DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVVĐ
CT
Bệnh viện Việt Đức
Computer tomography
ĐM
HCK
IPD
(chụp cắt lớp vi tính)
Động mạch
Hội chứng khoang
Index de pression distale
KHX
MRI
(chỉ số huyết áp động mạch phần xa)
Kết hợp xương
Magnetic Resonance Imaging
MSCT
(cộng hưởng từ)
Multi Slides Computer Tomography
SA
TTĐM
XQ
ngoài) hoặc đứt rời mạch máu….Từ đó tiến triển của huyết khối gây hình
thành huyết khối, thiếu máu ngoại vi ở các mức độ khác nhau gây khó khăn
trong việc chẩn đoán sớm để có thể xử trí kịp thời, đặc biệt trong cấp cứu
chấn thương-vết thương động mạch ngoại vi thì thời gian là yếu tố quyết định
thành công hay thất bại của điều trị.[1]
Các tổn thương đi kèm chấn thương-vết thương động mạch ngoại vi thường
phối hợp với chấn thương vùng khác (sọ não, cột sống, ngực, bụng, khung
chậu…) và tại chỗ , nhất là chấn thương mạch do tai nạn giao thông. Các tổn
thương này hay gây sốc mất máu, đôi khi kèm theo chấn thương sọ não gây thay
đổi tri giác, đụng dập phần mềm tại chỗ, phù nề…. làm sai lệch các triệu chứng
của chấn thương-vết thương động mạch ngoại vi, nên dễ bỏ sót chẩn đoán.
Chẩn đoán muộn , xử trí không đúng dẫn đến mất chức năng chi do hoại
tử một phần cơ hoặc cắt cụt chi do hoại tử hoàn toàn chi thể. Đây thực sự là
2
2
thách thức và mối quan tâm lớn đối với phẫu thuật viên mạch máu và chấn
thương chỉnh hình.
Tại các nước phát triển và các bệnh viện lớn tại Việt Nam như Bệnh viện
Việt Đức, việc chẩn đoán và điều trị chấn thương-vết thương động mạch
ngoại vi có rất nhiều tiến bộ nhờ phương tiện vận chuyển tốt, các thăm dò cận
lâm sàng như siêu âm Doppler, chụp động mạch trước, trong và sau mổ, can
thiệp mạch máu….. có thể áp dụng ngay khi nghi ngờ tổn thương động mạch
cũng như có đủ các trang thiết bị hiện đại khác trong điều trị.
Ở Việt Nam hiện nay, do giao thông và phương tiện vận chuyển được
cải thiện nên thời gian đến các cơ sở y tế được rút ngắn. Vấn đề quan trọng là
chẩn đoán đúng, sớm, sơ cấp cứu đúng tại các bệnh viện tuyến dưới để
chuyển tới bệnh viện có khả năng phẫu thuật mạch máu được kịp thời; thậm
chí cả việc theo dõi tiến triển của chấn thương-vết thương động mạch ngoại vi
đoạn chi dưới tổn thương dẫn đến hoại tử chi với tỉ lệ cắt cụt chi rất cao. Ngày
nay, phương pháp này chỉ áp dụng cho một số hoàn cảnh nhất định.
Sự hiểu biết về giải phẫu và sinh lý tuần hoàn là cơ sở cho phẫu thuật
mạch máu. Nhờ có công trình của Wiliam Harvey (1578-1657) với việc tìm ra
vòng tuần hoàn trong cơ thể, người ta biết rằng: máu được đẩy từ tim tới các
cơ quan qua đường động mạch rồi trờ về tim qua các tĩnh mạch. Port, Leriche,
Tonkov, Oppen đã nghiên cứu về đường đi, vòng nối của các mạch chi và các
cơ quan nhằm hoàn thiện kỹ thuật thắt mạch. Brechet (1883) đã điều trị hai
bệnh nhân rò động-tĩnh mạch do chấn thương bằng cách thắt động mạch đoạn
gần nhưng cả hai đều hoại tử phần chi ngoại vi[6] [27],[29],[32].
