Đánh giá hiệu quả thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) bằng phương pháp mang thai hộ tại bệnh viện phụ sản trung ương - Pdf 37

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xưa, việc chăm lo gia đình, nuôi dạy con cái đã là ”nhiệm vụ”
không thể thiếu của người phụ nữ. Niềm hạnh phúc vô bờ bến của mỗi người
phụ nữ đó là làm vợ và làm mẹ, được chăm sóc cho những người mình yêu
thương, điều đó không thay đổi theo tiến trình lịch sử, theo những thay đổi
trong quan niệm thời đại song không phải người phụ nữ nào cũng có được
niềm hạnh phúc tưởng chừng như rất đơn giản ấy, vì một số nguyên nhân họ
không thể có con một cách tự nhiên như những phụ nữ khác.
Khoa học phát triển, những hiểu biết của con người về quá trình thụ
tinh và sinh sản càng được mở rộng, các phương pháp chữa trị vô sinh đã
ngày càng phát triển, sự ra đời của Louise Brown - em bé thụ tinh trong ống
nghiệm đầu tiên trên thế giới (năm 1978) đã mở ra một trang phát triển mới
của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Hàng loạt các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khác
cũng ra đời và liên tục được cải tiến với tỷ lệ thai lâm sàng của mỗi chu kỳ
điều trị cao hơn hẳn sinh lý sinh sản bình thường của con người.
Năm 1985 kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm - mang thai hộ lần đầu
tiên thực hiện tại Mỹ thành công[1]. Từ đó đến nay kỹ thuật thụ tinh trong ống
nghiệm - mang thai hộ được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới (Anh, Hà Lan,
Úc, Bỉ, Ấn Độ, Canada....)[2] thỏa mãn niềm mong ước được làm mẹ cho hàng
triệu phụ nữ bất hạnh không thể mang thai bằng chính tử cung của mình.
Những năm vừa qua, vì Việt Nam cấm mang thai hộ nên đã có người
phải ra nước ngoài để thực hiện dịch vụ này với chi phí cao. Trở về nước, họ
lại gặp phải rất nhiều khó khăn khi làm giấy tờ xác định hồ sơ nhân thân cho
cháu bé trong khi các kỹ thuật đó hoàn toàn có thể thực hiện được tại nước ta.
Đáp ứng nhu cầu cấp thiết trên, ngày15/03/2015, theo Nghị định số
10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 do chính phủ ban hành quy định về sinh
con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về điều kiện mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo. Bệnh viện Phụ sản trung ương; bệnh viện đa khoa trung


Ở Canada chỉ chấp nhận mang thai hộ nhân đạo, người mang thai hộ
sẽ được chi trả các phí tổn cho quá trình mang thai hộ, ngoài ra bất cứ khoản
thù lao khác đều trái luật[5].
Ở Nam Mỹ, tòa án dân sự tối cao sẽ xem xét hồ sơ mang thai hộ trước
khi bắt đầu quá trình. Việc này nhằm nhận biết cặp vợ chồng cần mang thai
hộ thực thụ và hạn chế tối đa đẻ thuê[2].
Tại các nước Châu Á, Nhật Bản cũng cho phép mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo. Ả Rập xê út theo quan niệm tôn giáo không chấp nhận việc mang
thai hộ[6].
Trung Quốc: Bộ Y Tế ban hành luật mang thai hộ nhân đạo vào năm
2001, mặc dù vậy các báo cáo cho thấy việc mang thai hộ bất hợp pháp
(illegal surrogacy) trên thị trường chợ đen (“black market”) vẫn đang phát
triển mạnh mẽ ở Trung Quốc[2].
Tại Ấn độ: Việc đẻ thuê đang trở thành một ngành kinh doanh phát
triển mạnh mẽ, Ấn độ trở thành một nơi mà cả thế giới biết tới với việc đẻ
thuê chuyên nghiệp thông qua những hoạt động du lịch gắn liền với đẻ thuê.
Dịch vụ đẻ thuê đang bóc lột những người phụ nữ nghèo ở đây và làm gia
tăng tỷ lệ tử vong mẹ[2].
Lý giải về việc gia tăng tỷ lệ tử vong mẹ, các nghiên cứu cho thấy: khi
mà tại Mỹ, số phôi được chuyển vào tử cung người mang thai hộ không quá


