ĐÀO THỊ OANH
t Am lý học
lao bộng
■
■
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
nhiên, một quá trìn h trong đó bằng hoạt động của chính m ình
con người làm tn m g gian, điền tiết và kiểm rra sự trao đối chất
giữa họ và tự nhiên...”. [C. Mác và P.Ànglien: Toàn tập, Nxb
Chính trị Quôc gia, Hà Nội, 1993. t r 23, 266]
Có th ể xem xét khái niệm “lao động” ở nhiềii góc độ khác
n h a u để hiểu rô hơn nội dung của nó.
Trước liết. lao động của con người có tín ầ chất xà liội. Ngay
từ đầii, lao động của con người đã là công việc của nliững nhóm
xã hội chứ không do một cá n h ân riêng lẻ thực ầiệ n và mục đích
của bất kỳ hình thức lao động nào cũng có tín h chất xã hội.
Trong tác phẩm “Tư b ản ” , C.Mác đã xác định bản ch ất xã hội
và mục đích chung của lao động nầií sau : “Lao động là một hoạt
động có mục đích để tạo ra những giá trị sử dụng”.
Xét về phương diện sinh lí học, theo ý kiến cùa
C.Mác:
“Dù các dạng lao động có ícli có khác nầavi như th ế nào, dù
những hoạt động sản xuất có khác n h au đến đâu thì về phương
diện sinh lí học, đó vẫn là
người có được một nền văn hoá xã hội - lịch sử ngày càng phát
triển. Đến lượt mình, nền văn hoá đó lại là hiện thân trực tiếp
của sự tiến hoá của loài người - một hình thức tiến hoá đặc thù ở
loài người - sự tiến hoá theo qiiy luật xã hội - lịch sử. Lao động
của con người cứ từng bước thay đổi th ế giới đồ vật xung quanh
họ. Cứ mỗi th a y đổi đưỢc ghi d ấu trong th ế giới đồ v ật này đều
có thể được coi như là một điều kiện góp phần vào việc tạo ra
những bước phát triển của loài người.
Song, để thực hiện được quá trình đôi tượng hoá sức mạnh
bản chất của mình, con ngưòi lại phải sử dụng công cụ lao động
(mà công cụ lại là kết quả của quá trình đô'i tượng hóa nói trên).
Phải nắm được cách thức sử dụng công cụ lao động thì lúc đó
công cụ mới tồn tại với đúng tư cách là một công cụ. Người ta
phải học cách sử dụng công cụ. Thực chất của quá trình học. cách
sử dụng công cụ là sự lĩnh hội cái tâ m lí chứa bên trong công cụ
đó. Ta gọi quá trình này là sự người ìioá sức mạnh bản chất của
con ngvíời trong iao động.
2. Cấu trú c củ a hoạt đ ộn g lao đ ộ n g
Hoạt động lao động là đôl tưỢng nghiên cứu của nhiều
khoa học trong đó có tâm lí học. Đôi với các nhà tám lí học, điểm
cơ bản trong lao động mà họ quan tâm là tính mục đích, tính tự
giác, tính tích cực của con người. Hoạt động lao động là sự thống
nhất của cái tâm lí và cái sinh lí. Trong khái niệm hoạt động lao
động, những hiện tượng tinh th ần (động cơ, mục đích, hứng
thú,...) bao giờ cũng ồ trong một thể thống nhất hữu cơ với
những mục đích nhất định. Quá trình hoạt động đê đạt được
mục đích bộ phận được gọi là hành động.
Hành động là yếii tô' của hoạt động, cụ thể hơn, đó là một
đơn vị của hoạt động. Kết quả của hành động là đạt đến một
Mục đích 1
Mục đích 2
^ Mục đích cuối cùng
mục đích cụ th ể nào đó m à con ngiròi đã n h ậ n thức đưỢc. Có thể
nói, mỗi hành động bao giờ cũng nhằm giải quyết một nhiệm vụ
sơ cấp cơ bản, nghĩa là nhiệm vụ không thể phân nhỏ hơn được
nữa. Như vậy là, muốn xem một hoạt động lao động có bao nhiêu
hành động, ta cần phải xác định có bao nhiêu nhiệm vụ sơ cấp cơ
bản trong đó, hoặc có bao nhiêii mục đích cụ thê. Vì vậy, khi tô
chức một hoạt động sản xuất, điều quan trọng bậc nhất là phải
chỉ ra cho được những mục đích bộ phận và trình tự đạt tới
những mục đích đó.