1.1.2. Giai đoạn phẫu thuật phục hồi lưu thông dòng máu
Theo thời gian, phẫu thuật mạch máu ngày càng phát triển, Murphy
(1897) là người đầu tiên điều trị bảo tồn thành công một trường hợp rò động
tĩnh mạch do chấn thương bằng cách đóng đường rò và cắt nối động mạch[6].
Trong suốt hai cuộc chiến tranh thứ nhất và thứ hai, y học đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng trong chẩn đoán và điều trị tổ thương động mạch.
Nhưng những phương pháp phục hồi lưu thông mạch máu chính thức xuất
hiện trong thời kỳ chiến tranh tại Triều Tiên và Việt Nam với những tiến bộ
đáng kể nhờ trực thăng vận chuyển bệnh nhân về trung tâm phẫu thuật, hồi
sức với máu và dịch truyền thay thế, kháng sinh dự phòng, chụp mạch trong
4
4
mổ và sự cải tiến kĩ thuật mổ giúp chẩn đoán sớm, tái lưu thông mạch máu
sớm và hiệu quả là những tiến bộ trong y học giúp cho thành công trong điều
trị chấn thương-vết thương động mạch ngoại vi[27],[29],[32].
1.2. Tình hình điều trị chấn thương-vết thương động mạch ngoại vi trên
thế giới và Việt Nam
•Trên thế giới
hợp để sửa chữa tại chỗ, với mạch ở sâu( mạch não, mạch tạng) hoặc điều trị
di chứng chấn thương-vết thương mạch máu( giả phồng, thông động-tĩnh
mạch)[5],[48].
•Ở Việt Nam
Với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa như hiện nay, số bệnh
nhân bị tai nạn và thương tích ngày càng tăng với nguyên nhân chủ yếu là tai
nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt với kèm theo tổn thương
động mạch[11],[27],[29],[36],[48].
Sự chênh lệch về trình độ của các tuyến y tế, thực hiện vận chuyển bệnh
nhân đến bệnh viện Việt Đức muộn dẫn đến cắt cụt chi đáng tiếc. Xuất phát
từ thực tế trên về việc cải thiện kiến thức sơ cấp cứu ban đầu, phương tiện vận
chuyển … cho đội ngũ bác sĩ cấp cứu và paramedics (nhân viên cấp cứu trước
viện) , cung cấp kiến thức, đào tạo kĩ năng cho đội phẫu thuật viên mạch máu
tuyến dưới để chẩn đoán đúng, xử trí kịp thời tránh tai biến cho bệnh nhân là
một yêu cầu vô cùng cấp thiết.
1.3. Cơ sở của việc chẩn đoán và điều trị sớm chấn thương-vết thương
động mạch ngoại vi
1.3.1. Giải phẫu bệnh của chấn thương-vết thương động mạch ngoại vi
1.3.1.1.Cấu trúc và chức năng bình thường của thành động mạch
Thành động mạch gồm ba lớp áo:
* Lớp áo trong (lớp nội mạc) là lớp áo trong cùng được giới hạn về phía
lòng mạch bởi một lớp đơn tế bào nội mô và phía ngoài bởi một bản xơ chun
6
6
(màng ngăn chun trong). Giữa hai lớp này là phức hợp khoảng gian bào.
Những đặc điểm và chức năng của lớp nội mô:
+ Chuyển hóa: với việc tạo ra chất Prostacycline, kháng yếu tố 8 và yếu
tố tham gia tổng hợp phức hợp dưới nội mô.
- Co thắt mạch máu đơn thuần- không kèm theo tổn thương nội mạc:
nguyên nhân là do các yếu tố cơ học( va đập trực tiếp, sự chèn ép của các
mảnh xương gãy, sự kéo giãn do trật khớp, dị vật chèn ép tại vết thương)
hoặc do mất cân bằng hệ thần kinh tự động điều hòa thành mạch. Về
nguyên tắc thì loại này không cần can thiệp mạch máu mà chỉ cần loại bỏ
các tác nhân cơ học.