5

hơn 2, thì tại Ấn Độ để tăng khả năng mang thai, số phôi được chuyển lên đến
5 phôi. Việc chuyển một số lượng lớn phôi tiềm ẩn những nguy cơ về sức
khỏe cho mẹ, chửa đa thai làm gia tăng tỷ lệ tiền sản giật, sản giật, rau bong
non, nhiễm khuẩn hậu sản, băng huyết, trầm cảm sau sinh…mặc khác chuyển
nhiều phôi đồng nghĩa với việc tăng liều các thuốc nội tiết, tăng tác dụng phụ
của thuốc.

sinh sản
• Cặp vợ chồng đang không có con chung
• Đã được tư vấn đầy đủ về y tế, pháp lý, tâm lý
Điều kiện của một người có quyền nhận mang thai hộ:


Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng của cặp vợ

chồng nhờ mang thai hộ
• Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ 1 lần
• Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về
việc có khả năng mang thai hộ
• Người phụ nữ mang thai hộ phải được sự đồng ý bằng văn bản của
người chồng nếu có chồng
• Phải được tư vấn về mặt y tế, pháp lý, tâm lý
1.2. SINH LÝ THỤ TINH

1.2.1. Vai trò của trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng
1.2.1.1.Vùng dưới đồi
Vùng dưới đồi nằm ở vách não thất 3, điều khiển hệ thống nội tiết,
vùng dưới đồi thường xuyên nhận các thông tin thần kinh, hóa học và điều
khiển các chu kỳ qua trung gian tuyến yên.
Củ xám, nhân bụng giữa, nhân lưng giữa và nhân cung tiết ra các
hormone giải phóng.Trong đó có các hormon giải phóng hormon hướng sinh
dục, gọi tắt là Gn-RH (Gonadotropin Releasing Hormone).
Gn-RH là một decapeptid có cấu trúc chung cho tất cả các động vật có
vú và được tổng hợp từ một tiền chất có 92 acid amin ở giải tiền thị giác.
Tác dụng của GnRH là kích thích tế bào thùy trước tuyến yên bài tiết
cả FSH và LH. Vắng mặt GnRH hoặc nếu đưa GnRH liên tục vào máu đến
tuyến yên thì cả FSH và LH đều không được bài tiết[8], [9].





Vỏ nang trong chế tiết estrogen.
Các tế bào hạt của hoàng thể chế tiết progesteron.
Các tế bào của rốn buồng trứng chế tiết androgen (hormon nam).
Buồng trứng hoạt động dưới sự điều khiển trực tiếp của tuyến yên và

gián tiếp của vùng dưới đồi[10]. Mối liên quan hoạt động chức năng giữa
vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng được thể hiện ở hình dưới đây:


8

Hình 1.1. Trục dưới đồi (Hypothalamus) – Tuyến yên (Pituitary) – Buồng
trứng (Ovary)[11]


9

1.2.2. Cấu tạo và sự phát triển của nang noãn
1.2.2.1. Cấu tạo









Khoảng ngày 7 của chu kỳ, sự chọn lọc của nang noãn được tiến hành.
Một số nang noãn trong số các nang noãn thứ cấp sẽ được chọn lọc để chuẩn
bị cho sự phóng noãn sau này. Các nang noãn này thường là các nang đáp ứng
tốt với tác dụng của FSH, có nhiều thụ thể của FSH trên các tế bào hạt, và chế
tiết rất nhiều estradiol[13].
c. Sự vượt trội của một nang noãn (dominance)

Khoảng ngày 8 - 10 của chu kỳ, một nang noãn đã được chọn lọc sẽ
vượt trội hơn những nang khác. Trong nang noãn vượt trội, hoạt động chế tiết
ra estradiol rất nhanh, đồng thời dưới tác dụng của FSH, nang noãn vượt trội
tiết ra inhibin (trọng lượng phân tử > 70.000 D). Inhibin ức chế sự chế tiết
FSH của tuyến yên, làm cho các nang khác thiếu FSH, làm giảm khả năng chế
tiết estradiol của các nang khác, dẫn đến sự tích lũy của androgen và thoái hóa
của các nang khác, đảm bảo cho vai trò vượt trội của chỉ riêng nang noãn
vượt trội đó[13].
d. Sự thoái hóa của nang noãn (atresia)

