thể hướng dẫn suốt hành trình sang bên (từ
LMTĐ đến vị trí đối đầu).
• Hướng dẫn nhóm: Là chức năng hướng dẫn vận động trượt sang bên
được hướng dẫn bởi nhiều răng sau (có thể bao gồm cả răng nanh).
Nhiều tác giả cho rằng hướng dẫn răng nanh là hướng dẫn lý tưởng cho
chuyển động sang bên của hàm dưới, vì răng nanh trên có cấu trúc mô nâng
đỡ khỏe, tỷ lệ thân và chân răng phù hợp để chịu lực, mặt trong của răng nanh
trên cong lồi, phù hợp với sự trượt của răng dưới... [18] Trong khi đó, nhiều
tác giả cho rằng hướng dẫn nhóm là chức năng tối ưu có tác dụng tốt bảo vệ
mô nha chu, do lực nhai được phân bố đều trên nhiều răng [19].
Có rất nhiều tranh cãi về hướng dẫn nào chiếm ưu thế trong tự nhiên. Một số
• Các răng cửa không tiếp xúc với răng cửa trên ở khớp cắn LMTĐ và
cũng không tham gia vào hướng dẫn hướng dẫn sự trượt của hàm dưới.
Trường hợp này gọi là không có hướng dẫn răng cửa.
Độ dài và độ dốc của hướng dẫn răng cửa phụ thuộc vào độ cắn chùm và
14
độ cắn chìa của các răng.
Hướng dẫn răng cửa trong vận động trượt hàm dưới ra trước được coi là
tốt khi:
• Vận động trượt ra trước được hướng dẫn bởi hai răng cửa hàm trên, có
thể có sự tham gia của các răng cửa bên.
• Hướng dẫn răng cửa làm nhả khớp lập tức và toàn bộ răng sau.
• Hướng dẫn răng cửa cho phép hàm dưới trượt thẳng ra trước trên mặt
phẳng dọc giữa và duy trì tiếp xúc đều đặn từ điểm chịu cắn khớp ở
lồng múi tối đa đến vị trí đầu chạm đầu.
1.2.3. Cản trở khớp cắn [14]
Cản trở cắn là những tiếp xúc của răng mà cản trở phần còn lại của khớp
cắn đạt được một tiếp xúc hài hòa và ổn định.
Có bốn loại cản trở khớp cắn: cản trở trung tâm (centric occlusal
interference), cản trở làm việc (working interference), cản trở không làm việc
(nonworking interference), và cản trở ra trước (protrusive interference)
1.2.3.1. Điểm chạm sớm ở tương quan trung tâm
Tiếp xúc sớm ở tương quan trung tâm là một cản trở cắn khớp ở vị trí TQTT.
Nếu tiếp xúc đầu tiên trên đường đóng bản lề chỉ diễn ra trên một cặp răng, đó là
tiếp xúc sớm ở tương quan trung tâm. Tiếp xúc này có thể làm cản trở sự trượt
trung tâm: vận động trượt ra trước của hàm dưới gặp khó khăn, hoặc bị lệch ra khỏi
mặt phẳng dọc giữa.
1.2.3.2. Cản trở cắn trong vận động đưa hàm sang bên
Cản trở vận động trượt ra trước là các tiếp xúc bất thường ngăn cản sự trượt
hài hòa của hàm dưới từ LMTĐ đến vị trí đối đầu. Có hai loại cản trở ra trước:
Cản trở ở vùng răng trước (cản trở ra trước bên làm việc):
Khi chỉ có một răng trước hàm trên tham gia vào hướng dẫn vận động ra
trước. Răng cản trở bị chấn thương, đau, lung lay, hoặc sai lệch vị trí trên cung
hàm (thường gặp răng trên lệch ra ngoài và/hoặc răng dưới lệch vào trong).
Cản trở vùng răng sau (cản trở ra trước bên không làm việc):
16
Tiếp xúc cắn khớp răng sau gây nhả khớp răng trước trong vận động đưa
hàm ra trước trên người vốn có hướng dẫn ra trước gọi là cản trở ra trước bên
không làm việc. Cản trở loại này làm sự trượt mất hài hòa, và không thẳng ra
trước trên mặt phẳng dọc giữa. Ở người không có hướng dẫn ra trước, tức là vận
động trượt ra trước được hướng dẫn bởi các răng sau (như trường hợp bệnh nhân
cắn hở hoặc cắn chéo vùng răng trước) thì không coi là cản trở ra trước.
1.3. Ảnh hưởng của lệch lạc khớp cắn lên mòn cổ răng
1.3.1. Khái niệm mòn cổ răng
Mòn răng là tình trạng mất đi tổ chức cứng của răng do quá trình bệnh
lý không phải là sâu răng (Eccles, 1982) [24]. Mòn răng được chia làm bốn
loại, dựa theo các nguyên nhân gây tổn thương, gồm: mài mòn hóa học, mòn
răng cơ học, mòn răng – răng và mòn cổ răng do khớp cắn.
