Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đến việt nam - Pdf 37

Lời mở đầu

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 vừa qua đã để lại
những tổn thất nặng nề đối với nền kinh tế của toàn thế giới, trong
tiến trình hội nhập nền kinh tế phát triển toàn diện của thế giới Việt
Nam là một quốc gia đang phát triển với nhiều tiềm năng trong tương
lai, tuy vậy vì là một nước đang phát triển còn non yếu về mặt kinh tế
nên cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 vừa qua đã có tác
động không nhỏ đến tình hình kinh tế của nước ta.
Nội dung của bài viết:
1. Chương I: Lý thuyết của Mác về khủng hoảng kinh tế và cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu 2008 vừa qua
2. Chương II: Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm
2008 đến Việt Nam
3. Chương III: Chống suy giảm kinh tế ở nước ta hiện nay

1


Chương I
Lý thuyết của Mác về khủng hoảng kinh tế và cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu 2008

I/ Bản chất và nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa
tư bản
Trong sản xuất hàng hóa giản đơn , với sự phát triển của chức năng
phương tiện thanh toán tiền tệ đã làm xuất hiện khả năng bùng nổ
khủng hoảng kinh tế.
Theo quan điểm của Mác, đến chủ nghĩa tư bản, khi nền sản xuất đã
xã hội hóa cao độ, khủng hoảng kinh tế là điều không thể tránh khỏi.
Từ đầu thế kỉ XIX, sự ra đời của đại công nghiệp cơ khí đã làm cho

II/ Tính chu kì của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản
Chu kì kinh tế gồm bốn giai đoạn:
- Khủng hoảng: là giai đoạn khởi điểm của chu kì kinh tế mới. Ở giai
đoạn này, hàng hóa ế thừa, ứ đọng, giá cả giảm mạnh, sản xuất đình
trệ, xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp hàng loạt, tiền công
giảm. tư bản vỡ nợ, phá sản…
- Tiêu diều: sản xuất trì trệ,không đi xuống nhưng cũng không tăng
lên, thương nghiệp đình đốn, hàng hó bán hạ giá, tư bản rỗi nhiều, để
giảm bế tắc các nhà tư bản đã hạ thấp tiền công của công nhân nhưng
lại tăng cường độ và thời gian làm việc của công nhân. Đổi mới tư
bản cố định làm cho sản xuất vẫn còn có lời trong tình hình hạ giá,
đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu
tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế.

3


- Phục hồi:các xí nghiệp khôi phục và phục hồi sản xuất, công nhân
có việc làm, mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, vật giá tăng lên, lợi
nhuận của tư bản tăng lên.
- Hưng thịnh: sản xuất vượt quá điểm cao nhất mà chu kì trước đã đạt
được, nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa tăng, nhu cầu tín dụng
tăng, ngân hàng tung tiền cho vay, năng lực sản xuất lại vượt quá sức
mua của xã hội. Do đó lại tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng
kinh tế mới.
Trong chủ nghĩa tư bản hiện nay khủng hoảng kinh tế là điều không
thể tránh khỏi, nhưng có sự can thiệp của tích cực của nhà nước tư
bản vào quá trình kinh tế. Sự can thiệp này mặc dù không triệt tiêu
được khủng hoảng và chu kỳ trong nền kinh tế nhưng đã làm cho tác
động phá hoại của khủng hoảng giảm bớt.