Dihydrotestosterone (DHT) đã được chứng minh là ức chế hoạt động
chuyển hóa androgen thành estradiol của nang noãn. Do đó, môi trường chứa
androgen của nang noãn chịu trách nhiệm cho sự thoái hóa của nó[13].
e. Sự phóng noãn (ovulation)

Phóng noãn là một quá trình mà thông qua đó một noãn có khả năng
thụ tinh được giải phóng từ một nang noãn.
Thời gian phóng noãn thay đổi rất nhiều trong từng chu kỳ kinh, ngay
cả trên cùng một người phụ nữ. Ước tính thời gian trung bình phóng noãn là
34 - 38 giờ sau sự khởi phát của đỉnh LH.Phóng noãn không phải là một sự
kiện đột ngột. Đỉnh LH khởi phát một chuỗi các biến cố mà cuối cùng dẫn
đến sự phóng noãn[13].

bào Sertoli và lớp biểu mô của ống sinh tinh để di chuyển vào lòng của ống
sinh tinh.Lúc này tinh trùng đã có hình dạng đặc trưng nhưng chưa có khả
năng di động. Tinh trùng đi từ các ống sinh tinh vào đến mào tinh chủ yếu do
tác động luồng dịch di chuyển và một phần do các nhung mao.


12

Trước khi xuất tinh, các tinh trùng trưởng thành tập trung ở vùng đuôi
mào tinh.Nếu không xuất tinh kéo dài, các tinh trùng già sẽ dần dần thoái hóa
và tiêu đi, đồng thời các tinh trùng mới vẫn tiếp tục được sinh ra và đi đến
đuôi mào tinh. Bình thường tại đuôi mào tinh sẽ tồn tại cùng lúc nhiều thế hệ
tinh trùng khác nhau
Ngay trước khi phóng tinh, tinh trùng trưởng thành từ mào tinh sẽ di
chuyển vào ống dẫn tinh, ống phóng tinh và niệu đạo để ra ngoài. Trên đường đi
tinh trùng được hòa với các dịch tiết từ các tuyến phụ để tạo thành tinh dịch: các
túi tinh, tiền liệt tuyến, các tuyến niệu đạo…Sự co thắt của ống dẫn tinh, các
tuyến phụ, phối hợp với sự co thắt hệ cơ xung quanh tạo thành một áp lực rất
mạnh lúc phóng tinh, làm tinh dịch bị bắn ra ngoài theo đường niệu đạo.
Tinh dịch được phóng vào âm đạo, gần lỗ ngoài cổ tử cung.pH tinh
dịch vào khoảng 7,2 - 7,8. Trong khi pH của âm đạo thường < 5. Do đó, ngay
sau khi phóng tinh , tinh dịch đông, vón cục, do sự hình thành fibrin, tạo
thành một vỏ bọc để bảo vệ tinh trùng khỏi môi trường acid của âm đạo và
giữ tinh trùng ở vị trí gần cổ tử cung, tránh chảy ngược ra ngoài. Môi trường
âm đạo sau đó bị kiềm hóa do khả năng đệm của tinh dịch. Sự ly giải bắt đầu
xảy ra, nhờ tác động của fibrinolysin, và giải phóng tinh trùng[13].
Sự di chuyển của tinh trùng trong buồng tử cung được sự hỗ trợ của nhiều
yếu tố:



vủa vòi trứng hướng về buồng tử cung.Phôi vào đến buồng tử cung khoảng 4
- 5 ngày sau khi thụ tinh, vào giai đoạn cuối của phôi dâu (morula) hoặc đầu
của phôi nang (blastocyst). Trong thời gian đó, nội mạc tử cung được chuẩn
bị cho quá trình làm tổ nhờ ảnh hưởng của progesterone do buồng trứng tiết
ra trong giai đoạn hoàng thể. Phôi sẽ bám vào nội mạc tử cung để làm tổ vào
thời điểm 6 - 7 ngày sau khi thụ tinh[13].
1.3. THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM – MANG THAI HỘ