- Cơ thắt mạch kèm tổn thương đụng giập nội mạc: Các tế bào nội mô có
thể gây co thắt các tế bào cơ trơn lớp áo giữa khi chúng tổn thương thông qua
chất trung gian hóa học Acetylcholin.
+ Tổn thương lớp nội mạc: Nhìn qua thành mạch thấy giữa vùng thành
mạch trắng bóng có chỗ tổn thương thay đổi màu sắc, các ngang sẽ thấy có
tổn thương lớp nội mạc. Có thể kèm theo máu cục nhỏ, nếu thương tổn lớn
hoặc ỏ những động mạch nhỏ có thể hình thành máu cục gây tắc mạch.
+ Đụng giập mạch máu: Do vỡ lớp áo trong-áo giữa, hậu quả hình thành
huyết khối gây tắc mạch[29].
- Hiện tượng dài đuôi huyết khối: do áp lực phía ngoại vi của huyết khối
là thấp nhất nên tiểu cầu và các sợi fibrin bám vào tạo kéo dài huyết khối
trong theo suốt chiều dài của mạch. Còn phía đầu trung tâm và các nhánh bên
do có áp lực từ phía trên hoặc nhánh tuần hoàn phụ nên không phát triển được
huyết khối.
+ Đứt rời mạch máu: hai đầu đoạn mạch xa rời nhau, thường được các
cơ và cục máu đông bít lại.
8
8
+ Vết thương bên: Do vật sắc nhọn từ ngoài vào hoặc do đầu xương gãy
sắc nhọn làm thủng thành mạch, loại tổn thương này làm cho mép vết thương
há ra gây chảy nhiều máu, khó cầm máu bằng băng ép.
+ Tổn thương thông-động tĩnh mạch: gây lên bởi dị vật xuyên qua thành
Các vết thương này có thể mất một phần( vết thương bên) hay mất toàn
bộ chu vi mạch máu( đứt rời mạch máu). Nếu vết thương bên sẽ gây chảy
máu ra ngoài dữ dội hình thành khối máu tụ lớn, đập theo mạch. Với vết
thương đứt rời mạch máu làm hai đầu mạch đứt co lại tạo điều kiện cho quá
trình cầm máu( động mạch mạch cơ, khẩu kính nhỏ)
1.3.1.3. Cơ chế gây chấn thương-vết thương động mạch ngoại vi
* Cơ chế chấn thương mạch máu: có hai nhóm gây chấn thương động
mạch là từ bên ngoài và từ bên trong [27],[48].
- Những tác nhân gây chấn thương động mạch từ bên ngoài: chiếm phần
lớn các trường hợp.
+ Chấn thương trực tiếp: gây nên thương tổn giập nát, nhất là các động
mạch ở nông, đường đi của động mạch ở gần xương-khớp như tam giác
Scarpa, khoeo, ống cánh tay Cruveilhier, nếp khuỷu. Có thể thương tổn một
hay cả ba lớp áo mạch.
+ Do cơ chế giảm tốc đột ngột: Trong quá trình chấn thương, các động
mạch bị tác động mạnh bởi các lực từ nhiều hướng khác nhau gây nên thương
tổn đứt hoàn toàn hoặc những thương tổn lớp áo giữa và lớp nội mạc do bị xé
rách hoặc bị xoắn vặn động mạch.
+ Thương tổn do kéo giãn: Gây nên thương tổn lớp áo giữa và lớp nội
mạc hoặc gây vỡ hoàn toàn thành động mạch. Cơ chế này thường gặp trong
các trường hợp trật khớp, chấn thương chi trên hoặc chấn thương bụng gây co
kéo các cuống mạch (như ở gan và ruột non).