Trong lao động sản xuất, muôn đạt tới mục đích, người ta
cần tính xem phải hành động theo phương thức nào (bằng công
cụ gì ? Với những phương tiện nào ? Cách thức sử dụng công cụ
ra sao ? ...).
Nói đến phương thức thực hiện hành động là nói đến thao
tác. Trong công nghiệp, thuật ngữ “thao tác” có khi được dùng
để chỉ một yếu tô' của một quá trìn h công nghệ đưỢc thực hiện
còn người trong lao động cùng với những tri thức của các chuyên
ngành khoa học khác nhằm làm thay đổi lao động theo nghĩa
hoàn thiện nó.
Nói cách khác, tâm lí học lao động vừa là một khoa học
vừa là một công nghệ kỹ thuật. Việc phân biệt hai th à n h phần
đó trong hoạt động cùa nhà tâm lí học lao động là cần thiết
nhưng không nên đốì lập chúng với nhau: trong khi những hiểu
biết về lao động giúp chúng ta làm thay đổi lao động thì việc
thay đổi đó sẽ làm tăng nhận thức của chúng ta về lao động. Từ
góc độ th u ần tuý tâm lí học, có thể quan tâm tới việc thiết lập
một sô quan hệ giữa các chức năng tâm lí, tới việc phát hiện
một sô cơ chế tâm lí của những hành động lao động. Từ góc độ
ứng dụng, có thể đvía các tri thức thu được của tâm lí lao động
vào nghiên cứii hoàn thiện một sô' tiêu chuẩn đánh giá lao động.
Các tiêu chuẩn có thể rấ t khác n h au : sự an toàn, sự th u ậ n tiện,
tôc độ thực hiện, thời gian học tập v.v... Để hoàn thiện được các
tiêu chuẩn này cần có sự góp phần của một số ngành khoa học
và kỹ th u ậ t khác.
10
Tám lí học lao động đề cập tới hành động lao động nói
chung. Do hoạt động cùa con người đưỢc diễn ra trong các lĩnh
vực rất khác nhau nên tâm lí học lao động củng bao hàm một
phạm vi rộng lớn, gồm : tâm lí học công nghiệp, tâm lí học giao
thông, tâm lí liọc nông nghiệp, tâm lí học kinh doanh, tâm lí học
hành chính.
Trong tài liệii này chúng ta chỉ qiian tâm tới tâm lí học lao
động công nghiệp, ớ lĩnh vực này, h àn h động lao động
hướng nghiệp lại, phân phôi, huy động). Tương tự, phải đề ra các
yêii cầu, phương pháp và những tiêu chuẩn đào tạo nghề nghiệp
cũng nhvf đánh giá việc đào tạo và hoà nhập nghề nghiệp.
Đồng thòi, cùng với những chuyên gia khác trong lĩnh vực
nghiên cứu lao động, nhà tâm lí học lao động công nghiệp góp
phần làm cho các thiết bị kỹ tliiiật, các yêu tô' môi trường và tổ
chức phù hỢp với những khả năng cũng như hạn cliế của con
người (trong giai đoạn thiết kế hoặc chỉnh sửa những hệ thông
hiện có, trong việc phân bô' các chức năng thao tác giữa người
và máy). Và, vì ngvíời công nhân là thành viên của một tập thể
lao động cho nên cần thiết phải nghiên cứu phân công nhiệm vụ
một cách hợp lí, nghiên cứu tổ chức các mối quan liệ người ngưòi, nghiên cứu sự tác động và giáo dục các động cơ, thái độ
cho người lao động.
Trên đây đã trình bày về cơ bản các hướng chính của toàn
bộ vấn đề mà nhà tâm lí học lao động công nghiệp quan tâm
nghiên cứu.
13
Qua việc tìm hiểu đôl tưỢng và những nhiệm vụ cơ bản của
tâm lí học lao động, ta có thể khẳng định rằng, tri thức cìia khoa
học này rấ t cần thiết cho nhiềii nhà chuyên môn của nliiềii linh
vực khác nhavi như tâm lí học, giáo dục học, y học, kỹ thuật ...
