BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Vĩnh Lợi
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ VĂN LIÊN
Thành Phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI CẢM ƠN
Trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về quản lý giáo dục đại học của Đảng, Quốc hội, chính phủ, và
nhân dân Việt Nam để nâng chất lượng phục vụ phát triển kinh tế đất nước. Trong bối cảnh đó,
người làm giáo dục khi được trang bị chuyên sâu về học khoa học quản lý giáo dục là một thuận lợi
lớn, đặc biệt hơn là được triển khai nghiên cứu cụ thể khoa học quản lý giáo dục đào tạo đại học
theo hướng đổi mới giáo dục đại học hiện đại chung của cả nước. Với tất cả những điều kiện tốt như
thế đã tạo điều kiện cho tôi học tập nhiều lý luận quản lý giáo dục mới bổ ích cho công tác tại đơn
vị, tôi xin chân tình gởi lời cảm ơn đến:
Ban Giám hiệu, phòng, khoa, và giảng viên tại Trường Đại học Trà Vinh đã tạo điều kiện cho
tôi tham dự và hoàn thành lớp sau đại học về quản lý giáo dục.
Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Tâm lý- Giáo dục, Giảng viên hướng dẫn sau đại
học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
PPDH
Phương pháp dạy học
TB
ĐLTC
Trung bình
độ lệch tiêu chuẩn
TC
Trung cấp
CĐ
Cao đẳng
ĐH
Đại học
THS
Thạc sĩ
TS
Tiến sĩ
dục cũ. Ở Việt Nam đã và đang chuyển đổi để đào tạo theo tín chỉ.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 2 Khóa VIII đã khẳng
định “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực của quá
trình phát triển”. Từ đó, sau hai mươi năm đổi mới và 5 năm thực hiện chiến lược phát triển giáo
dục năm 2006-2010 đã phát triển rõ về quy mô, loại hình, hình thức đào tạo, cải tiến quy trình,
chương trình đào tạo, và tranh thủ nhiều nguồn lực xã hội. Nhìn chung những thành tựu nói trên
chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chỉ số GER đang ở mực thấp. Giáo dục đại học đại chúng: đào
tạo cứng nhắc, thiếu linh hoạt, nặng lý thuyết thiếu thực hành, tư duy chậm đổi mới, chậm hội nhập,
phương pháp dạy và học càng lạc hậu, nặng truyền lý thuyết đặt nhẹ phương pháp học tập, kỹ năng
và thái độ, quy trình đào tạo đóng kín, thiếu mềm dẽo, thiếu liên thông.
Vấn đề đổi mới phương thức đào tạo và quản lý đào tạo theo hướng hiện đại hóa, tin học hóa để
thực hiện một quy trình đào tạo mềm dẻo, lấy người học làm trung tâm. Nghị quyết của chính phủ
số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020
đề ra mục tiêu chung “ Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản
về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân. Đến năm 2020, giáo dục đại
học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới; có năng
lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong Nghị
quyết này, chính phủ đã nêu lên nhiệm vụ và giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình
đào tạo như sau: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ,
tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển
tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”. Ngày 2/9/2007 Bộ Giáo dục gởi công
văn số 105/BGDĐT-ĐH&SĐH hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về giáo dục đại
học đã yêu cầu triển khai tổ chức đào tạo “ Các trường cần xây dựng kế hoạch, lộ trình và tuyên bố
thời điểm chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ, trên cơ sở chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ
sở vật chất, năng lực đội ngũ, phương pháp quản lý, tài liệu học tập và thí nghiệm vào cuối năm
2007. Bộ GD&ĐT sẽ kiểm tra việc đảm bảo các điều kiện tiên quyết để triển khai đào tạo theo tín
chỉ ở trường. Trong năm học tới có ít nhất 50 trường chuyển sang tổ chức đào tạo theo hệ thống tín
- Đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo theo tín chỉ tại trường đại học Trà Vinh.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý đào tạo đại học hệ chính qui, năm học 2009-2010 (sinh
viên năm thứ 2 và 3) tại trường đại học Trà Vinh.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Cơ sở phương pháp luận
- Quan điểm hệ thống- cấu trúc
Tiếp cận quan điểm hệ thống-cấu trúc trong nghiên cứu quản lý đào tạo là xem xét các mối quan
hệ biện chứng của các thành tố: mục tiêu, chương trình, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ
chức đào tạo; mối quan hệ giữa dạy và học, giảng viên và sinh viên cùng với các hoạt động quản lý
đào tạo ở trường ĐH Trà Vinh.
