ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ VÀ KIM LOẠI TRONG SINH HOẠT Ở VIỆT NAM - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ

TRƯƠNG MINH CHIẾN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ
VÀ KIM LOẠI TRONG SINH HOẠT
Ở VIỆT NAM

CHUYÊN ĐỀ
Ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường
Mã số ngành: D850102

Tháng 6/2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ

TRƯƠNG MINH CHIẾN
MSSV: B1309249

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ VÀ
KIM LOẠI TRONG SINH HOẠT Ở VIỆT
NAM

CHUYÊN ĐỀ
Ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường
Mã số ngành: D850102

môi trường, gây rò rỉ hóa chất và kim loại nặng ra không khí, đất, nước và
thực phẩm, ảnh hưởng đển sức khỏe con người, thậm chí có thể để lại di
chứng cho thế hệ sau. Do sự khan hiếm các bãi phân hủy chất thải cũng như
việc gia tăng dân số, khối lượng và chủng loại chất thải, cũng như việc chưa
phân loại và tái chế trong công tác quản lý, nên hiện nay tại nước ta vẫn chủ
yếu chỉ dùng phương pháp đốt và chôn lấp để xử lý các loại chất thải này.
Trước thực trạng đó, thực hiện kế hoạch số 175/KH-UBND ngày
09/09/2015 của UBND thành phố Hà Nội trong việc tổ chức các hoạt động
hưởng ứng chiến dịch “Làm cho thế giới sạch” hơn năm 2015, Sở Tài nguyên
và Môi trường Hà Nội phố hợp với UBND quận Cầu Giấy và Ba Đình đã
chính thức giới thiệu sự kiện với tên gọi “Ngày hội tái chế” diễn ra cuối tháng
9 năm 2015. Theo đó, các hoạt động thu gom, tái chế miễn phí được thực hiện
tại 2 phường: Nghĩa Tân, Yên Hòa (quận Cầu Giấy) và 3 phường: Quán
Thánh, Đội Cần, Thành Công (quận Ba Đình). Tuy nhiên, việc thí điểm vài
nơi là chưa đủ so với lượng chất thải điện tử, kim loại ở Việt Nam. Vì vậy, tôi
chọn đề tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp quản lý chất thải điện tử, kim
loại ở Việt Nam”.
I.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
I.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng quản lý chất thải điện tử, kim loại trong sinh hoạt
của người dân Việt Nam và đề xuất giải pháp.

5


I.2.2 Mục tiêu cụ thể

Phân tích thực trạng chất thải điện tử, kim loại trong sinh hoạt ở Việt
Nam.

I.5.2 Phương pháp phân tích số liệu
-

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả: nghiên cứu tổng hợp, số hóa,
biểu diễn bằng đồ thị các số liêu thu thập được từ các bài báo, luận văn, tạp chí
khoa học,.. liên quan đến chất thải điện tử, kim loại cũng như ảnh hưởng của
chúng trong sinh hoạt ở Việt Nam nhằm có cái nhìn tổng quát về việc quản lý
các loại chất thải này.

6


-

Sử dụng phương pháp so sánh để phân tích mức ảnh hưởng và việc quản lý
chất thải điện tử, kim loại qua các năm và vài khu vực ở Việt Nam từ đó đề ra
giải pháp xử lý và hạn chế các loại chất thải này.

CHƯƠNG 2
NỘI DUNG
7


2.1 CÁC KHÁI NIỆM
2.1.1 Chất thải điện tử

Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất và hoàn chỉnh về
chất thải điện thử. Mỗi một tổ chức hay một quốc gia thường có một cách định
nghĩa khác nhau. Tuy nhiên có một số cách hiểu chung nhất, có thể được liệt
kê sau đây:

xw – độ ẩm, %;
mr – khối lượng chất thải rắn trước khi sấy, kg;
ms – khối lượng chất thải rắn sau khi sấy, kg.
8