Chính vì vậy, ở nước ta hiện nay, nghiên cứu tâm lí học lao động
là cần thiết đốì với nhiều người. Công việc đó có liên quan và
ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả lao động nhằm xây dựng công
nghiệp hiện đại, đẩy mạnh nhịp độ sản xiiất xã hội chủ nghĩa.
4. Tâm lí h ọ c la o đ ộ n g với các ch u y ên n g à n h tâm lí h ọc
học sai biệt, (là một chuyên ngành nghiên cứu các đặc điểm tâni
lí của cá nhân) và dựa trên Tâm lí học người già (là chuyên
ngành nghiên cíiu các đặc điểm tâm lí của quá trìn h lão hoá).
Trong việc đào tạo nghề ngầiệp, tâm lí học lao động sử
dụng các quy hiật phát triển tâm lí ở các lứa tuổi của Tâm lí học
p há t triển. Chính nhờ tâm lí học dạy lao động, những quy luật
truyền thụ tri thức sản xuất, tri thức kỹ th u ậ t ngày càng được
sáng tỏ và đó là tài liệu cần thiết cho tâni lí học p h át triên. Bơi
vì, hoạt động lao động cùa con người được diễn ra trong một tập
tliể, trong pliạm vi của mọt tổ chức (hệ tliông kỹ th u ật xã hội) và
tổ chức này lại có liên quan với những yếu tố bên ngoài cko nên
tám lí học lao động có qiian hệ chặt chẽ với Tâm. lí học xã hội,
Tăm lí học tổ chức và Tâm. lí học kinh tế.
Tâm lí học lao động và Tâm lí liọc xã hội có vấn đê chung
rấ t quan trọng; học thiiyêt về nlióm và tập thê. Ta biêt răng, vê
phương diện lịch sử, cả tậ p th ể lẫ n con người đ ề u h ìn h th à n h
trong lao động. Trong bất kỳ nhóm lao động nào, những niôi
15
quan hệ liên nhân cách cũng nảy sinh. Đó là đôi tượng nghiên
cứu của cả tâm lí học lao động lẫn tâm lí học xã hội. Cùng với
việc nghiên cứu các loại nhóm và các môi qiian hệ liên nhán
cách trong nhóm, tám lí học lao động còn để cập tới sự tương
hỢp nhóm (còn gọi là sự pliù hỢp nhóm ), n h ữ n g hiện tượng tâm
lí của đám đông trong lao động tập thể ... Những vấn đề ấy
trong môi liên liệ với nhữiig hành động phạm pháp. Đáy cũng là
vấn đề rất gần với việc ngliiên cứu các hành động sai và những
nguyên nhân gây ra hành động sai trong lao độiig. Nhưng, môi
liên quan chặt cliẽ hơn cả được thể hiện ở chỗ, trong khi tâm lí
học lao động nghiên cứu sự hoàn thiện nhân cách trong lao động
nghề nghiệp, thì tâm lí học cải tạo phạm nhân lại nghiên cứu
quá trìn h cải tạo nhân cách đang suy thoái bằng hình thức lao
động sản xuất.
Tâm lí học lao động có rấ t nhiều vấn đề cần giải quyết
cùng với Tâm lì học y học. Trước khi đi vào h àn g loạt vấn đề của
giám định lao động, tâm lí học lao động không thể tách rời khỏi
tâm lí học y học : vấn đề tuyển chọn người vào các nghề với các
đặc điểm bệnh lí cụ thể. ở đây, cần có sự kêt luận vê những
b ệ n h m à ng h ề kiêng trá n h , về sự p h ù hỢp nghề của những người
tàn tật, về những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động hoặc
hỏng hóc kỹ th u ật mà nguồn gô'c là từ những đặc điểm chịu sự
chế ước sinh lý cụ thể ở mỗi ngitời, về những liệu pháp y tế cần
thiết cho những trường liỢp đi vào nghề.
4.2. Với c á c k h o a hoc k h á c vê lao đ ô n g
Bởi vì lao động không tliể được nghiên cứu chỉ dưới khía
cạnh tâm lí của nó, cho nên. cũng giông như các chuyên ngành
tâm lí học khác, tâm lí học lao động có quan hệ cả với những
17
khoa học khác về lao động như: Sinh lí học và vệ siỉili lao động,
N hản trắc học, Kinh tê lao động và tổ chức, Kinh tế chính trị
học, Xã hội học (đặc biệt xã hội học công nghiệp). Môi liên hệ
nlián tô' gây ra các trường hỢp bất hạnh liay những nhân tô có
ảnli hưởiig đến náng suất lao động kể từ sự chiếu sáng đến các
mối quan hệ của con ngitòi. Theo nghĩa này. năm 1959,
H.Wallon đã n h ấ n m ạnh rằng, những ứng dụng thực sự đầu
tiên của táin lí liọc vào lĩnh vực lao động đã không xuất phát từ
inột chương trìn h lí thuyết mà xuất phát từ những yêu cầu của
nền công nghiệp và lòng mong muôn nâng cao hiệu quả sản
xuất.