- Quan điểm lịch sử- logic
Muốn nhận thức đúng sự vật hoặc hiện tượng, phải nắm được lịch sử của sự vật. Hay là, xem xét
quá trình phát sinh, phát triển, và hiện nay của nó ra sao?. Như vậy, phải tìm hiểu, phát hiện sự nảy
sinh, phát triển của quá trình đào tạo và quản lý đào tạo ở đại học Trà Vinh.
- Quan điểm thực tiễn
Nghiên cứu quản lý đào tạo ở trường ĐH Trà Vinh cần phải xuất phát từ thực tiễn để tìm ra
những ưu điểm, hạn chế, thuận lợi và khó khăn, những vấn đề nổi cộm, cấp thiết, phát hiện nguyên
nhân để giải quyết nhằm cải thiện thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo theo tín chỉ
phù hợp với thực tiễn ở đại học Trà Vinh.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa tài liệu.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Bảng hỏi dành cho các đối tượng (phần phụ lục):
- 200 SV năm thứ 3, 100 SV năm thứ 2,
- 76 cán bộ quản lý, 75 giảng viên và 42 chuyên viên.
Các cơ sở giáo dục đại học thực hiện quốc tế hóa các chương trình đào tạo thì tất cả những hình
thức liên kết đào tạo và nghiên cứu đều hướng tới các quy trình bảo đảm chất lượng quốc tế.
Một số hoạt động thúc đẩy hội nhập giáo dục đại học của UNESCO như là:
- Hội đồng quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ XXI (Hội đồng Jacques Delors) với kết quả tích tụ
trong tác phẩm “Học tập - một kho báu tiềm ẩn” (Learning: The Treasure Within)
- Hội nghị Thế giới về giáo dục đại học thế kỷ XXI, Paris tháng 10/1998
- Các hoạt động thúc đẩy hội nhập giáo dục đại học của Liên minh Châu Âu
Tuyên ngôn Bologna (6/1999): của 29 Bộ trưởng giáo dục đại học nhằm thiết lập “Không gian
giáo dục đại học châu Âu” (the European Higher Education Area) vào 2010.
- Các biện pháp để tiến đến “Không gian giáo dục đại học châu Âu” tập trung giải quyết các vấn
đề như là:
Hệ thống văn bằng,
Học chế tín chỉ,
Tháo gỡ mọi rào cản cho sinh viên, giáo chức…,
Hệ thống đảm bảo và kiểm định công nhận chất lượng
Thực chất của quá trình Bologna là: nền giáo dục đại học tương đồng với Mỹ, mang thương hiệu
EU, để tăng khả năng cạnh tranh.
- Đồng tuyên ngôn của một số tổ chức giáo dục đại học chủ chốt của phương Tây khẳng định:
+ Các trường đại học cam kết giảm cản trở đối với thương mại quốc tế về giáo dục đại học bằng
cách sử dụng các công ước và thỏa thuận bên ngoài thể chế chính sách thương mại. Cam kết đó bao
gồm tăng cường giao tiếp, mở rộng trao đổi thông tin, phát triển thỏa thuận về các trường, các
chương trình, văn bằng, trình độ, việc xem xét chất lượng.