Bảng 2.1 Độ ẩm trung bình trong chất thải kim loại trong sinh hoạt
Thành phần
Thủy tinh
Can thiếc
Nhôm
Vật liệu khác
Bụi, tro

Phần tram khối lượng
8,0
6,0
0,5
3,0
3,0

Độ ẩm %
2
3
2
3
8

Nguồn: Intergrated Solid Waste Management, McGRAW-HILL 1993
Nhiệt trị: là lượng nhiệt sinh ra khi đốt cháy một đơn vị khối lượng



2.2 HIỆN TRẠNG VỀ CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ, KIM LOẠI TRONG SINH

HOẠT Ở VIỆT NAM
2.2.1 Hiện trạng về chất thải điện tử
Các nhà khoa học tại Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (ĐH
Bách khoa Hà Nội) cho biết chất thải điện tử bao gồm vụn kim loại, dây dẫn
điện, bản mạch in hỏng, linh kiện hỏng, chất thải hàn... Ước tính tổng lượng
chất thải công nghiệp điện tử trên toàn lãnh thổ Việt Nam là khoảng 1.630
tấn/năm, trong đó khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc 1.370 tấn/năm (chủ
yếu là bùn thải), chiếm 84% tổng lượng chất thải điện tử của cả nước; khu vực
kinh tế trọng điểm miền Trung khoảng 6 - 7 tấn/năm, chiếm 0,4% tổng lượng
chất thải điện tử.
Riêng khu vực trọng điểm kinh tế phía Nam có khoảng 254 tấn/năm,
chiếm 16% tổng lượng chất thải ddiejn tử của cả nước, trong đó 93,4% tại tỉnh
Đồng Nai (khoảng 237,33 tấn/năm); 4,9% tại TPHCM (12,5 tấn/năm); còn lại
tập trung tại Bình Dương và Long An. Ước tính hằng năm, chất thải điện tử tại
khu vực này phát sinh tăng khoảng 10% - 15% do gia tăng các nhà đầu tư trên
lĩnh vực điện tử.
Công nghệ ngày càng phát triển đã làm giảm tuổi thọ trung bình của
các sản phẩm và phát sinh một khối lượng lớn chất thải điện tử. Loại chất thải
này chứa một lượng lớn các hợp chất độc hại là tác nhân làm cho những vấn
đề môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Ngay ở các vùng nông thôn, chất thải điện tử cũng đe dọa môi trường
khi người dân thường vứt bỏ các loại pin, bóng đèn, quạt máy hư hỏng… ra
ngoài tự nhiên một cách vô tội vạ. Ở các vùng nông thôn và cả các khu dân cư
thành thị, việc phân loại rác thải chưa làm được, do vậy nguy cơ ô nhiễm chất
thải điện tử là rất đáng báo động.
Theo Viện Kỹ thuật nhiệt đới và Môi trường TPHCM cho thấy, trên

xuyên biên giới), rác thải điện tử nội sinh như thiết bị điện tử hết hạn sử dụng.
2.2.2 Hiện trạng về chất thải kim loại
Bảng 2.2 Thành phần các chất thải kim loại trong sinh hoạt tãi bãi chôn
lấp ở một số địa phương 2009-2010
Hà Nội
Loại chất thải Nam Sơn Xuân Sơn
Kim loại
0,87
0,2
Thủy tinh
1,87
5,07
Sành sứ
0,39
1,26