1.3.1. Định nghĩa các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm[15]
Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF - In vitro fertilization):là chọc hút một
hay nhiều noãn đã trưởng thành từ buồng trứng cho thụ tinh với tinh trùng (đã
được lọc rửa) trong ống nghiệm. Sau khi noãn thụ tinh phát triển thành phôi,
chuyển phôi tốt vào buồng tử cung để phôi làm tổ và phát triển thành thai nhi.
Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI - Intracytoplasmic Sperm
Injection): kỹ thuật ICSI được tiến hành như một trường hợp TTTON thông


14

thường nhưng ở giai đoạn thụ tinh, chỉ 01 tinh trùng được tiêm trực tiếp vào bào
tương của noãn dưới sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác.
Thụ tinh trong ống nghiệm mang thai hộ (IVF - surrogacy): là chọc
hút noãn đã trưởng thành từ buồng trứng của người nhờ mang thai hộ , sau đó
cho thụ tinh với tinh trùng (đã được lọc rửa) của chồng người nhờ mang thai hộ
trong ống nghiệm. Sau khi noãn thụ tinh phát triển thành phôi, chuyển phôi tốt
vào buồng tử cung của người nhận mang thai hộ(đã được chuẩn bị niêm mạc tử
cung) để phôi làm tổ và phát triển thành thai nhi.

Hình 1.3. Thụ tinh trong ống nghiệm – mang thai hộ[16]
1.3.2. Chỉ định TTTON – mang thai hộ

Ống Muller chỉ phát triển 1 bên sẽ tạo thành tử cung một sừng, một cổ tử
cung.

-

Ống Muller ngừng phát triển sẽ có dị dạng không có tử cung (hội chứng
Rokitansky – tỷ lệ gặp 1/5000 phụ nữ), hoặc tử cung bất sản.


Không có tử cung do phẫu thuật cắt tử cung: bệnh lý tại tử cung (u xơ tử
cung), tai biến sản khoa (rau tiền đạo, rau bong non, đờ tử cung, vỡ tử cung…)

1.3.2.2. Các bệnh lý mắc phải tại tử cung:Bao gồm
 Dính buồng tử cung:đây là biến chứng do viêm nhiễm ngược dòng

từ âm đạo, cổ tử cung hoặc biến chứng sau nạo hút thai[17].
 U xơ tử cung, khối lạc nội mạc tử cung …

1.3.2.3.Bệnh lý nội khoa nặng không thể mang thai
-

Suy tim: là tình trạng bệnh lý, trong đó cơ tim giảm hay mất khả năng cung
cấp máu nuôi cơ thể theo nhu cầu cơ thể lúc gắng sức và sau đó là ngay cả lúc
nghỉ ngơi.

-

Hẹp, hở van hai lá nặng

-

mang thai hộ
Kích thích buồng trứng của người nhờ mang thai hộ song song với chuẩn bị

-

niêm mạc tử cung của người mang thai hộ bằng nội tiết.
Chọc hút lấy noãn của người nhờ mang thai hộ.
Tinh trùng của chồng người nhờ mang thai hộ được lấy vào ngày người nhờ mang

-

thai hộ chọc hút noãn.
Thụ tinh trong ống nghiệm noãn người nhờ mang thai hộ với tinh trùng

-

chồng người nhờ mang thai hộ.
Chuyển phôi vào buồng tử cung người mang thai hộ. Hỗ trợ giai đoạn hoàng thể.
Thử thai và hỗ trợ nội tiết thai kỳ nếu có thai.
1.3.4. Các thuốc sử dụng trong TTTON – mang thai hộ
1.3.4.1. FSH (follicule stimulating hormone)
a. Tác dụng FSH:FSH có tác dụng kích thích trực tiếp nang noãn buồng

trứng phát triển thành nang noãn trưởng thành.
b. Các chế phẩm FSH
-

hMG: nguồn gốc từ nước tiểu, chứa 75đv FSH và 75đv LH, do vậy ngoài tác
dụng của FSH thì còn có tác dụng của LH, ngoài ra hMG còn chứa các