Mòn cổ răng (hay tổn thương tổ chức cứng cổ răng không do sâu) là sự
mất mô răng ở vị trí ranh giới men – cement mà không do nguyên nhân sâu
răng (Mair, 1992) [25].
1.3.2. Đặc điểm lâm sàng
Tổn thương thường có hình chêm, hình chữ V, hình chữ U hoặc hình
đĩa. Tổn thương có thể nằm trên, ngang hoặc dưới lợi. Nhiều tác giả cho
rằng đặc điểm của tổn thương có liên quan đến nguyên nhân gây mòn cổ
18
Hình 1.6: Phân loại mòn cổ răng TWI theo Smith và Knight [30]
1.3.4. Nguyên nhân mòn cổ răng
Có ba nhóm nguyên nhân gây ra mòn cổ răng, đó là mòn răng cơ học,
mài mòn hóa học và mòn cổ răng do lực uốn.
1.3.4.1. Mòn răng cơ học (abrasion) [31]
Là sự mất tổ chức của răng gây ra bởi các tác nhân ngoại lai. Các tác
nhân ngoại lai thường rất đa dạng và tạo ra các hình thái mòn khác nhau.
Nguyên nhân có thể do lực chải răng quá mạnh, sử dụng kem đánh răng có
nhiều hạt độn thô, thói quen cắn các vật cứng hoặc ăn các thức ăn cứng...
Trong các tác nhân trên thì nguyên nhân chính gây mòn cổ răng là thói
quen chải răng không đúng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp chải
răng, lực chải răng cũng như độ cứng và tuổi thọ của bàn chải sẽ ảnh hưởng
tới mòn cổ răng [32],[33],[34]. Theo Mannerberg (1960) [32], chải răng theo
hướng ngang có nguy cơ gây mòn răng gấp hai, ba lần cho răng so với chải
răng dọc. Một nghiên cứu cắt ngang gồm 818 đối tượng của Bergstrom và
Lavstedt (1979) đã chỉ ra rằng tỉ lệ tổn thương mòn cổ răng ở những đối
tượng chải răng 2 lần một ngày cao hơn 12% so với nhóm chải răng ít lần
hơn [33]. Một số tác giả khác lại cho rằng kem đánh răng có ảnh hưởng tới
mòn cổ răng nhiều hơn bàn chải đánh răng và phương pháp chải răng [34].
19
Đặc điểm của tổn thương cổ răng do chải răng là tổn thương có dạng
hình đĩa, bờ tròn, đáy cứng. Vị trí tổn thương thường gặp ở mặt ngoài, có tính
chất đối xứng, bên trái nặng hơn bên phải ở những bệnh nhân thuận tay phải.
có thể là đa nguyên nhân [36]. Vì vậy cần có nhiều nghiên cứu hơn về căn
nguyên của tổn thương mòn cổ răng.
1.3.5. Ảnh hưởng của lệch lạc khớp cắn tới mòn cổ răng
Trước đây, nhiều nghiên cứu đã chứng minh ảnh hưởng của cơ chế cơ
học và hóa học lên tổn thương mòn cổ răng. Tuy vậy, có rất nhiều trường hợp
mòn cổ răng không thể giải thích được bằng lực chải răng hay các hóa chất
gây mài mòn, ví dụ như những tổn thương trên một răng đơn lẻ ở những bệnh
nhân không có yếu tố nguy cơ. Các lực uốn tác dụng lên vùng cổ răng được
cho là căn nguyên cho nhóm tổn thương này. Sau này, nhiều nghiên cứu lâm
sàng đã chứng minh được mối liên hệ giữa những yếu tố của khớp cắn với
hiện tượng mòn cổ răng [8],[9]. Các yếu tố khớp cắn được cho là ảnh hưởng
tới mòn cổ răng là cản trở cắn ở vận động của hàm dưới sang bên và ra trước,
điểm chạm sớm ở tương quan trung tâm, điểm chạm quá mức ở khớp cắn
lồng múi tối đa, loại hướng dẫn vận động hàm dưới sang bên, cản trở khi
trượt từ tương quan trung tâm tới vị trí khớp cắn lồng múi tối đa... Những yếu
tố này sinh ra sang chấn khớp cắn và gây ra mòn cổ răng theo cơ chế của mòn
cổ răng do lực uốn.
1.4. Ảnh hưởng của lệch lạc khớp cắn lên tình trạng co lợi
1.4.1. Giải phẫu vùng quanh răng [37]
Vùng quanh răng bao gồm: lợi, dây chằng quanh răng, xương răng và
xương ổ răng.