+ Các quốc gia không nên cam kết về các dịch vụ giáo dục đại học hoặc các phạm trù tương tự
đối với giáo dục người lớn và giáo dục khác trong khuôn khổ của GATS
Thông báo của UNESCO về phản ứng của một số nước đối với GATS:
- Ủng hộ GATS:
1) Trao đổi giáo dục đại học gia tăng vì thêm nhiều nhà cung cấp và thể thức cung cấp mới;
2) Tăng số sinh viên được hưởng giáo dục đại học;
khác, học để khẳng định mình),
- Xã hội học tập,
Xu thế đại chúng hóa, thị trường hóa, đa dạng hóa, và quốc tế hóa giáo dục đại học
1.1.2. Ở Việt Nam
Từ khi Việt Nam có trường đại học đầu tiên đến nay nền giáo dục đại học Việt Nam có thể thấy
ảnh hưởng của ba mô hình giáo dục đại học: Liên Xô, Pháp, Mỹ. Riêng về kinh tế, ảnh hưởng mạnh
nhất đến giáo dục đại học là kinh tế kế hoạch hóa tập trung, và kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Năm 1076 dưới thời nhà Lý, thành lập Quốc Tử Giám, được đánh dấu trường đại học đầu tiên
Việt Nam theo mô hình phương Đông, cho đến năm 1904, thành lập trường Cao đẳng Y khoa thì
mô hình giáo dục đại học phương Tây được du nhập từ Pháp vào Việt Nam.
Năm 1954 đến 1975 ở miền Bắc, các trường đại học đơn lĩnh vực hoặc đơn ngành theo mô hình
giáo dục của Liên Xô cũ với cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Quản lý đào tạo theo niên chế,
chương trình đào tạo đại học đầy đủ thường từ 4 đến 6 năm học liền một mạch, ngành đào tạo hẹp,
chuyên sâu vào năm cuối.
Ở miền Nam, một phần giáo dục đại học theo mô hình giáo dục của Pháp (như Viện Đại học Sài
Gòn), một phần giáo dục đại học còn lại chịu ảnh hưởng mô hình giáo dục của Mỹ (như Viện Đại
học Cần Thơ). Quản lý đào tạo theo chứng chỉ tích lũy mô- đun; ghi danh học tự do, thi đạt yêu cầu
mỗi mô- đun thì cấp một chứng chỉ hoặc đào tạo theo tín chỉ; để đạt được bằng cấp thường phải tích
lũy đủ số tín chỉ.
Năm 1975 đến 1986, hệ thống giáo dục đại học cả nước xây dựng theo mô hình giáo dục của
Liên Xô cũ.
Năm 1987, Việt Nam thực hiện đổi mới giáo dục đại học cho phù hợp với nền kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế.
Giáo dục đại học cả nước năm 1986 đến nay, quản lý đào tạo theo học phần kết hợp với niên chế
(tín chỉ không triệt để); khối lượng học tập tính theo đơn vị học trình (15 tiết/1 đvht).
Nhìn lại các chủ trương đổi mới GDĐH nước ta từ góc độ “hội nhập”:
Có sự tương đồng của đổi mới giáo dục đại học nước ta từ 1987 với “quá trình Bologna” từ năm
Cơ hội:
- Công nghệ thông tin- truyền thông giúp tiếp cận với các nguồn thông tin và tri thức khổng lồ;
- Học tập kinh nghiệm phát triển giáo dục đại học thế giới.
- Đảng và dân rất quan tâm đến giáo dục đại học;
- Tiềm năng nguồn lực trong xã hội tăng hơn trước.
Thách thức:
- Khoảng cách giữa ta và các nước phát triển tăng;
- Thất thoát chất xám;
- Phai nhạt bản sắc dân tộc.
- Cản trở công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa và làm chậm đạt mục tiêu chung phát triển
đất nước.
Sự yếu kém của hệ thống giáo dục đại học cùng các cơ hội và thách thức tạo nên sự bức thiết
phải đổi mới.
Về lý luận quản lý giáo dục và tổ chức quản lý quá trình đào tạo có các tác giả đã nghiên cứu
như: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Bùi Minh Hiền, Châu Kim Lang... Các chuyên
đề về nghiệp vụ quản lý đào tạo như: xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo của Lê Đức Ngọc, hay
quản lý đào tạo trong trường học của Bộ Y tế.