phê chuẩn kế hoạch 700 tỷ USD để hỗ trợ thị trường tài chính.
Cuộc khủng hoảng tài chính cho vay thế chấp bất động sản tại Mỹ
cũng đã lan rộng và làm điêu đứng nhiều ngân hàng lớn tại các
quốc gia ở Châu âu như tập đoàn cho vay bất động sản Hypo Real
Estate, ngân hàng IKB, SachsenLB, DZ BanK, Deutsche Bank của
Đức; ngân hàng đứng thứ 2 Bradford & Bingley (B&B) và thứ 5
Northen Rock của Anh bị quốc hữu hóa; ngân hàng Dexia SA
Pháp; ngân hàng Fortis của Bỉ; ngân hàng Glitnir Bank của
Iceland; Ngân hàng Roskilde Bank của Đan Mạch; tập đoàn tài
chính Centro Properties của Úc.. Chính phủ các nước Châu Âu
cũng phải vào cuộc để cứu vãn tình thế, tránh một cuộc đổ vỡ hệ
thống tài chính, suy thoái kinh tế. Nhiều nước đã phải tuyên bố bảo
hiểm 100% tiền gửi ngân hàng của các cá nhân để bảo vệ người
gửi tiền, tránh tình trạng rút tiền ồ ạt.
Năm 2008 nước Mỹ đã rung chuyển trong cuộc đại suy thoái kinh tế
chưa có hồi kết khiến cho toàn thế giới phải một phen chao đảo.
Không ai có thể ngờ một tượng đài, một đầu tầu kinh tế thế giới lại
có thể suy sụp nhanh đến như vậy. Tuy nhiên theo đánh giá của các
chuyên gia kinh tế ngay trong nội bộ nước Mỹ thì cuộc khủng hoảng
này có nguyên nhân sâu xa từ chính cơ cấu và động lực tăng trưởng
bất hợp lý của nước Mỹ trong thời gian đó nhưng nó đã được bỏ qua
bởi các nhà hoạch định chính sách tự mãn và sự lạc quan thái quá của
người dân Mỹ.
Trong khi hầu hết các quốc gia trên thế giới thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế thông qua đầu tư và đẩy mạnh xuất khẩu thì Mỹ đã chọn cho
mìnhmột con đường riêng để duy trì đà tăng trưởng kinh tế đó là
khuyến khích và đẩy mạnh tiêu dùng nội địa.Trong những năm này,

5


các nước có tự do thương mại, nguồn vốn được di chuyển qua những
nước khác nhau nên khủng hoảng tài chính là yếu tố lây lan còn
khủng hoảng kinh tế nó không có yếu tố trực tiếp lây lan.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính toàn cầu
nhưng khái quát lại có một số nguyên nhân chính: Theo chủ nghĩa
Mác – Lênin cho rằng: Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu chính là mâu thuẫn giữa khả năng sản xuất và nhu cầu
tiêu dùng của người dân; Sự mất cân bằng phát triển trong nền kinh

6


tế thế giới, sự nổi lên rất mạnh của một số nền kinh tế phát triển
khổng lồ như: Mỹ, Nhật, Nga, Anh, Đức, Pháp,… bên cạnh đó là các
nước đang phát triển với trình độ phát triển còn chưa cao; Do chủ
trương đẩy mạnh tư nhân hóa nền kinh tế, giảm bớt tối đa các thể chế
và sự can thiệp của nhà nước dẫn đến sự buông lỏng quản lý giám sát
đối với hoạt động của các tập đoàn tài chính ngân hàng và sự phát
triển quá nóng của nền kinh tế. Khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế
dẫn đến những vấn đề kinh tế, tài chính xã hội, môi trường… vượt
khỏi tầm kiểm soát của quốc gia.
Nguyên nhân xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 –
2009 là do những tồn tại và bất ổn của kinh tế Mỹ như: Tỷ lệ tiết
kiệm cá nhân thấp, nợ nước ngoài khổng lồ; khủng hoảng nợ dưới
chuẩn; khủng hoảng bất động sản. Khủng hoảng tài chính Mỹ bắt
nguồn từ việc các ngân hàng nước này quá dễ dãi, tùy tiện khi cho
khách hàng vay tiền để mua bất động sản qua các hoạt động cho vay
không đạt tiêu chuẩn. Có thể nói một cách đơn giản là từ lâu nay, đa
số người dân vay tiền từ các ngân hàng để mua nhà với thời hạn hợp
đồng từ 10 – 30 năm. Nhưng trong khoảng 10 năm trở lại đây thị

3,5%, Trung Quốc khoảng 8,5%. Thị trường tiền tệ, chứng khoán của
làng đại gia thế giới cũng lâm vào tình trạng chao đảo, sụt giảm
nghiêm trọng. Nhiều đồng tiền lớn trên thế giới bị mất giá nghiêm
trọng, đời sống nhân dân khổ cực, tình trạng thất nghiệp tràn lan.

