BỐ CỤC TIỂU LUẬN:
Tên tiểu luận:
Ở nhiều quốc gia đang phát triển đang hình thành nền kinh tế tri
thức. hãy phân tích những đặc trưng của nền kinh tế này từ góc độ
triết học?
LêI Më §ÇU
“Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức
giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải nâng cao chất
lượng cuộc sống”
Kinh tế tri thức là một loại môi trường kinh tế-kỹ thuật, văn hóa-xã hội mới, có những
đặc tính phù hợp và tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo. Trong
môi trường đó, tri thức sẽ tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất, đóng góp
vào sự phát triển kinh tế-xã hội.
Vậy những đặc trưng của nền kinh tế tri thức nhìn từ góc độ triết học được thể hiện
như thế nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu qua bài tiểu luận này.
phÇn néi dung
I.Kh¸i niÖm nÒn kinh tÕ tri thøc lµ g× ?
Kinh tế tri thức theo em có nhiều cách hiểu :
KTTT là biểu hiện hay xu hướng của nền kinh tế hiện đại, trong đó tri thức, lao động
chất xám được phát huy khả năng sinh lợi của nó và mang lại hiệu quả kinh tế lớn lao
trong tất cả các ngành kinh tế: công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp và dịch vụ,
phục vụ cho phát triển kinh tế. Từ đó, nền kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế chủ
yếu dựa trên cơ sở tri thức, khoa học; dựa trên việc tạo ra và sử dụng tri thức, phản
ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ cao.
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( OECD ) đưa ra khái niệm năm 1995: “*Nền
xanh, cách mạng sinh học…
-Nó thúc đẩy công nghiệp, không ngừng ra tăng hàm lượng khoa học-kỹ thuật, công
nghệ trong sản phẩm công nghiệp qua đó mà gia tăng giá trị sử dụng, giá trị trao đổi
của sản phẩm công nghiệp.
Nó thúc đẩy trí nghiệp phát triển ở các ngành dịch vụ, thông tin, thương mại, tiền tệ,…
với nhiều hình thức phong phú.
Nó thúc đẩy việc nâng cao đời sống xã hội, hướng đến một nền văn minh cao hơn
III.Nh÷ng ®Æc trng cña nÒn kinh tÕ tri thøc tõ gãc ®é triÕt häc:
-Trong nền KTTT, các yếu tố vật chất cũng như hàm lượng vật chất trong các sản
phẩm ngày càng giảm, hàm lượng tri thức, lao động chất xám, lao động trí óc tăng lên,
chiếm tỷ trọng ngày càng cao lớn trong giá trị sản phẩm.
Trong nền KTTT, các sản phẩm trí tuệ dựa vào nguồn lực hàng đầu là tri thức. Đây là
nguồn vốn cơ bản của quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội, thay vì chỉ là đất
đai, tài nguyên và vốn tiền tệ như trước đây.
Thông tin, kiến thức lao động có trình độ cao được sử dụng nhiều, ít sử dụng tài
nguyên thiên nhiên. Những trung tâm công nghệ cao được hình thành.
Đặc biệt tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động kỹ thuật cao là thành phần
quan trọng của lực lượng sản xuất, là lợi thế phát triền kinh tế. Nguồn nhân lực nhanh
chóng được tri thức hóa. Sự sáng tạo đổi mới trở thành yêu cầu thường xuyên đối với
mọi người.
- Cơ cấu kinh tế kỹ thuật thay đổi một cách sâu sắc, theo hướng tri thức hóa, làm thay
đổi phương thức tổ chức và quản lý không chỉ trong các ngành đó mà còn tác động đến
các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế.
Do những thay đổi trong cơ cấu kinh tế- kỹ thuật sẽ làm thay đổi về chất trong cơ cấu
sản phẩm, làm thay đổi cơ cấu giá trị sản phẩm; điều này tất yếu dẫn đến sự thay đổi
trong cơ cấu lao động xã hội. Nếu như trước đây, lao động nông nghiệp chủ yếu bằng
tay chân tay, thì sau đó lao động sản xuất công nghiệp, lao động “ cổ xanh” hầu hết là
bằng máy móc. Nhưng từ những năm 70 đến nay, do lao động và công nghệ phát triển,
* Nhưng đặc trưng cơ bản nhất là thể hiện qua mối quan hệ giữa “Lực lượng sản xuất
và Quan hệ sản xuất ”
a. Lao động cơ bắp từng bước được thay thế bằng lao động trí tuệ, nhưng lao
động cơ bắp không mất đi.