- Những tác nhân gây chấn thương động mạch từ bên trong ra ngoài:
hiếm gặp hơn, thường do các thầy thuốc gây nên như các thủ thuật trong lòng
10
10
mạch. Lấy huyết khối động mạch bằng sonde Fogarty có thể gây nên các
thương tổn nội mạc rộng, gây nên các mảng nội mạc và tắc mạch. Các loại
tự hồi phục.
+ Vết thương xuyên động-tĩnh mạch: thương tổn cả động mạch và tĩnh
mach, mất máu nhiều, hình thành đường thông giữa động-tĩnh mạch.
1.3.1.4. Hậu quả sinh lý bệnh của chấn thương-vết thương mạch ngoại vi
+ Chảy máu ra ngoài lòng mạch khi tổn thương cả ba lớp áo:
- Chảy máu ra ngoài gây máu máu, sốc giảm thể tích, có thể gây tử vong
nếu không được cầm máu kịp thời.
- Chảy máu trong mô gây ra khối máu tụ.
+ Thiếu máu ngoại vi do co thắt, huyết khối trong lòng mạch, đứt rời
mạch máu.
- Mức độ thiếu máu từ nhẹ đến nặng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: vị trí
tổn thương động mạch, tuần hoàn bên, thời gian thiếu máu và các tổn thương
phối hợp: tĩnh mạch, thần kinh, xương, mô mềm, toàn trạng (tụt huyết áp kéo
dài…)
- Hậu quả thiếu máu thể hiện rõ trên cơ và thần kinh với các mức độ
khác nhau tùy thuộc vào vị trí. Một số vị trí tình trạng thiếu máu tổ chức xảy
ra sớm và nặng: động mạch nuôi não, động mạch khoeo.
- Cơ trong vùng động mạch chi phối sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên, tiếp theo
là thần kinh và da. Nhìn chung sau 6 giờ, nếu tuần hoàn không được lập lại sẽ
dẫn tới tổn thương không hồi phục, hoại tử một nhóm cơ, rộng hơn là một
khoang cơ, thậm chí toàn bộ cơ của chi. Hậu quả là sự xơ hóa, co rút các cơ từ
nhẹ đến nặng, nặng nhất phải cắt cụt chi.
- Những dấu hiệu cơ năng của tình trạng thiếu máu cấp tính là: đau,tê
bì, giảm hoặc mất cảm giác, giảm hoặc liệt vận động một nhóm cơ hay toàn
bộ chi[14],[6],[48].
12
12
+ Hội chứng khoang
yếm khí. Khi vượt qua giới hạn cuối cùng, tế bào nội mô mao mạch sẽ bị tổn
thương gây thoát dịch vào khoảng gian bào và kéo theo protein và chất dạng
keo. Hậu quả dẫn đến phù, nếu khoang cơ giới hạn bởi một lớp cân thì áp lực
mô tăng lên. Khi áp lực này cân bằng với áp lực mao mạch sẽ dẫn tới đè ép
các tiểu tĩnh mạch, ngăn cản đường về của tĩnh mạch, nếu áp lực khoang vượt
quá 30mmHg thì bạch mạch sẽ bị đè ép và không thể đảm bảo khả năng dẫn
lưu dịch phù cơ. Cuối cùng, khi áp lực ôxy khoảng gian bào tụt xuống dưới
giới hạn cho phép, chức năng tế bào sẽ mất, hoại tử xảy ra và vòng xoắn bệnh
lý hình thành.
Trên thực nghiệm động vật, những tổn thương không hồi phục của cơ và
thần kinh bắt đầu từ giữa giờ thứ 5 và thứ 6 của sự thiếu máu( theo Mabee và
Bostwick). Sự hoại tử trước hết gây hậu quả tại chỗ. Ngoài việc mất chức
năng một phần hay toàn bộ khối cơ đó, sau giai đoạn phù nề là quá trình xơ
hóa cơ, thần kinh, gây ra sự co rút cơ và khớp ở tư thế gâp như Richard
Volkmann đã mô tả lần đầu năm 1881. Khi hoại tử cơ lan rộng đoạn cơ đó
phải cắt cụt. Các sản phẩm chuyển hóa trung gian được tạo ra từ chuyển hóa
lipid màng tế bào, các gốc tự do có thể gây ngộ độc toàn thân, nhất là sau
phục hồi mạch máu hoặc thả garo: trụy tim mạch, hoại tử ống thận, suy thận,
tăng kali máu, xuất hiện Myoglobine niệu( sau hoại tử cơ 4 giờ), toan chuyển
hóa và có thể gây tử vong[6],[16],[27],[29],[36],[48].