Để đạt được nguyện vọng này, tâm lí học lao động công
nghiệp đã phát triển theo ba hướng chủ yếu : a) Định hướng và
tuyển chọn nghể nghiệp: b) HỢp lí ỉioá lao động: c) Tâm lí học
của các môi quan hệ liên nhăn cách.
Đối với huớng thứ nhất, một trong những nhà sáng tạo ra
tâm lí học lao động công ughiệp là H.Miinsterberg cho rằng,
bằng việc thích ứng con người với những điều kiện lao động (tức
là, bằng việc tiiyển cliọn nghề nghiệp) những mục đích của
cluiyên ngành khoa học mới này có thể đạt được. Đó là : tìm ra
đưỢc người công nhân tô't nhất, tiến hành lao động trong những
điều kiện tốt n h ấ t và thii đưỢc những kết quả tô't nhất có thể
đưỢc. ò u g đã tiến hành kiểm tra tuyển chọn trong hàng ngũ các
sĩ qiian hải quần, vô tuyến điện. Các kỹ tlniật kiểm tra đã phát
triển và đitợc phổ biến rộng rãi trong thời gian chiến tran h th ế
giới lần thứ n h ấ t khi người ta tuyển lựa hơn một triệu níỡi tân
binh cho quân đội. Để phục vụ cho hướng nghiên cứii này, ở
19
phương Tây và Liên Xô củ đã xuất hiện nhiều phòng hướng
nghiệp. Phòng hướng nghiệp đầii tiêu đã đưỢc thành lập ở
tăng cưòng hiệu suất lao động của công n h â n ”. Những nghiên
cứu này đả được R.M.Barnes tiếp tục và năm 1937 ông đã xác
lập được các ngiiyên tắc tiết kiệm động tác và 22 quy tắc hỢp lí
lioá động tác lao độiig.
Tliuộc hướng này đã xuất hiện nhiều nghiên cứu đề cập tới
sức làm việc cùa con người: Chẳng hạn, trong khoảng thời gian
từ 1901 - 1903. bằng những thực nghiệm của mình, I.M.
Xêsênốp đã cố gắng nêu lên cơ sỏ sinh lý của các quá trình tâm
lí quyết định chất lượng của quá trình lao động. Và sau khi xác
định các tiêu clniẩn về thời gian tối líu của một ngày lao động,
Xêsênốp đã đặt nền móng cho học thuyết về sự nghĩ ngơi tích
cực mà bây giờ sinh lí học lao động và TLHLĐ dựa vào đó đê
chông lại sự mệt mỏi.
Năm 190Õ, P.Kraepelin đã sử dụng các phương pháp thực
nghiệm vào nghiên cứu lao động và để xuất việc đo đạc sự mệt
mỏi. Năm 1910, J.M.Lahy quan tâm đến các điều kiện lao động
của các công nhân sắp chữ trong nhà in, tìm tòi các dấu, hiệu
khách quan cùa sự mệt mỏi trong lao động trí óc theo tinh thân
chông lại quan điểm Taylor.
Để phục vụ cho các nghiên cứu về tâm lí liọc lao động,
trong hầu hết các nhà máy lớn hoặc trong các cơ sở công nghiệp
thuộc các ngành lao động công nghiệp đều hình th à n h các phòng
thí ngliiệni tâm - sinli lí của mình. 0 đó đã tiến h àn h có kết quả
nliiềii công trìn h về TLHLĐ. Tuy nhiên, có mỘT sô pliòng tlií
nghiệm lại do những người không đưỢc đào tạo về chuyên môn
21
đảm nhận nên không đem lại những lợi ích thiết thực(đặc biệt là
vấn đề con người của nền văn minh công nghiệp”. Trong đó ông
đã khẳng định rằng, lí thuyết hiện đại vể công tác quản lý phải
dựa trên nền tảng của những th à n h tựu tám lý học. Và cái gọi là
học tliiiyết về “các môi quan hệ của con người" do Mayo xây
dựng từ những thực nghiệm ở Hotoóc nơ vẫn còn giá trị đến
ngày nay.