Hội chứng quá kích buồng trứng.
Phản ứng tại chỗ tiêm: thâm tím, đau, đỏ, sưng, ngứa. [19]
1.3.4.2. hCG (Human chorionic gonadotropin)
a. Cấu tạo

hCG là một lycoprotein có trọng lượng phân tử là 38kDa. Phân tử gồm 2
chuỗi protein không cân nhau, chuỗi alpha không đặc hiệu có 92 acid amin và
chuỗi beta đặc hiệu có 145 acid amin.
Chuỗi alpha giống chuỗi alpha của FSH, LH, TSH, chuỗi beta đặc hiệu cho
LH và hCG. Đoạn cuối của chuỗi beta có gắn một chuỗi carbonhydrat làm
cho quá trình giáng hóa phân tử này bị chậm lại, do đó thời gian bán hủy của
hCG là 36 giờ dài hơn so với LH chỉ là 4 giờ
b. Chế phẩm
-

hCG có nguồn gốc nước tiểu: được chiết xuất từ nước tiểu của phụ nữcó thai:

-

Prenyl 5000 IU
hCG tái tổ hợp: được sản xuất từ công nghệ tái tổ hợp, không chứa các tạp
chất và protein lạ do đó hoạt tính sinh học ổn định hơn. biệt dược: Ovitrelle
250µg, tương ứng với 6500 IU hCG
c. Dược động học của hCG
Sau khi tiêm bắp hCG có nguồn gốc nước tiểu, hàm lượng huyết thanh
tăng trong vòng 2 giờ, hàm lượng đỉnh đạt được trong vòng 6 giờ và kéo dài
36 giờ. Hàm lượng hCG giảm lúc 48 giờ và tiếp cận mức cơ sở sau 72 giờ.



a. Cấu tạo

GnRH đối vận được cấu tạo bằng cách thay đổi phần lớn các acid amin trong
số 10 acid amin của GnRH. Hiện tại GnRH đối vận thế hệ thứ 3 được dùng phổ
biến hơn do tính an toàn hơn so với các chế phẩm ở thế hệ thứ nhất và thứ hai.


19

b. Chế phẩm

Ganirelix (Orgalutran 0,25mg); Cetrorelix acetate (Cetrotide 0,25mg)
c. Cơ chế tác động

GnRH đối vận gắn kết cạnh tranh với thụ thể của GnRH tại tuyến yên,
khiến cho GnRH do vùng dưới đồi tiết ra không thể tác dụng được lên tuyến yên
để gây tiết FSH và LH. Vì vậy, sự gia tăng của nồng độ estrogen trong máu
không thể tác động được để gây đỉnh LH. So với GnRH đồng vận, GnRH đối
vận có tác động tức thì, khoảng 4 – 6 giờ sau tiêm và phục hồi nhanh sau ngưng
thuốc[19].
1.3.5. Các phác đồ kích thích buồng trứng trong TTTON – mang thai hộ
1.3.5.1. Mục đích kích thích buồng trứng
-

Đủ số lượng nang noãn cần thiết (hiệu quả)
Lượng thuốc sử dụng mức tối thiểu (tiết kiệm)
Không bị quá kích buồng trứng (an toàn)
1.3.5.2. Nguyên lý kích thích buồng trứng
Ngưỡng FSH: FSH đóng vai trò quan trọng trong quá trình tuyển mộ,
chọn lọc và vượt trội của nang noãn. Một lượng nhất định FSH được bài tiết

b. Phác đồ ngắn:
Bắt đầu từ ngày 2 chu kỳ kinh dùng GnRHa. Từ ngày 3 chu kỳ liều GnRHa
giảm đi 1/2 kết hợp FSH. Liều FSH ban đầu được cho dựa vào tuổi, xét
nghiệm nội tiết, số nang cơ sở 2 buồng trứng, tiền sử đáp ứng với kích thích
buồng trứng…Thông thường liều khởi đầu của phác đồ ngắn là từ 150 – 200

-

IU/ngày
Theo dõi sự phát triển nang noãn, hút noãn và chuyển phôi giống như trong

-

phác đồ dài.
Phác đồ này thường chỉđịnh cho bệnh nhân có đáp ứng kém với kích thích

-

buồng trứng.
c. Phác đồ sử dụng GnRH đối vận (antagonist)
Bắt đầu từ ngày 2 hoặc ngày 3 chu kỳ dùng FSH. Liều FSH ban đầu được cho
dựa vào tuổi, xét nghiệm nội tiết, số nang cơ sở 2 buồng trứng, tiền sử đáp

-

ứng với kích thích buồng trứng…
GnRH antagonist được cho từ ngày 5- 6 dùng FSH hoặc khi có ít nhất một