Ngoài ra đã có các luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD nghiên cứu về: “Thực trạng và giải
pháp quản lý đào tạo từ xa tại Đại học mở Bán công thành phố Hồ Chí Minh”, “Thực trạng quản lý
đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đại học An ninh Nhân dân, TP.HCM, “Thực trạng quản lý đào
tạo đại học tại chức ở các cơ sở giáo dục thuộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu”.
Riêng tại thành phố Trà Vinh, có một số giảng viên nghiên cứu về giáo dục đại học nhưng chỉ đề
cập đến phát triển chương trình giảng dạy, quản lý đội ngũ giảng viên, các nghề truyền thống của
người dân tộc…, vì vậy, vẫn chưa có nghiên cứu nào về quản lý đào tạo ở đại học Trà Vinh.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Quản lý
Quản lý là “Hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức.” [25, tr.326]
1.2.3. Quản lý giáo dục đại học
Điều 4 trong Điều lệ trường Đại học ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày
30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ:
“1. Trường đại học chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo; chịu sự
quản lý hành chính theo lãnh thổ của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi
trường đặt trụ sở.
2. Cơ quan chủ quản phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước đối với
các trường đại học trực thuộc theo quy định của Điều lệ này.” [16, tr.3]
Việc quản lý giáo dục đại học như điều lệ nêu trên thì Bộ Giáo dục và ủy ban nhân dân tỉnh là
cấp quản lý vĩ mô so với trường đại học. Còn trường đại học là cấp vi mô so với Bộ Giáo dục và ủy
ban nhân dân tỉnh.
Luật Giáo dục và Nghị định hướng dẫn đã nêu giáo dục đại học bao gồm đào tạo trình độ: cao
đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ theo mục tiêu giáo dục đại học. Quản lý giáo dục đại học cần quan tâm
cả bốn trình độ trên theo mục tiêu giáo dục đại học. Như vậy, “Quản lý trường học, nhà trường có
thể xem là đồng nghĩa với quản lý giáo dục thuộc tầm vi mô” [37,38], đây là những tác động quản
lý diễn ra trong phạm vi một trường đại học hay là quản lý nhà trường.
Trên quan điểm “Quản lý xã hội lấy tiêu điểm là quản lý giáo dục (giáo dục là quốc sách hàng
đầu) thì quản lý giáo dục phải coi nhà trường là nút bấm (quản lý lấy nhà trường làm nền tảng) và
quản lý nhà trường phải lấy quản lý việc dạy học là khâu cơ bản, việc dạy học phải xuất phát và
hướng vào người học” [26, tr.210]. Từ việc quản lý nhà trường đại học lấy việc quản lý đào tạo là
khâu cơ bản, nên công việc điều hành nhà trường của chủ thể quản lý giáo dục phải tập trung cao
vào quản lý các nhân tố của công tác đào tạo, bao gồm: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương
pháp đào tạo, lực lượng đào tạo, đối tượng đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo, điều kiện đào tạo,
môi trường đào tạo, bộ máy quản lý đào tạo và quy chế đào tạo.
Trên cơ sở khái niệm quản lý giáo dục, có thể kết luận quản lý giáo dục đại học là sự tác động có
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục đại học lên đối tượng giáo dục và khách thể
quản lý giáo dục đại học nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức đại
học để đạt mục tiêu giáo dục đại học đã đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.
và cho điểm.” [25, tr.197]
1.2.4.3. Tín chỉ
“Đơn vị nội dung trong chương trình môn học bao gồm một khối lượng kiến thức và kỹ năng
tương đối gắn kết với nhau về chủ điểm cần được sinh viên hoàn thành trong một khoảng thời gian
xác định tương ứng (khoảng độ 15 giờ) và được kiểm tra đánh giá kết quả. Mỗi môn học được chia
thành nhiều mô- đun có tối thiểu từ hai tín chỉ trở lên. Sinh viên phải học và có điểm kiểm tra tất cả
các tín chỉ quy định mới được coi là hoàn thành chương trình bộ môn. Thiếu tín chỉ của mô- đun
nào thì phải học tiếp để trả nợ.