Lao động là hoạt động có ý thức của con người nhằm tạo ra những giá trị sử dụng đáp
ứng nhưng nhu cầu đa dạng của con người. Bởi vậy, ngay khi có con người, hoạt động
sản xuất của họ đã có hai phần: lao động cơ bắp và lao động trí tuệ. Cùng với sự phát
triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa
học, kỹ thuật rồi của cách mạng khoa học, công nghệ, cũng như để sử dụng có hiệu
quả những thành tựu do các cuộc cách mạng đó mang lại, năng lực trí tuệ của người
lao động không ngừng được nâng cao, phần giá trị do lao động trí tuệ của họ tạo ra
trong quá trình sản xuất và được kết tinh ở sản phẩm ngày càng tăng. Từ chỗ chiếm
một tỷ trọng rất không đáng kể ớ các thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp, ngày nay, ở
các nước phát triển, đối với một số loại sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao, hàm lượng
giá trị do trí tuệ tạo ra và được kết tinh trong sản phẩm có thể đạt tới 80 - 90% tổng giá
trị sản phẩm. Đối với các loại sản phẩm đó, nguyên vật liệu, năng lượng, lao động cơ
bắp chỉ tạo thành từ 10% - 20% giá trị sản phẩm.
Không chỉ như vậy, hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm không còn là công việc của
riêng người lao động, mà của cả một bộ phận ngày càng tăng lên những người trực
tiếp quản lý quá trình sản xuất, những kỹ sư, những nhà công nghệ...
Sự thay đổi đó là xu thế khách quan, mang tính tiến bộ và ngày càng mở rộng. Nó làm
cho tài nguyên thiên nhiên, lao động cơ bắp mặc dù vẫn là nhưng thứ không thể thiếu
trong nền sản xuất xã hội, nhưng ngày càng mất giá.
Mức đóng góp của tri thức và kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế ngày càng lớn. Do
vai trò và vị trí ngày càng lớn của tri thức trong nền kinh tế, do thông tin và tri thức
ngày càng trở thành nguồn lực phát triển kinh tế chủ yếu, nên cơ cấu đầu tư để phát
triển lực lượng sản xuất có những thay đổi rất lớn. ỞHoa Kỳ, mỗi năm số tiền chi vào
việc sản xuất tri thức và các hoạt động liên quan khác chiếm khoảng 20% GDP, trong
động quá khứ đã được vật hoá thực hiện. Khi tính đến hai sự kiện đó, chúng ta thấy
dường như vai trò của lao động sống có sự suy giảm tương đối. Nhưng, nếu xét tới sự
phát triển thẳng tiến của sản xuất, lao động sống vẫn có giá trị quyết định - "quyết
định" không phải theo nghĩa chiếm tỷ trọng lớn so với lao động quá khứ khi tạo ra sản
phẩm ở chu kỳ mới, mà theo nghĩa không có lao động sống và mọi lao động vật hoá
không thể phát huy vai trò của mình trong quá trình sản xuất. Máy móc hiện đại như
thế nào chăng nữa cũng do con người làm ra và vận hành, cải tiến nó. Mặt khác, trình
độ của máy móc, thiết bị, trình độ trí tuệ được kết tinh trong chúng lại đóng vai trò
quyết định hiệu quả của lao động sống, quy định xu hướng vận động của chính lao
động sống. Chỉ trong chừng mực đáp ứng nhu cầu đó, chu kỳ sản xuất tiếp theo mới có
sự phát triển tương ứng với xu thế khách quan của lực lượng sản xuất.
Lao động quản lý dần chiếm ưu thế so với lao động sản xuất trực tiếp
Sự phát triển của sản xuất xã hội luôn diễn ra theo quy luật phủ định của phủ đinh.