Huế
Thủy Phương
0,4
0,39
0,79

Hồ Chí Minh
Đa Phước Phước Hiệp
0,36
0,59
0,4
0,86
0,24
1,27

khoảng 40-50% lượng rác đưa vào bãi chôn lấp không hợp vệ sinh trong 1
năm bị đốt hở ngoài trời.
Tỷ lệ chất thải chôn lấp chiếm phần còn lại từ 76-82% CTRSH đô thị
thu gom được, trong đó khoảng 50% được chôn lấp hợp vệ sinh và 50% chôn
lấp không hợp vệ sinh.
2.3 MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG VÀ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ
CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ, KIM LOẠI TRONG SINH HOẠT Ở VIỆT
NAM
2.3.1 Mức độ ảnh hưởng
2.3.1.1 Mức độ ảnh hưởng của chất thải điện tử
Các thiết bị công nghệ cao đem lại cho chúng ta những tiện ích tuyệt
vời song nó lại là một trong những nguyên nhân làm nguy hại đến sức khỏe
con người và môi trường. Sỡ dĩ như vậy vì trong chúng có chứa nhiều hợp
chất kim loại nặng như asen, beryllium (hợp kim nhôm), cadmium, chì, thủy
ngân hay các hợp chất phthalates, polyvinyl clorua, hợp chất brom chống cháy
và các khoáng sản hiếm.
Những hợp chất này chỉ với hàm lượng rất nhỏ cũng có thể gây tử vong
ở người và các động vật, cụ thể như sau:
Khoáng sản hiếm
Europium, prometium, thulium, yttrium… đây là những nguyên tố đất
hiếm, khó khai thác, và vô cùng cần thiết. Chúng hiện diện trong smartphone,
nam châm, HDTV và cả những công nghệ “xanh” như turbin năng lượng gió,
xe điện và các bóng đèn compact. Trong đó còn có chứa các nguyên tố có tính
phóng xạ như Thorium (Th) hoặc Urani (U) trong đó thorium là chất gây ung
thư phổi và tuyến tụy và bệnh bạch cầu, uranium với liều lượng cao có thể làm
tế bào thận chết, suy giảm chức năng của các cơ quan như xương, gan, tủy,
phổi, cơ, gây ngộ độc và ảnh hưởng đến sức khỏe
Hợp chất brôm chống cháy
Brôm chống cháy (BFR) vốn là một hợp chất phức tạp được thêm sử
dụng trong các thiết bị điện tử (và với các đồng vật khác, như đồ nội thất

Nhóm 1 các chất gây ung thư - túc nhóm có khả năng gây ung thư cao nhất.
Thủy ngân (Hg)
Thủy ngân là chất làm giảm đáng kể lượng điện năng tiêu thụ và lượng
khí thải nhà kính, chính vì vậy mà đây là một trong những chất được sử dụng
bên trong các bóng đèn huỳnh quang compact-biểu tượng của công nghệ xanh.
nhưng nó lại là chất rất độc khi xâm nhập vào cơ thể người và sinh vật với
nồng độ vượt quá giới hạn. Việc ngộ độc thủy ngân sẽ gây hại đến hệ thần
kinh trung ương, thận và hệ tiêu hóa.
Chì (Pb)
Các nhà sản xuất thiết bị điện tử dùng chì làm nguyên liệu hàn trong
các mạch điện. Chì cũng là nguyên liệu chính và tiêu chuẩn sử dụng trong đèn
hình của các loại TV CRT.
Nếu chì chẳng may lọt vào cơ thể, nó có thể tàn phá hệ thần kinh, thận
và cơ quan sinh sản và đặc biệt là vô cùng nguy hại đến trẻ em. Trong một
nghiên cứu của Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ vào năm 2004 về các thiết bị
13


điện tử, cho thấy rằng nếu có vụ rò rỉ chì tập trung từ các thiết bị điện tử đang
được sử dụng, đó sẽ là một thảm họa thực sự đối với môi trường và con người.
Asen (As)
Ngay cả khi cơ thể thu nhận một lượng rất nhỏ asen - một tiền chất kim
loại - thì loại chất này cũng sẽ tồn tại lâu dài trong cơ thể và tích lũy theo thời
gian. Asen trong cơ thể sẽ làm suy yếu hệ miễn dịch và gây ảnh hưởng xấu
đến thận. Chất này cũng liên quan đến chứng ung thư phổi, da và bàng quang.
Asen là một thành phần quan trọng trong việc chế tạo mạch điện - điện tử:
Nhà sản xuất kết hợp asen với silicon để tăng khả năng dẫn điện. Tất nhiên,
asen có thể gây nguy hại đến người dùng thiết bị, và gây nhiều nguy cơ lớn
với những người tham gia vào quy trình sản xuất mạch điện. Hiện tại, asen đã
không còn được sử dụng trong sản xuất các thiết bị điện - điện tử, tuy nhiên,