Cách tổ chức dạy học theo từng tín chỉ của mô- đun trong mỗi môn học tạo thuận lợi cho sinh
viên phát huy hết năng lực học tập của mình vì được tự do lựa chọn và cơ động thực hiện những tín
chỉ phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh của riêng mình.” [25, tr.393]
“Có hai loại mô- đun:
- Mô-đun bắt buộc là mô-đun chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương
trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy.
- Mô- đun tự chọn là mô- đun chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên
được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hóa hướng chuyên môn hoặc được tự chọn
tùy ý để tích lũy đủ số mô- đun quy định cho mỗi chương trình.” [4]
Nhìn chung:
- Khái niệm rất khác nhau về niên chế, học phần, và tín chỉ dẫn đến ảnh hưởng khác nhau trong
việc xác định nhiệm vụ quản lý đào tạo của nhà trường. Những trường đã chọn đào tạo theo niên
chế, học phần, hay học phần kết hợp với niên chế sẽ gánh vác những nhiệm vụ quản lý đào tạo đơn
giản hơn những trường chọn đào tạo theo tín chỉ về dạy và học.
- Dù đào tạo theo niên chế, học phần, niên chế kết hợp học phần, hay tín chỉ thì việc quản lý đào
tạo như: công tác kế hoạch, tổ chức dạy, tổ chức học, kiểm tra đánh giá của nhà trường…, đều phải
triển khai theo những yêu cầu và nguyên tắc chung đảm bảo khoa học nội dung quản lý đào tạo.
1.2.5. Quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục lên đối
tượng đào tạo và khách thể đào tạo nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ
cư có nhu cầu đặc biệt; đáp ứng linh hoạt nhu cầu học tập suốt đời của người học; tạo sự gắn kết
chặt chẽ với doanh nghiệp, đơn vị tuyển dụng nhằm đảm bảo đào tạo theo hướng kỹ năng phù hợp
với nhu cầu xã hội, người học có cơ hội việc làm tốt nhất; phấn đấu trở thành một trường tiêu biểu
trong hệ thống giáo dục chuyên nghiệp tại Việt Nam và hội nhập quốc tế thành công.” [66, tr.4]
- Mục tiêu: là cấp độ kế mục đích, khác với tôn chỉ và mục đích mang tính chất tổng quát, mục
tiêu mang tính chất chuyên biệt- hẹp, cụ thể để có thể theo dõi và đánh giá được. Mục tiêu này sẽ cụ
thể thấp dần từ mục tiêu chương trình, khóa học đến mục tiêu môn học và bài học.
Việc quản mục tiêu đào tạo yêu cầu hợp lý mô hình sử dụng, mô hình người lao động, và mô
hình đào tạo. Từ mục tiêu đào tạo, trường đại học đảm bảo xây dựng tương thích diện đào tạo và
diện sử dụng, để sinh viên tốt ngiệp đại học có được hiểu biết, năng lực, và phẩm chất tương xứng
với trình độ đào tạo, đủ nhanh chóng thích nghi với những ngành nghề nhất định.
Cho nên, cán bộ quản lý, giảng viên, và người học cần hiểu rỏ, ý thức đầy đủ về mục tiêu đào
tạo, để mỗi người thực hiện hoạt động giáo dục có tích cực, tự giác, nổ lực nhằm đạt được kết quả
đào tạo cao.
Vì vậy, quản lý đầu vào, quá trình và đầu ra đào tạo nên xác định mục tiêu đào tạo là tiêu chuẩn
để xem xét việc tuyển chọn và đánh giá kết quả giáo dục, xem sản phẩm này đạt được chuẩn ở mức
độ nào. Quá trình kiểm tra, đánh giá cần phải căn cứ vào mục tiêu đào tạo đã được xác định.