Chương II
Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 đến Việt Nam

8


Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã có tác động mạnh mẽ đến
hầu hết các nền kinh tế trên thế giới trong đó có Việt Nam. Qua quá
trình nghiên cứu, cuộc khủng hoảng đã có tác động nhất định đến thị
trường tài chính tiền tệ của Việt Nam, vì kinh tế Mỹ là một nền kinh
tế lớn chiếm 30% tổng sản lượng chu chuyển vốn của thị trường thế
giới. Trong điều kiện tất cả các quốc gia đều đã hội nhập nên bất cứ
hoạt động nào của nền kinh tế đều có ảnh hưởng nhất định tới nền
kinh tế thế giới. Ngoài ra, trong giai đoạn này Việt Nam còn chịu tác
động của lạm phát (trên 20%/năm) dẫn đến Việt Nam vừa phải kiềm
chế lạm phát vừa phải chống đỡ để thoát khỏi khủng hoảng. Cuộc
khủng hoảng này tác động đến kinh tế Việt Nam trên một số mảng cơ
bản:
- Đối với thị trường tài chính
Mặc dù Việt Nam không chịu tác động trực tiếp, nhưng tác động gián
tiếp cũng khá lớn. Tác động này được thể hiện thông qua việc các
khoản nợ ngắn hạn của các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn khi
lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế tăng. Lãi suất cho vay liên
ngân hàng quốc tế tăng dẫn đến nợ ngắn hạn của Việt Nam tại các
ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp tăng, làm cho người dân

Hầu hết các nước trên thế giới đều phải đối mặt với tốc độ tăng
trưởng kinh tế chậm hoặc âm. Việt Nam cũng không thoát khỏi yếu
tố này. Trong khi lạm phátlà một vấn đề tiềm ẩn ảnh hưởng tới sự
phát triển kinh tế Việt Nam năm 2009. Ngoài ra, tiền gửi ngân hàng
nước ngoài và các ngân hàng trong nước bị giảm lợi tức do nhiều
nước nới lỏng tiền tệ để tránh lâm vào suy thoái sâu rộng; dòng ngoại
hối suy giảm; nhiều hoạt động kinh tế ở nước ta cũng gặp khó khăn,
đặc biệt các hợp đồng đã ký kết với đối tác nước ngoài bị ngưng trệ.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng dẫn tới giá nhiều loại
nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh giảm, đặc biệt là
dầu thô. Giá dầu thế giới giảm đã ảnh hưởng đến nguồn thu ngân
sách do xuất khẩu dầu thô bị giảm sút. Ngoài ra, nhiều loại nguyên
liệu khác phục vụ cho hoạt động của nền kinh tế như sắt, thép, phân
đạm, giấy, xi măng cũng gặp khó khăn và thị trường tiêu thụ của các
ngành này bị thu hẹp....

10


Chương III
Chống suy giảm kinh tế ở nước ta hiện nay

Các Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chu kỳ của khủng hoảng
kinh tế gồm 4 giai đoạn: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi, và hưng
thịnh.Và khẳng định KHKT là người bạn đồng hành của nền kinh tế
TBCN. Giải pháp, theo ông, là các doanh nghiệp phải tự mình thoát
ra khỏi khủng hoảng bằng cách giảm tiền công, tăng cường độ lao
động và nhất là đổi mới tư bản cố định (máy móc, thiết bị,…). Đổi
mới tư bản cố định dẫn đến tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất, tăng
năng suất lao động, dẫn đến giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, tăng

thâm hụt cán cân thương mại.
Ba trụ cột chính của nền kinh tế Vn là: doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), xuất khẩu và FDI.
Nhưng DNNN thì đang kém hiệu quả (ICOR) quá cao, ICOR của các
doanh nghiệp tư nhân là 3-4, các tập đoàn kinh tế nhà nước là 6-7,
của cả nền kinh tế là 4,5.
Trong thời buổi suy giảm kinh tế hiện nay, có tính toán cho rằng
ICOR của nền kinh tế là 7-8, của DNNN là 10.
Xuất khẩu thì thị trường thế giới thu hẹp,
FDI giảm sút do khủng hoảng kinh tế nên các DN nước ngoài không
tiêu thụ được sản phẩm sản xuất ở VN nên giảm bớt đầu tư.
Các lĩnh vực khác phụ thuộc vào bên ngoài cũng bị ảnh hưởng: hàng
không, du lịch,.. đều suy giảm.
1.2.2.Ta đang đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong
bối cảnh lạm phát cuối 2007 ở Vn vào loại cao nhất trong khu vực,
các tác động trễ của cách chính sách thắt chặt tài khoá và tiền tệ
được thực hiện năm 2008 có thể vẫn còn đang phát huy tác dụng.
Mức thâm hụt thương mại của Việt nam là khá lớn, năm 2007: 17 tỷ
USD, chiếm 20% GDP (so với Trung Quốc thặng dư thương mại là
11% GDP).