Như vậy. tấ t cả các hướng nêu trên bao hàm những vấii để
rộng lớn của tám lí học cá nhán và tâm lí học xã hội trong lao
động công nghiệp. Nghiên cứu lí lu ận và ứng dụng tất cả những
vàn đê đó cùng với những nghiên cứu thuộc các chuyên ngành
khoa học khác có tác dụng tô'i ưu hoá và nhân bản hoá lao động.
ở Việt Nam, ngành sinh lí học lao động mới bắt đầu hoạt
động thực sự tìí năm 1963. Tuy còn non trẻ nhưng sinh lí học lao
động Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho sản x uất và
chiên đàu.Trong mấy chục năm qua, chúng ta đă có hàng trăm
công trìn h nghiên cứxi có giá trị về nhiều lĩnh vực như : “Cường
độ lao động từng lúc trong lao động” (Tô Như Khuê. Bùi Thụ);
“Đ ánh giá sự mệt mỏi trong và sau lao động, chiến đấu” (Bùi
Thụ, Bùi Thu Nguyên, Phạm Quý Soan ...); “Khả năng thích
nghi của những ngiíời làm việc lâu năm ở chỗ nóng” (Ngô Đức
Hưởng, Bùi Thụ, Nguyễn Hùng ...).
Năm 1971, “Viện nghiên cứu khoa học. kỹ thuật bảo hộ lao
động được thành lập, Trong chương trình nghiên cứu của viện
có đề cập tới tâm lí học lao động (vấn đê hướng nghiệp. lao động
sư phạm ...). Năm 1975. cuôn sách đầu tiên, khá đầy đủ về
Ergonomie ở nước ta ra đời - cuốn “Khoa học lao động” của
24
25
trên các báo, tạp chí ở trong và ngoài ngành giáo dục, đặc biệt
trong một sô kỷ yếu Hội nghị toàn qiiôc những người làm công
tác TLH (1974,1978.1982) và một sô' sách về tâm lí học lao động
(Một số vấn đề về TLHLĐ - Phạm Tất Dong; Công tác hướng
nghiệp cho học sinh PT - Phạm Tất Dong ...). Một điều quan
trọng là, kêt quả nghiên cứu dạy lao động kỹ thuật và hướng
nghiệp đã góp p h ần tích cực vào việc xảy dựng cơ sở cho việc
giáo dục lao động và công tác hướng nghiệp của nhà trường
PTCS và PTTH, triển khai cải cách giáo dục trong việc chiiẩn bị
tâm th ế học nghề cho học sinh PT. Ngoài ra, đã kiến nghị với
lãnh đạo Bộ Giáo dục đưa môn lao động kỹ th u ật theo hướng kỹ
th u ật tổng hợp (Bao gồm các môn: Vẽ kỹ thuật - cho Cấp I; Kỹ
th u ật cơ khí - cho Cấp II; Kỹ th uật điện - cho Cấp III) để thay
thê chương trình lao động hiện lúc đó ở PTCS đang theo hướng
dạy nghề đơn giản.
Trong thời gian gần đây đã xiiất hiện một số nghiên cứu
trong lĩnu vực sản xuất, đặc biệt sản xuất công nghiệp, thể hiện
ở một sô luận văn tôt nghiệp của sinh viên như: Thái độ đôl với
lao động của công nhân nhà máy sản xuất thiết bị điện; Nghiên
cứu bầu không khí tám lí của nhà máy chế tạo thiết bị điện
Đông Anh - Hà Nội; Nghiên cứii các mô'i quan hệ liên nhân cách
tiong tạp thê công nhân nhà niáy điện Uông Bí... Các nghiên
cứu này đã góp phân bô sung, làm phong phú tliêni vôn tri thức
lý luận của TLHLĐ và giúp các nhà lãn h đạo tại các cơ sở sản
xiiất hiêu rõ hơn các cơ sở tâm lí xã hội của việc xây dựng những
tập thể sản xuất tôt, trên cơ sở đó, tăng năng suất lao động.
thống tương tự, bản thiết kế, tài liệu chuyên môn, các tiêu
27