Công tác lãnh đạo trường đại học, phải xác định rõ mục tiêu đào tạo nhằm định hướng cho vận
động và phát triển các thành tố khác của quá trình đào tạo, nó trở thành phương hướng chỉ đạo cho
toàn bộ quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động đào tạo, giúp cho quá trình đào tạo vận hành có
chất lượng và hiệu quả, đảm bảo không đi chệch hướng do có điều chỉnh theo mục tiêu đào tạo đã
được vạch ra.
1.3.2. Quản lý chương trình đào tạo
Tùy thuộc vào cách lý giải người ta có các cách hiểu khác nhau về chương trình đào tạo như: một
tập hợp các môn học, một khóa học, cái được dạy bên trong và ngoài trường học nhưng được định
hướng bởi nhà trường…, việc hiểu khác nhau này dẫn đến việc xác nhận nhiệm vụ công tác quản lý
đào tạo nhà trường sẽ gánh hoặc là đơn giản, hoặc là nặng nhọc lên. Nhìn chung, hiện nay có ba
cách tiếp cận phổ biến về một chương trình đào tạo như sau:
tiến hành ở trường đại học đã xây dựng chương trình đó. Trong khi chương trình được vận hành,
người thực hiện chương trình thường chính là các giảng viên đã xây dựng, hoặc một số rất ít là thỉnh
giảng ngoài trường, đồng thời có các bộ phận giám sát như bộ môn, khoa, phòng đào tạo, phòng
thanh tra theo dõi việc thực hiện chương trình đào tạo. Nội dung và phạm vi kiến thức quy định
trong chương trình phải đảm bảo trên cơ sở cấu tạo chương trình, không được giảm nhẹ, và cũng
không được nhồi nhét quá tải. Đảm bảo đúng và đủ theo phân phối chương trình về mặt số tiết, về
thời gian, và trình tự. Phương pháp thực hiện đúng đặc trưng từng môn, từng loại bài học
Khâu kế tiếp thực thi chương trình ở trường đại học là khâu đánh giá chương trình đào tạo. Việc
đánh giá chương trình đào tạo ở đại học không phải chỉ chờ đến giai đoạn kết thúc thực hiện chương
trình, mà người dạy, người xây dựng và quản lý chương trình đào tạo phải luôn tự đánh giá chương
trình qua mỗi buổi, mỗi năm, mỗi khóa để rồi vào năm học mới, kết hợp với tình hình mới thiết kế
lại hoặc hoàn chỉnh hơn chương trình đào tạo.
1.3.3. Quản lý đổi mới phương pháp dạy học
Theo nghĩa chung nhất của phương pháp dạy học là cách thức, con đường để đạt tới một mục
tiêu dạy học, theo nghĩa này ta cũng có thể hiểu phương pháp dạy học là cách thức hoặc hệ thống kế
hoạch được áp dụng để đạt mục tiêu của quá trình giáo dục. Hay đơn giản hơn, Phương pháp dạy
học còn là phương thức làm việc của giáo viên và học sinh. Nên việc dựa trên cách tiếp cận của giáo
viên với học sinh có các phương pháp chủ yếu như: tiếp cận trực tiếp, tiếp cận gián tiếp, tiếp cận
dạy học độc lập.
Như vậy, việc quản lý phương pháp chính là quản lý hình thức của nội dung, hay hình thức của
chương trình dạy học. Về thực tế, các trường đại học xem vấn đề phương pháp dạy học là mỗi giảng
viên tự lo lấy, phương pháp dạy học là theo kinh nghiệm, ngoại trừ giảng viên trước đây được đào
tạo theo hệ sư phạm. Các văn bản qui định về phương pháp dạy học do các cơ quan quản lý giáo
dục ban hành thường chỉ có giá trị hướng dẫn, tham khảo, người dạy toàn quyền chọn lựa và quyết
định phương pháp dạy học. Bên cạnh đó, việc soạn đề cương cho bài giảng là không cần thiết ở đại
học, trước đây đã được học như thế nào thì nay lại dạy theo những cách như vậy và tùy theo từng
giảng viên, từng hoàn cảnh mà những giảng viên này có những cải tiến nhất định. Cho nên ở đây,
các trường đại học xem nặng việc bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ rất quan trọng
những người trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm tại trường, không quản lý những người
không có việc làm dù là đang tích cực tìm việc hay không tìm việc, vì thực tế họ chưa là thành viên
của trường.