21
Hình 1.7: Giải phẫu vùng quanh răng [38]
Lợi:
Lợi là phần niêm mạc biệt hoá ôm cổ răng, một phần chân răng và
xương ổ răng. Giới hạn trên của lợi là nhú lợi và đường viền lợi, dưới là ranh
giới lợi – miệng. Màu sắc: bình thường lợi có màu hồng nhạt và săn chắc. Lợi
Xương răng
Là tổ chức vô cơ bao phủ ngà chân răng, có nguồn gốc trung mô thành
phần hoá học gần giống như xương nhưng không có mạch máu và thần kinh
trực tiếp. Bề dầy xương răng khác nhau ở các vùng, tăng theo tuổi, ở cuống
răng dầy hằn ở cổ răng.
Cấu trúc: Xương răng gồm 2 loại: có và không có tế bào, 2 loại này
không khác nhau về chức phận cũng như đặc điểm bệnh lý.
Chức năng: Cùng với xương ổ răng giữ bề rộng cần thiết cho dây chằng
quanh răng, bảo vệ ngà chân răng và tham gia sửa chữa một số tổn thương ở
ngà răng.
Xương ổ răng
Là phần lõm của xương hàm ôm các chân răng và làm mô chống ñỡ
quan trọng nhất của răng
Ổ răng gồm 2 phần: lá cứng là thành trong huyệt răng và tổ chức xương
23
chống đỡ xung quanh huyệt răng. Lá cứng là một lá xương mỏng cấu tạo là
xương have đặc có những lỗ nhỏ ñể mạch máu và thần kinh ñi qua.
Cấu trúc: xương vỏ ở phía mặt ngoài và trong răng là tổ chức xương
đặc và xương xốp (nằm giữa lá cứng và xương vỏ).
Chức năng: Giữ răng chắc trong xương hàm, truyền và phân tán lực nhai.
1.4.2. Khái niệm co lợi
Co lợi là quá trình lộ bề mặt chân răng do sự di chuyển về phía cuống
răng của lợi [39].
1.4.3. Phân loại co lợi của Miller [40]
Có nhiều phương pháp phân loại để chẩn đoán phân loại trên lâm sàng,
trong đó phổ biến nhất là phương pháp phân loại của Miller. Miller chia tổn
thương co lợi thành 4 độ, với đặc điểm của tổn thương và tiên lượng khác nhau:
dính.
24
1.4.4. Nguyên nhân gây co lợi [41]
Co lợi là một vấn đề đa nguyên nhân, trong đó các nguyên nhân sinh lý,
bệnh lý, sang chấn phối hợp với nhau gây ra tình trạng co lợi. Các nhóm
nguyên nhân chính là:
Nguyên nhân bệnh lý: viêm quanh răng, túi lợi bệnh lý sâu có thể là
nguyên nhân của co lợi bệnh lý.
Nguyên nhân sinh lý: Co lợi sinh lý tăng theo tuổi, tỉ lệ co từ 8% ở trẻ
em tới 100% sau tuổi 50
Nguyên nhân sang chấn: co lợi có thể là do chải răng sai kỹ thuật làm
sang chấn mòn lợi (lợi mỏng và thấp dần). Sang chấn khớp cắn là yếu tố
thuận lợi của tổn thương co lợi.
1.4.5. Ảnh hưởng của lệch lạc khớp cắn tới tình trạng co lợi
Lệch lạc khớp cắn được cho là yếu tố thuận lợi của tổn thương co lợi. Có
hai cơ chế chính để giải thích cho sự ảnh hưởng này:
Các lệch lạc như răng chen chúc, khấp khểnh…gây khó khăn cho việc
vệ sinh răng miệng, làm cao răng và mảng bám dễ tích tụ, thúc đẩy quá
trình viêm tại chỗ.
Các lệch lạc khớp cắn tạo ra các sang chấn khớp cắn. Sang chấn khớp
cắn làm trầm trọng co lợi do tăng sinh biểu mô và viêm tại chỗ.
Các răng xoay, răng nghiêng, răng lệch trục cũng dễ bị co lọi hơn do
xương ổ răng ở những răng này thường mỏng hơn.
1.5. Tình hình nghiên cứu về ảnh hưởng của lệch lạc khớp cắn lên mòn cổ
răng và tình trạng co lợi ở Việt Nam và trên thế giới
1.5.1. Ảnh hưởng của lệch lạc khớp cắn lên co lợi
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm mối liên
(94,5%), không có hướng dẫn răng nanh (77,2%).
Năm 2005, Madani AO [44] và cộng sự tiến hành nghiên cứu mối liên
quan của tổn thương tổ chức cứng cổ răng và điểm chạm sớm ở tương quan