Trước kia, người sản xuất và người quản lý là một, song cùng với sự phát triển của lực
lượng sản xuất, sự tách rời giữa người sản xuất và người quán lý ngày một gia tăng, sự
khác biệt phát triển thành sự đối lập gay gắt. Giờ đây, chính sự phát triển cao của lực
lượng sản xuất, ở trình độ trí tuệ hoá cao quá trình sản xuất, đã và đang diễn ra sự xích
lại gần nhau giữa người lao động sản xuất và nhà quản lý. Trong nền kinh tế tri thức, ở
không ít trường hợp, người sản xuất và người quản lý hội tụ trong một cá thể mà ở đó,
mặt quản lý ngày càng có ưu thế hơn mặt laođộng trong việc tạo ra sản phẩm.
Những thay đổi ấy làm cho những yếu tố tạo ra giá tri mới được kết tinh trong sản
phẩm thặng dư mà biểu hiện dưới hình thức giá trị là giá trị thặng dư cũng không hoàn
toàn như cũ. Giá trị thặng dư được tạo ra không còn chỉ do lao động sống của người
công nhân trực tiếp sản xuất, mà còn do lao động vật hoá, do lao động quản lý... Lao
động quản lý nói ở đây bao gồm cả lao động quản lý của các chuyên gia quản lý (khi
đó, họ thuộc về người lao động theonghĩa hiện đại của từ này) và lao động quần lý của
người sở hữu tư liệu sản xuất nếu họ tham gia quản lý doanh nghiệp. "Quản lý" lại là
loại hình lao động phức tạp, nó là "bội số của lao động giản đơn" như C.Mác nói.
Trí tuệ tự nó mang tính xã hội rất cao và thậm chí, còn mang tính nhân loại. Do vậy,
tin là loại hàng hoá đặc biệt, nó hoàn toàn khác các loại hàng hoá thông thường khác:
nó thuộc về không phải của một cá nhân nào đó, mà thuộc về quyền sở hữu của toàn
xã hội, là một hàng hoá xã hội và hơn thế nữa, nó thực sự là một hàng hoá mang tính
toàn cầu.
Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành nhân tố sản xuất quan trọng hàng đầu
trong lực lượng sản xuất, quyết định lợi thế so sánh của một nước. Nếu doanh nghiệp
nào nắm được quyền sở hữu trí tuệ, ứng dụng công nghệ mới, tạo ra sản phẩm mới sẽ
thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn mức trung bình. Thí dụ: Nhờ luôn tạo ra các bộ vi
xử lý trước một thế hệ, lợi nhuận của hãng Intel trong nhiều năm là 23% doanh thu.
Cũng với cách thay đổi luôn như vậy lợi nhuận của hãng Microsoft đạt 24% doanh thu
vào năm 1994. Lợi nhuận cao như thế tuy không thể tồn tại mãi, nhưng có thể duy trì
trong nhiều năm, như hãng Intel duy trì tỷ suất lợi nhuận cao trong một thập kỷ. Như
vậy, quy luật bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận bị cản trở, không thể phát huy tác dụng
mạnh mẽ. Bởi vì, tiền đề để quy luật này hoạt động là môi trường cạnh tranh tự do
hoàn háo, nhưng trong nền kinh tế tri thức, việc bảo hộ quyển sở hữu trí tuệ đã làm
tăng tính độc quyền, khiến cho người nắm quyền chiếm hữu đối với tri thức thu được
lợi nhuận siêu ngạch.
Điều có phần quan trọng hơn là trong xã hội tri thức, người là làm thuê tức người công
nhân tri thức lại là người sở hữu công cụ sản xuất, trí tuệ của bản thân họ. C.Mác đã có
phát kiến vĩ đại khi cho rằng, người công nhân nhà máy không có và không thể sở hữu
tư liệu sản xuất và do vậy bị "tha hoá". Ông chỉ rõ: Người công nhân không thể sở hữu
máy hơi nước và không thể lấy máy hơi nước đi cùng với mình, khi họ chuyển từ công
việc này sang công việc khác. Nhà tư bản cần phải sở hữu động cơ hơi nước và cần
phải kiềm soát nó. Thế nhưng, những đầu tư thực sự trong xã hội tri thức không phải
vào máy móc hay công cụ, mà chính là vào người công nhân tri thức, không có người
công nhân tri thức thì cho dù máy móc có hiện đại và tinh vi đến thế nào chăng nữa
cũng không thể hoạt động được.