Cho nên quản lý nguồn nhân lực của trường đại học là tập trung tìm mọi cách tạo thuận lợi cho
đội ngũ giảng viên, cán bộ, công nhân viên trong trường hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và
các kế hoạch của nhà trường, tăng cường cống hiến của mọi người theo hướng phù hợp phát triển
chiến lược của nhà trường và xã hội.
Vì vậy, việc quản lý nguồn nhân lực trên như của trường đại học phải xây dựng đội ngũ giảng
viên của trường có đủ phẩm chất, năng lực, đồng bộ về cơ cấu, có đủ loại hình để đảm bảo giảng
dạy đạt chất lượng. Đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ thích hợp, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ giáo dục- đào tạo của trường.
1.3.5. Quản lý tuyển sinh
Qui định tổ chức tuyển sinh đầu vào khác nhau tùy thuộc vào từng quốc gia. Chủ yếu dựa trên
qui định về giáo dục mà mỗi nước, hoặc từng trường đại học của nước đó đề ra các chính sách tuyển
sinh.
Tuyển sinh ở Hoa Kỳ không có kỳ thi chung, tổ chức tuyển sinh với hình thức mở thì chỉ cần
nhận đơn của người học đã tốt nghiệp phổ thông là được nhập học; Còn những trường tổ chức tuyển
sinh mang tính cạnh tranh cao, người học có bằng trung học phổ thông không phải là điều kiện đủ
vào học đại học mà phải qua một kỳ thi tuyển sinh đầu vào. Còn ở châu Phi học sinh tốt nghiệp phổ
thông phải qua kỳ thi mới được vào đại học. Giáo dục đại học ở Ai Cập thi tuyển sinh do hội đồng
của khoa ở các trường đại học quyết định, riêng Nigiêria những người tốt nghiệp phổ thông trung
học đăng ký dự thi các kỳ thi tuyển sinh đặc biệt. Tuyển sinh ở Châu Âu, một số nước như Pháp,
vương quốc Anh, người học có bằng tốt nghiệp phổ thông muốn theo học đại học phải qua kỳ thi
tuyển sinh.
Ở Châu Á như Nhật Bản học sinh tốt nghiệp phổ thông muốn vào học đại học phải qua kỳ thi
tuyển sinh đặc biệt ở mỗi trường, thậm chí phải tham dự trước và đạt kỳ thi chung cấp quốc gia.
Riêng ở Việt Nam, chỉ quản lý tuyển sinh qua kỳ thi chung cấp quốc gia, và các trường đại học căn
cứ số lượng người dự thi, điểm sàn, yêu cầu ngành học để tuyển chọn theo chỉ tiêu đã công bố. Vì
Cho nên, tổ chức thực hiện trước hết và chủ yếu là xây dựng cho được cơ cấu tố chức, tức là: xác
định các bộ phận cần có hay liên quan; thiết lập mối quan hệ ngang và dọc của các bộ phận này;
phân chia chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận trên đảm bảo tương tác với nhau hoàn
thành thực hiện kế hoạch đào tạo.
Mặt khác, tổ chức thực hiện kế hoạch phải xác định cơ chế quản lý nhằm bảo đảm hoạt động có
hiệu quả, như: chính sách là những điều khoản hay những qui định của nhà nước định hướng suy
nghĩ và hành động của người quản lý; thủ tục chính là các hướng dẫn về hành động, vạch ra những
chi tiết, theo thứ tự thời gian, các biện pháp chính xác để tiến hành hoạt động; phương hướng hoạt
động; các quan hệ quản lý; các nguyên tắc quản lý; xây dựng qui chế hoạt động ; và các quyết định
quan trọng được ghi thành văn bản phổ biến rộng rãi và kịp thời thực hiện kế hoạch.