1.3.2. Sinh lý bệnh chấn thương-vết thương mạch máu chi
Vùng tổn thương do hội chứng thiếu máu chi cấp tính chia làm 3
vùng[48].
+ Vùng còn hồi phục: là vùng thiếu máu dưới 6 giờ, về phương diện cấp
máu thì hồi phục cấp máu hoàn toàn, còn về hồi phục chức năng chi hoàn
toàn hoặc một phần phụ thuộc vào 4 yếu tố:
14
14
15
về. Khi một tĩnh mạch chính của chi( tĩnh mạch khoeo, tĩnh mạch đùi) bị đứt
sẽ ảnh hưởng xấu tới tuần hoàn động mạch vừa mới phục hồi, nó cũng có thể
của nguồn gốc tàn phế vĩnh viễn như phù đau. Việc phục hồi lưu thông các
tĩnh mạch lớn là quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị tổn
thương động mạch [9],[48].
•Tổn thương thần kinh: thần kinh bị kéo giãn, đụng giập hoặc cắt đứt
bởi vật sắc nhọn. Nếu do chấn thương thì tổn thương đi kèm chấn thương
động mạch ít gặp hơn. Còn đối với vết thương động mạch, đặc biệt là ở chi
trên thì tổn thương thần kinh hay đi kèm với tổn thương động mạch. Vì chi
trên hay bị vết thương mạch máu và thần kinh luôn đi kèm với động
mạch[48].
Tổn thương thần kinh không ảnh hưởng trực tiếp đến tiên lượng nhưng
nó là một yếu tố quan trọng cho quyết định cắt cụt chi thì một hoặc thì hai. Dù
có phục hồi mạch máu tốt nhưng nếu có thương tổn thần kinh thì tiên lượng
chức năng sau này của chi thể cũng bị ảnh hưởng.
•Tổn thương phần mềm bao gồm tổn thương da, cơ, các tổ chức liên kết,
gân, dây chằng, bao khớp, cân. Tổn thương nặng phần mềm ( tuần hoàn phụ)
là nhân tố chính dẫn đến cắt cụt chi. Lúc đầu nó gây ra ngừng tuần hoàn bên
do tổn thương trực tiếp các động mạch của cơ, sau đó là hiện tượng phù nề
sau chấn thương là nguồn gốc của hội chứng khoang, tác động cùng lúc lên
tuần hoàn động –tĩnh mạch làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu máu hoại tử
cơ, tạo điều kiện hình thành các ổ nung mủ sâu dẫn đến cắt cụt chi thứ phát.
Nhiều khi tổn thương phần mềm đơn thuần nhiễm trùng cũng đủ để gây cắt
cụt chi [9],[16].
1.3.3.2. Các tổn thương phối hợp toàn thân
16
16
- Chảy máu động mạch lúc ban đầu đã cầm.
- Khối máu tụ to nhỏ khác nhau, cố định
- Tổn thương dây thần kinh tùy hành động mạch.
Dấu hiệu đặc hiệu khi xuất hiện thì gần như chắc chắn có tổn thương
động mạch. Cần tìm kiếm cả 5 dấu hiệu trên, tuy nhiên chỉ cần một dấu hiệu
cũng đủ để coi như có tổn động mạch.