So với sở hữu các giá trị vật chất, sở hữu tri thức có những đặc điểm hết sức riêng biệt
được toàn bộ các hoạt động của hệ thống tổ chức sản xuất. Thí dụ, Hoa Kỳ đã phát
minh ra máy quay phim và máy ghi âm, máy Fax, Hà Lan phát minh ra máy CD,
nhưng phần lớn lợi nhuận của sản phẩm này lại rơi vào tay Nhật Bản.
Các tính chất nêu trên của tri thức với tư cách là bộ phận chủ yếu của lực lượng sản
xuất trong nền kinh tế tri thức quy định tính tất yếu phải có hình thức sở hữu tương
ứng Dưới một hình thức nào đó, chế độ sở hữu phải mang tính chất xã hội. Tuy chưa
phải la xã hội hoá sở hữu với nghĩa đen của từ này, nhưng sự ra đời và ngày càng phát
triển của những Công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia trong những thập kỷ gần đây
phần nào do tính tất yếu khách quan đó quy định. Đành rằng giờ đây, ở một số nước
rất coi trọng việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng xét về tính chất sở
hữu và quản lý, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đó vẫn nằm trong một hệ thống chung,
có sự liên kết và hỗ tương nhau rất chặt chẽ, chúng phụ thuộc vả ràng buộc lẫn nhau
tạo thành một chỉnh thể không phải chỉ ở quy mô quốc gia, mà cá quy mô quốc tế.
Trong giới hạn của chế độ sở hữu tư nhân, "xã hội hóa về sở hữu”, với nghĩa là số
người tham gia vào sở hữu ngày càng táng, quy mô sở hữu ngày càng mở rộng đang là
một xu thế phổ biến, nó làm cho việc sở hữu ấy mang tính xá hội (mặc dù vẫn thuộc
những cá nhân cụ thể) và tri thức được vận hành vì sự phát triển chung của toàn xã
hội, tuy lợi ích trực tiếp thuộc về một số người.
Đối với trí tuệ, vấn đề bản quyền chỉ có giá trị trên phương diện pháp lý nhằm bảo
đảm lợi ích của chủ thể sáng tạo ra tri thức mới, của phát minh, sáng tạo chứ không
làm cho trí tuệ đó mang tính cá nhân. Nó chỉ thuộc cá nhân khi mới sáng tạo ra, sau đó
nhanh chóng trở thành của xã hội.
Đặc điểm mới của quan hệ tổ chức, quản lý trong nền kinh tế tri thức
Tác động của kinh tế tri thức đối với tổ chức và quản lý rất rộng, trong đó, nổi bật nhất
là một số điểm chính sau đây:
Chủ thể và đối tượng quản lý: đại bộ phận là công nhân có học vấn.
Việc áp dụng các thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ (nhất là công nghệ
thông tin) vào quản lý đòi hỏi chủ thể quản lý phải nâng cao trình độ hiểu biết về nhiều
KÕt luËn
Tóm lại những đặc trưng của nền kinh tế tri thức là:
-
Trong nền KTTT, các sản phẩm trí tuệ dựa vào nguồn lực hàng đầu là tri thức.
-
Trong nền KTTT, các yếu tố vật chất cũng như hàm lượng vật chất trong các
sản phẩm ngày càng giảm, hàm lượng tri thức, lao động chất xám, lao động trí
óc tăng lên.
-
Nền KTTT mang tính liên kết mạng lưới, toàn cầu hóa.
-
Trong điều kiện của kinh tế tri thức, các thành tựu khoa học – công nghệ, nhất
là công nghệ thông tin được phổ biến và ứng dụng hết sức nhanh chóng, trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Nhìn nhận từ đây ta có thể hiểu rằng cốt lõi của việc phát triển một nền kinh tế tri
thức không phải chỉ đơn thuần là việc phát triển khoa học-công nghệ cao mà là việc
phát triển một nền văn hóa đổi mới, sáng tạo để đem lại những thuận lợi cho việc sản
xuất, khai thác và sử dụng mọi loại tri thức, mọi loại hiểu biết của nhân loại.
MôC LôC