Tỷ giá VND/USD chưa linh hoạt. NHNNVN công bố tỷ giá và dùng
các biện pháp để duy trì tỷgiá đó. Hiện tại, VND đuợc định giá quá
cao so với USD và các đồng tiền của nhiều nước đối tác thương mại
khác làm giảm khả năng xuất khẩu (giảm X), tăng nhu cầu nhập khẩu
(tăng M).
· Việt Nam chỉ có một lượng dự trữ ngoại hối nhỏ (Mức dự trữ ngoại
hối bình quân đầu người của Trung Quốc là 1500 USD, của Việt
Nam là 250 USD).


nghệ mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho công
nhân. Cần thận trọng các công nghệ lạc hậu có thể bán thanh lý nếu
vào Việt Nam sẽ không thể tạo ra NSLĐ cao và thường gắn với tổn
hại môi trường.

13


2.2. Chính phủ cần điều chỉnh đầu tư công: tăng cường đầu tư vào
các dự án tạo ra nhiều công ăn việc làm, và thu nhập cho người dân,
nhất là người nghèo để tăng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Tăng
cường đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn và người
nghèo. Nông dân chiếm 73% dân số, 75% lực lượng lao động của
Việt Nam, là những người nghèo nên xu hướng tiêu dùng biên
(MPC) của họ là cao hơn của người giàu. Vì thể đầu tư cho nông dân
nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo có hiệu quả cao
hơn trong việc kích cầu.
Đầu tư cho nông dân và người nghèo trong lúc khó khăn còn thể hiện
sự quan tâm của Đảng và Chính phủ tới họ trong lúc khó khăn, đảm
bảo an sinh xã hội, duy trì ổn định chính trị. Chúng ta phải giảm bớt
đầu tư, đình hoãn các dự án công nghiệp nặng quá tốn kém, tạo ra ít
việc làm để đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn là những
ngành tạo nhiều công ăn việc làm cho người nghèo và đầu tư cho các
ngành tạo ra nhiều hàng hoá cho xuất khẩu. Trong thời khủng hoảng,
cầu về sản phẩm công nghiệp nặng, dịch vụ giảm nhanh hơn cầu về
nông sản. Sản xuất nông nghiệp, do vậy, vẫn là chỗ dựa cho nền kinh
tế tiếp tục ổn định trong lúc khó khăn. Khi kinh tế phục hồi thì cần
chuyển đầu tư công sang tăng cường đầu tư tư nhân để tăng cường
tính hiệu quả. Bên cạnh đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nông
dân, cũng cần ưu tiên đầu tư cho cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế để

chấp nhận lạm phát ở một mức nào đó.
2.7.Thay đổi thể chế công khai, minh bạch, để các dự án kích cầu
được triển khai đúng mục tiêu, rút ngắn thời gian triển khai để sớm
phát huy hiệu quả, quan tâm chống tiêu cực trong triển khai các dự
án để giữ vững lòng tin của xã hội.
2.8.Cung cấp thông tin và tuyên truyền để quần chúng hiểu về
nguyên nhân của suy giảm kinh tế, hiểu , ủng hộ và tích cực, chủ
động tham gia thực hiện và giảm sát thực hiện các giải pháp của
Chính phủ. Phát động phong trào yêu nước người Việt Nam dùng
hàng Việt Nam.
3. Nguồn vốn nào có thể tài trợ cho các giải pháp?
 Phát hành trái phiếu để vay trong nước (nguồn quan trọng).
 Miễn giảm thuế để duy trì hoặc mở rộng DN: có thể sẽ làm thâm hụt
ngân sách vì phần thuế thu nhập DN tăng thêm do mở rộng DN
không đủ bù đặp phần thuế được miễn giảm.

15


 Sử dụng Quỹ Dự phòng.
 In và phát hành tiền: Cần thận trọng khi sử dụng chính sách tài chính
nới lỏng: phát hành nhiều tiền quá mức sẽ lại dẫn đến lạm phát.
 Vay nước ngoài.(nguồn quan trọng).
 Hoãn trả nợ. IMF thường ưu tiên các nền kinh tế chuyển đổi trong
việc cho hoãn trả nợ.

16


Kết Luận

Chương 2………………………………………............trang 6
Chương 3………………………………………………trang 7

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status