Qua đường hô hấp
Nước mặt

Nước ngầm

Kim loại nặng

Qua chuỗi

Chất độc

thực phẩm

Môi trường đất

Ăn uống, tiếp xúc qua
Người, động vật
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt ảnh hưởng của chất thải kim loại tới con người
và môi trường
Nguồn: Cục bảo vệ môi trường
Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh da
liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác. Những
người này thường xuyên phải chịu ảnh hưởng ở mức cao do bụi, mầm bệnh,
các chất độc hại, côn trùng đốt/chích và các loại hơi khí độc hại trong suốt quá
trình làm việc. Vì vậy, các chứng bệnh thường gặp ở đối tượng này là các bệnh
về cúm, lỵ, giun, lao, dạ dày, tiêu chảy, và các vấn đề về đường ruột khác. Các
bãi chôn lấp rác cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác đối với cộng đồng làm nghề
này. Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ,... có thể là mối đe dọa
nguy hiểm với sức khoẻ con người (lây nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như
AIDS,...) khi họ dẫm phải hoặc bị cào xước vào tay chân,... Một vấn đề cần

bị điện tử cũ hỏng kích thước lớn(TV, tủ lạnh, máy giặt…)thường được lưu trữ
tại gia đình trong một thời gian nhất định trước khi bán lại cho người thu gom
phế liệu. Một số thiết bị được thu gom về các tiệm đồ cũ hoặc tiệm sửa chữa
đồ gia dụng; sau đó được tháo rời và tận dụng linh kiện để thay thế vào các
thiết bị hỏng khác.
2.4 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ, KIM LOẠI TRONG
SINH HOẠT Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam việc kiểm soát xử lý chất thải điện, điện tử chưa được chặt
chẽ, ngoại trừ việc xuất nhập khẩu và xử lý chất thải nguy hại. Việc tái chế chủ
yếu thực hiện tại các làng nghề với công nghệ cũ, lạc hậu, hiệu suất thu hồi
thấp, nhất là chưa kiểm soát được việc thải bỏ các thành phần không tái chế.
Việt Nam cần sớm xây dựng một mô hình xử lý chất thải điện tử với sự tham
gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp sản xuất, đơn vị thu mua, tháo dỡ tái
chế theo một quy trình chặt chẽ, khoa học thay vì thả lỏng như hiện nay.
Chất thải điện tử còn được âm thầm được chuyên chở về Việt Nam dưới
danh nghĩa xuất nhập khẩu với mục đích tái chế. Nhiều cá nhân núp bóng
doanh nghiệp để nhập loại chất thải này từ nhiều quốc gia trên thế giới. Khi
hàng cập cảng họ viện nhiều lý do để thoái thác nhận hàng; hoặc họ sẽ bán
lượng CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ này cho các cơ sở tái chế tư nhân hay các làng
nghề tái chế. Chỉ có một số ít các quy định của Việt Nam có liên quan đến việc
ngăn chặn nhập khẩu rác thải máy tính vào nước ta đó là quyết định số
46/2001/QĐ-TTg của thủ tướng Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hoá thời kỳ 2001-2005 và thông tư số 04/2006/TT-BTM của Bộ Thương
Mại hướng dẫn một số nội quy tại nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng
1 năm 2006 của Chính phủ- Quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt
động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán, gia công. Có
thể khẳng định tái chế CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ chưa nhận được sự quản lý và
quan tâm đúng mức tại Việt Nam do còn nhiều lỗ hổng trong các quy định
pháp luật.
16