•Các dấu hiệu kèm theo
- Gãy xương: đau, mất vận động, biến dạng, cử động bất thường
- Trật khớp: đau, biến dạng khớp, dấu hiệu lò xo ( trật khớp vai),… chú ý
các gãy trật khớp di lệch lớn có tỷ lệ thương tổn động mạch cao như gãy trên
lồi cầu xương cánh tay, trật khớp gối, vỡ mâm chày…
- Hội chứng khoang: chẩn đoán dựa vào các triệu chứng sau:
+ Đau dữ dội chi tổn thương, mức độ đau không tương xứng với mức độ
tổn thương, đau tồn tại liên tục dù đã cắt bỏ băng, tháo bột.
+ Đau tăng lên khi vận động thụ động các cơ ở khoang đó.
+ Đoạn chi thương tổn nắn rất căng, đau, tăng cảm giác.
+ Tê bì, giảm hoặc mất cảm giác (khám khi bệnh nhân tỉnh)
+ Giảm vận động hoặc liệt hoàn toàn (hậu quả của thiếu máu hoặc hoại
tử thần kinh, cơ).
+ Mạch ngoại vi thường là còn, nếu mất phải nghĩ ngay đến thương tổn
động mạch. Rất ít trường hợp mất mạch do áp lực khoang tăng lên quá cao,
nếu mất mạch ngoại vi là có tổn thương thần kinh-cơ không hồi phục.
+ Da tím hoặc nhợt do cản trở dòng máu tĩnh mạch về hoặc ngừng dòng
máu động mạch.
Mọi trường hợp nghi ngờ hội chứng khoang đều nên đo áp lực khoang
để khẳng định chẩn đoán, đặc biệt ở bệnh nhân có rối loạn tri giác, tổn thương
tủy sống hoặc thần kinh ngoại vi chi phối chi đó[18],[16].
•Các thương tổn thần kinh phối hợp
- Dấu hiệu sốc mất máu
19
- Khó có thể tiến hành trong một số trường hợp: vết thương lớn, tổn
thương phần mềm lan rộng, máu tụ, chi nề hoặc sau mổ, tổn thương xương
khớp bàn.
Chính vì vậy trong nhiều trường hợp, thăm dò này không thể thay thế
chụp mạch.
* Chụp động mạch
•Nguyên tắc: đưa thuốc cản quang vào trong lòng mạch để thấy được
toàn bộ cây động mạch. Có thể chọc trực tiếp, tuy nhiên hiện nay hay dùng
phương pháp Seldinger
Với độ nhạy và độ đặc hiệu cao ( 94-100% và 90-98%), chụp động mạch
được coi như tiêu chuẩn vàng để khẳng định chẩn đoán tổn thương động
mạch, đặc biệt phối hợp với tổn thương ngoại vi ( dưới gối, dưới khuỷu).
Có hai xu hướng trong chụp động mạch
- Chụp động mạch một cách có hệ thống: áp dụng cho tất cả các bệnh
nhân có nguy cơ tổn thương động mạch ( gãy quanh các khớp, gãy hai đoạn di
lệch lớn, trật khớp gối…)
- Chụp động mạch chọn lọc: chỉ tiến hành khi có triệu chứng nghi ngờ
tổn thương mạch.
Ngày nay hầu hết các tác giả đều thống nhất chỉ định chụp mạch trong
hai nhóm bệnh nhân
+ Nhóm 1: Để xác định chẩn đoán, khi lâm sàng có dấu hiệu nghi ngờ
tổn thương động mạch mà không có thêm các chỉ định mổ khác, gọi là chụp
động mạch loại trừ.
+ Nhóm 2: Để đánh giá tổn thương. Chụp động mạch cho biết rõ hơn về
tổn thương về vị trí, tính chất tổn thương, tuần hoàn bên và sự thông suốt của
tuần hoàn ngoại vi, giúp đưa ra chiến lược xử lí đúng ( đường vào, vật liệu
ghép…).