-


thứ 3 của chu kỳ kinh nguyệt (FSH, LH, E2, Inhibin B), xét nghiệm AMH
(Anti Mullerian Hormone), đếm số nang thứ cấp 2 buồng trứng ngày 3 chu
kỳ, đo thể tích buồng trứng,… là các thăm dò có thể đánh giá được dự trữ của
buồng trứng từ đó có khả năng dự đoán được đáp ứng buồng trứng và liều
FSH phù hợp để đạt được kết quả khi kích thích buồng trứng.
e. Liều FSH ban đầu

Liều FSH ban đầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
kết quả của kích thích buồng trứng. Với liều FSH phù hợp sẽ có được kết quả
tối ưu của đáp ứng buồng trứng: thuđược nhiều noãn mà không bịquá kích
buồng trứng. Đã có nhiều nghiên cứu để xác định liều FSH ban đầu, liều FSH
trung bình thông thường được cho từ 150 - 250 IU/ngày tuỳ theo từng phác đồ
và tất cả các nghiên cứu đều có chỉ định cho liều FSH dựa vào tuổi, cân nặng,
xét nghiệm nội tiết và tiền sử đáp ứng của buồng trứng đối với lần kích thích
buồng trứng trước[22].


22

1.3.5.5. Đáp ứng kém với kích thích buồng trứng
Đáp ứng kém với kích thích buồng trứngđược xác định khi có ít hơn 5
nang noãn trưởng thành, nồng độ E2 trong máu thấp hay giảm rõ rệt sau khi
tiêm hCG. Đáp ứng kém xảy ra ở 15 - 20% các chu kỳ kích thích buồng
trứng. Đáp ứng kém với kích thích buồng trứng thường xảy ra ở những phụ
nữ lớn tuổi, những người có tiền sử phẫu thuật vùng bụng có dính, phẫu thuật
trên buồng trứng làm giảm thể tích mô lành còn lại của buồng trứng, lạc nội
mạc tử cung, suy buồng trứng sớm và trong một số trường hợp không rõ
nguyên nhân.
1.3.5.6. Quá kích buồng trứng
Hội chứng quá kích buồng trứng là biến chứng nghiêm trọng nhất của

theo Golan và cộng sự (1989)
Phân loại
Nhẹ
Vừa

Phân
độ
1
2
3
4

Nặng
5

Kích thước BT
Triệu chứng
trên siêu âm
5 - 10 cm
Căng bụng, đau, khó chịu
Độ 1 + buồn nôn, nôn, ỉa chảy
> 10 cm
Độ 2 + cổ chướng trên siêu âm
Độ 3 + cổ chướng trên lâm sàng,
> 12 cm
tràn dịch màng phổi và khó thở
nhiều
Độ 4 + cô đặc máu, giảm thể tích,
thiểu niệu.


b. Chống chỉ định

Nghi ngờ có ung thư phụ khoa (Ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung
thư NMTC…).Viêm tắc tĩnh mạch thể hoạt động hoặc tiền sử có bệnh tắc
mạch huyết khối.Có tiền sử gia đình bị ung thư phụ khoa.Bệnh gan, thận hoặc
tim nặng.
c. Thận trọng

E2 có thể gây giữ nước cần thận trọng trong các trường hợp: hen, động
kinh, đau nửa đầu, bệnh tim, bệnh thận, cao huyết áp và tăng canci huyết.
d. Tác dụng không mong muốn

Ứ nước kèm theo phù, tăng cân, đau đầu, vàng da, sỏi mật, buồn nôn,
nôn, nổi mày đay, tăng nguy cơ ung thư phụ khoa, huyết khối, tăng huyết
áp…
e. Dạng thuốc:

Viên uống: Progynova 2 mg, Provames 2 mg.
1.3.6.2.Progesteron
a. Dược lý và cơ chế tác dụng

Progesteron là 1 hormon steroid được tiết ra chủ yếu từ hoàng thể ở nửa
sau chu kỳ kinh nguyệt. Progesteron cùng với lượng Estrogen nội sinh được


25

tiết đầy đủ ở phụ nữ bình thường làm cho NMTC tăng sinh chuyển sang giai
đoạn chế tiết giúp cho noãn thụ tinh làm tổ và rất cần thiết để duy trì thai sản.
Progesteron còn có tác dụng làm ít đi và đặc quánh chất nhày cổ tử cung, làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status