Hồ Chí Minh, Bình Định, Đắc Lăk, Quảng Ninh,
Quy hoạch quản lý CTR tại các địa phương, vùng còn rất thiếu, công
tác quản lý CTR nguy hại chưa mang tính vùng, chưa có những giải pháp quản
lý phù hợp.
CTR khu vực đô thị chưa được phân loại, chưa phân loại CTR độc hại
và CTR thông thường
Vấn đề đầu tư, xây dựng các trạm trung chuyển CTR tại các đô thị chưa
thực sự được quan tâm đầu tư. Hiện nay, có rất ít đô thị đầu tư xây dựng các
trạm trung chuyển CTR trong hệ thống thu gom
Các cơ quan chức năng, quản lý Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản,
quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý chất thải => hiệu lực chưa cao,
các mức thi hành cưỡng chế, xử phạt còn nhẹ chưa đủ sức răn đe -> hiệu quả
của công tác quản lý CTR sinh hoạt đô thị chưa cao.
17


Nước ta đã có một số văn bản nhất định về quản lý chất thải như Luật
Bảo vệ môi trường 2005, Nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường
đối với nước thải, Nghị định 174/2007/NĐCP về phí bảo vệ môi trường đối
với chất thải rắn, các qui định về quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, song
chưa có các văn bản về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế. Cần thiết phải hoàn
thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý chất thải trong thời gian tới.
Trên thực tế, chính sách này đã được quy định tại Điều 67 của Luật Bảo
vệ môi trường 2005 và Chính phủ cần sớm ban hành Quyết định thực hiện
chính sách thu hồi và xử lý sản phẩm sau khi sử dụng. Đây là một cơ chế quan
trọng trong lĩnh vực 3R mà hầu như nước nào cũng đã áp dụng.
Mặc dù một số hoạt động đã được thực hiện song việc áp dụng giảm
thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn ở nước ta đang phải đối mặt với một số
rào cản như sau:
* Rào cản về cơ chế chính sách:

-

-

- Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay ở Việt Nam, các lợi ích về
kinh tế thường được ưu tiên trước các lợi ích khác, và do vậy, muốn triển khai
các giải pháp 3R, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư là điều tương đối khó khăn, điều
này đã từng xảy ra đối với việc áp dụng sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản
xuất của Việt Nam từ năm 1997.
* Rào cản về nhận thức:
- Các sản phẩm tái chế hiện nay vẫn chưa được người dân chấp nhận
tương đương so với các sản phẩm thông thường. Các sản phẩm phân hữu cơ,
phân vi sinh sản xuất ra hiện nay vẫn khó tiêu thụ trên thị trường.
- Lợi ích kinh tế thường được đặt ưu tiên hơn so với lợi ích về mặt môi
trường, nhà sản xuất và người dân còn chưa phối hợp, cộng tác đầy đủ với các
bên liên quan.
- Chưa có nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến rộng rãi thông tin tới
người dân và nhà sản xuất.
- Không có các biện pháp khuyến khích các hộ dân cư cũng như các
doanh nghiệp, bệnh viện các điểm dịch vụ công cộng đến với phân loại rác
thải tại nguồn.
2.4 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI ĐIỆN TỬ, KIM LOẠI TRONG
SINH HOẠT Ở VIỆT NAM
2.4.1 Giải pháp quản lý chất thải điện tử trong sinh hoạt
Xây dựng khung luật riêng cho chất thải điện tử
Chất thải điện tử là một loại hình chất thải đặc biệt có tính nguy hại cao nếu
không được xử lý đúng cách, đồng thời chất thải điện tử cũng là nguồn nguyên
liệu có giá trị. Chính vì vậy cần xây một khung luật riêng để quản lý các hoạt
động cũng như xử lý các vi phạm liên quan đến chất thải điện tử.
Xây dựng khung luật riêng cho chất thải điện tử