21
21
* Đo huyết áp động mạch phần xa với sự trợ giúp Doppler bỏ túi
•Chỉ số huyết áp động mạch phần xa: IPD (index pressure distance)
được xác định bởi huyết áp tâm thu phần xa chi tổn thương chia cho huyết áp
động mạch cánh tay không bị tổn thương.
Lúc đầu, IPD đưa lại những thông tin quan trọng trong việc phát hiện
bệnh lý mạch máu mạn tính chi dưới, nhưng sau này Lynche và Johansen
dùng để phát hiện vết thương động mạch ngoại vi và ngày nay nó là một thăm
khám thông dụng trong chấn thương và vết thương động mạch ngoại vi [20],
[22],[23].
+ Bình thường IPD từ 0,9 đến 1,3
+ Khi IPD < 0,9 độ nhạy và độ đặc hiệu để phát hiện một tổn thương
động mạch là 95% và 97% với dự báo âm tính là 99%
+ Giá trị IPD có thể mất chính xác trong những trường hợp sau:
- Bệnh lý mạch máu mạn tính (đái tháo đường, vữa xơ động mạch)
- IPD có thể bình thường trong giả phồng động mạch, rò động tĩnh mạch
hoặc vết thương bên động mạch.
- IPD có thể giảm rõ rệt khi có co thắt động mạch, nhưng những tổn
thương này thường không có hậu quả lâm sàng gì.
Trên thực tế khi không có máy Doppler bỏ túi hoặc để chẩn đoán tổn
thương động mạch chi trên, có thể so sánh số đo huyết áp ngoại vi tương ứng
chi lành và chi tổn thương. Khi trị số huyết áp tâm thu chênh trên 20 mmHg
là rất có giá trị với một tổn thương động mạch. Có thể nói đây là một thăm
khám lâm sàng khá đơn giản nhưng hiệu quả[20].
* Nội soi mạch máu trong mổ
Nhờ một ống thông có gắn máy camera đưa vào lòng mạch ta có thể
nhìn trực tiếp hình thái, vị trí tổn thương mà chụp động mạch có thể gặp, nhất
là trong chấn thương động mạch ngoại vi.
23
- Nối đoạn dây thứ hai B vào huyết áp kế thủy ngân và một cực còn lại
của chạc ba. Quay chạc ba để ba đường thông nhau (bơm chứa khí và hai
đoạn dây A,B)
- Làm tăng dần áp suất trong hệ thống này bằng cách đẩy nhẹ Piston của
bơm tiêm, đồng thời theo dõi cột nước sinh lý. Cột thủy ngân sẽ dâng cao cho
tới khi cột huyết thanh trong đoạn A di động. Chính lúc đó áp lực của hệ
thống sẽ cân bằng với áp lực khoang cần đo.
- Bình thường áp lực khoang từ 4-8 mmHg. Khi cao trên 30 mmHg được
coi là có hội chứng khoang.
* Các thăm dò khác
- Chụp XQ chi tư thế thằng và nghiêng để phát hiện tổn thương xương
khớp để có thái độ xử trí đồng thời
- CT, MRI, MSCT có giá trị phát hiện tổn thương phối hợp (sọ não,
ngực, bụng..), còn ít áp dụng với tổn thương chi do chấn thương, vết thương
động mạch ngoại vi, nhất là trong cấp cứu.
* Các xét nghiệm có giá trị tiên lượng trong gây mê-hồi sức.
Sinh hóa máu: chức năng gan, thận; huyết học, đông máu, HIV, HbsAg,
Anti HCV…
1.4. Nguyên tắc cơ bản trong điều trị chấn thương-vết thương động mạch
ngoại vi
Vì các tổn thương phối hợp tại chỗ và toàn thân phức tạp nên điều trị tổn
thương động mạch ngoại vi cần chú ý
•Phân loại bệnh nhân
24
24
- Loại 1: tổn thương đe dọa nghiêm trọng tính mạng bệnh nhân cần điều
trị ngay (tràn khí, máu khoang màng phổi dưới áp lực, chèn ép tim cấp, chảy