-

Thứ nhất, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin về doanh số bán hàng để
thuận lợi trong việc quản lý lượng chất thải điện tử phát sinh hằng năm.
Thứ hai, nhà nước cần ban hành các tiêu chuẩn đánh giá cùng các nhãn sinh
thái nhằm tăng tính thân thiện với môi trường, giảm tính độc hại của các mặt
hàng điện, điện tử.
Thứ ba, bổ sung các lưu ý trong thải bỏ các mặt hàng điện tử vào phần hướng
dẫn sử dụng sản phẩm. Ví dụ: Sản phẩm kèm theo sẽ gây nguy hại cho sức
khỏe nếu được thải bỏ và xử lý không đúng cách.
Thứ tư, khi đã đạt được các điều kiện cần thiết như Luật về chất thải điện tử ,
các cơ sở xử lý chất thải điện tử có dây chuyền công nghệ tiêu chuẩn; khuyến
khích các doanh nghiệp nhận trách nhiệm trong việc thu gom các thiết bị điện,
điện tử đã qua sử dụng.
Thứ năm, yêu cầu sự tư vấn, góp ý của các nhà sản xuất đối với phương pháp
xử lý và tái chế đối với thiết bị điện tử do chính họ sản xuất một khi nó trở
thành chất thải điện tử.
Xây dựng chương trình đào tạo, thông tin tuyên truyền
Nâng cao nhận thức của người dân về mức độ nguy hại của việc thải bỏ và tái
chế không đúng cách các chất thải từ các thiết bị điện và điện tử đối với môi
trường và sức khỏe con người.
- Nâng cao năng lực, đội ngũ các nhà quản lý, cán bộ và kỹ thuật xử lý
chất thải điện tử nhằm đáp ứng nhiệm vụ quản lý, tái chế lượng chất thải điện
tử ngày càng tăng trong tiến trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước và
xu thế hội nhập quốc tế.
2.4.2 Giải pháp quản lý chất thải kim loại trong sinh hoạt
Do chất thải kim loại nằm trong danh mục của chất thải rắn nên ta xây
dựng giải pháp chung cho chất thải rắn.
Giải pháp về tổ chức, quản lý và cơ chế, chính sách:

mô hình sản xuất (áp dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường…) hoặc
lắp đặt các thiết bị/hệ thống xử lý để đáp ứng các quy định về bảo vệ môi
trường.
Giải pháp về truyền thông, nâng cao nhận thức và phát triển nguồn
nhân lực:
- Đẩy mạnh tuyên truyền, giới thiệu nội dung về quản lý chất thải quy
định tại Luật bảo vệ môi trường 2014 và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày
24 tháng 4 năm 2015 về quản lý chất thải và phế liệu rộng rãi tới các cấp, các
ngành, cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân.
- Tăng cường trao đổi, tham quan, học tập kinh nghiệm trong triển khai
công tác quản lý chất thải, chú trọng đến tính khả thi, sự phù hợp khi triển khai
áp dụng cùng mô hình xử lý chất thải giữa các địa phương.
- Nghiên cứu đưa nội dung giáo dục môi trường trong đó có quản lý
chất thải vào chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông.
- Đào tạo và tăng cường nguồn nhân lực biên chế phục vụ cho công tác
quản lý chất thải.
- Đẩy mạnh việc tuyên truyền, đào tạo và tổ chức các khoá tập huấn cho
doanh nghiệp về sản xuất sạch hơn, hoạt động giảm thiểu phát sinh chất thải
rắn; quy trình thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải rắn theo đúng các
quy định của pháp luật.
- Đẩy mạnh việc xây dựng và phổ biến cơ sở dữ liệu và trang thông tin
điện tử về chất thải rắn; các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về quản lý, xử lý chất
thải rắn.
Giải pháp về đầu tư và tài chính
- Huy động mọi nguồn lực đầu tư cho công tác quản lý, xử lý chất thải
rắn: nguồn ngân sách nhà nước (cả vốn ODA), quỹ bảo vệ môi trường, các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước ngoài.
- Mở rộng hỗ trợ tín dụng nhà nước cho các công trình đầu tư, dự án
tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải rắn cũng như các ưu đãi
về thuế, phí và lệ phí.

lý các vi phạm
Giải pháp hỗ trợ kỹ thuật và nghiên cứu, phát triển công nghệ
- Nghiên cứu phát triển công nghệ xử lý chất thải rắn theo hướng giảm
thiểu lượng chất thải rắn chôn lấp, tăng cường tỷ lệ tái chế, tái sử dụng và thu
hồi năng lượng từ chất thải.
- Tăng cường nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các công nghệ sẵn
có tốt nhất (BAT), công nghệ thân thiện với môi trường.
- Đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình điểm về tái chế, tái sử dụng và
thu hồi năng lượng từ chất thải rắn nhằm lựa chọn các mô hình phù hợp để
nhân rộng trên phạm vi cả nước.
- Áp dụng các công nghệ tái chế hiện đại, thân thiện với môi trường
thay thế các công nghệ cũ, lạc hậu ở các cơ sở tái chế.
- Giải pháp về đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tăng cường trao đổi và hợp
tác kỹ thuật với các tổ chức quốc tế
- Chủ động đề xuất, xây dựng cơ chế và nội dung hợp tác song phương
và đa phương, trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý, xử lý chất thải
rắn.
- Tiếp tục kêu gọi, thu hút đầu tư nước ngoài tham gia phát triển cơ sở
hạ tầng, nhà máy phục vụ quản lý, xử lý chất thải rắn.
- Tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và đào tạo trong
hoạt động tái chế, tái sử dụng thu hồi năng lượng từ chất thải rắn.

22


CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1KẾT LUẬN

Việt Nam đang có sự phát triển kinh tế- xã hội nhanh chóng nhưng

3.2 KIẾN NGHỊ

Đào tạo cán bô có kỹ thuật, trình độ và chuyên môn cao là vấn đề thật
sự cần thiết đối với công tác bảo vệ môi trường tại các tỉnh thành ở Việt Nam.
Tăng cường nhân lực để tạo ra lực lượng vững mạnh nhằm thực thi tốt hơn
nhiệm vụ thanh tra, kiểm soát, quản lý việc quản lý chất thải điện tử, kim loại
trong sinh hoạt.
Có thể tham khảo các bộ luật tương đương của các nước trong khu vực
như Luật tái chế các đồ điện gia dụng của Nhật Bản, Luật tái chế của Hàn
Quốc; đương nhiên cần nghiên cứu và sửa đổi sao cho phù hợp với tình hình
thực tế ở Việt Nam.
Thay vì dùng các hình phạt cho các vi phạm về chất thải điện tử, kim
loại trong sinh hoạt ta có thể dùng các phần thưởng, tiền mặt để khuyến khích
việc phân loại chất thải làm cho việc quản lý dễ dàng hơn.
Tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng
như giáo dục về môi trường để nâng cao nhận thức và hình thành thói quen
cho người dân. Phối hợp với các nhà trường đưa các chương trình về phân loại
chất thải đến học sinh.
Thường xuyên tổ chức các kỳ thi sáng tạo và tái chế chất thải điện tử,
kim loại trong sinh hoạt để có thêm nhiều phương pháp quản lý hiệu quả.
Chương trình 3R

24


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Hải, 2015, Phát động thu gom rác thải điện tử trong Ngày hội tái chế
/>893/8/phat-ong-thu-gom-rac-thai-ien-tu-trong-ngay-hoi-taiche.html;jsessionid=jQCMO32Mw50EiPtwTf-Vi9Lo.app2, truy cập ngày
30/5/2016.
2. Hoàng Xuân Bảo, 2012. Đánh giá thực trạng và tiềm năng tái chế chất thải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status