Khi tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo thì cần có bộ phận, hay chuyên viên theo dõi riêng,
thường xuyên đôn đốc và báo cáo lãnh đạo về tình hình triển khai kế hoạch khóa học, năm học, học
kỳ. Định kỳ kiểm tra tiến độ thực hiện các kế hoạch trên, nếu phát hiện sai sót, chậm tiến độ phải có
giải pháp, phương án điều chỉnh, bổ sung phù hợp.
1.3.8. Chức năng điều khiển
Điều khiển trong quản lý đào tạo là công việc của người chỉ huy, điều hành góp phần quan trọng
biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, thực hiện kế hoạch đào tạo với hiệu quả cao. Muốn vậy phải
chỉ đạo để huy động và phân bổ các nguồn lực vào việc thực hiện kế hoạch, đồng thời điều hành
mọi việc nhằm bảo đảm vận hành thuận lợi và tối ưu.
Vì vậy, điều khiển quản lý hoạt động đào tạo cần chỉ huy, điều hành một cách khoa học lao động
của cả tập thể, cũng như của từng người; động viên kích thích kịp thời và thường xuyên; giám sát
làm rõ các vấn đề cần quan tâm (đánh giá công việc tới đâu?, có trục trặc gì?, cần can thiệp gì? ); và
điều chỉnh cho phù hợp hơn.
1.3.9. Chức năng kiểm tra
Kiểm tra diễn ra ở tất cả các giai đoạn của hoạt động đào tạo. Kiểm tra có các mục tiêu cơ bản là
phát hiện, điều chỉnh, bổ sung và đánh giá hoạt động đào tạo. Kiểm tra khách quan, đánh giá chính
xác là yêu cầu có tính thời sự của việc quản lý đào tạo.
Chức năng kiểm tra liên quan mật thiết với các chức năng khác của công tác quản lý, do vậy việc
- Có tính liên tục: xác định những gì đã đạt được trong thời gian qua, đồng thời tiên đoán những
gì sẽ đạt trong thời gian tới.
Thứ hai: quản lý kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo phải quản lý kế hoạch kiểm tra đánh giá của
người dạy; có kế hoạch kiểm tra giữa kỳ, cuối học kỳ và hết năm học; yêu cầu chấm, trả bài đúng
thời hạn, có sửa chữa hướng dẫn cho học sinh; phân công bộ phận quản lý tổng hợp tình hình kiểm
tra đánh giá kết quả theo định kỳ.
1.4. Quản lý đào tạo theo tín chỉ
1.4.1. So sánh việc quản lý đào tạo theo tín chỉ và đào tạo theo niên chế
Hệ thống tín chỉ ra đời vào nửa cuối thế kỷ thứ 19, xuất phát từ quan điểm xem sinh viên là
trung tâm của quá trình đào tạo và đòi hỏi việc tổ chức giảng dạy cho mỗi sinh viên có thể tìm được
cách học thích hợp nhất cho mình. Trên cơ sở về triết lý giáo dục đó, vào năm 1872 viện đại học
Harvard thay thế hệ thống chương trình đào tạo cứng gắn với các lớp học cố định bằng hệ thống
chương trình mềm dẽo cấu thành bởi các mô- đun để mỗi sinh viên chọn lựa một cách rộng rãi thích
hợp với năng lực và hoàn cảnh của mình. Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi
hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ, tới nay nhiều nước trên thế giới lần lượt áp dụng hệ
thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc chỉ một vài cơ sở đại học của nước mình.
Cho nên hệ thống tín chỉ thể hiện những ưu điểm hơn hẳn cách tổ chức giảng dạy đại học truyền
thống với các lớp học chỉ theo một chương trình cho tất cả mọi người. Do đó, việc quản lý đào tạo
theo hệ thống tín chỉ đặt ra những nhiệm vụ rất chặt chẽ như:
Đặc điểm cơ bản của đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đòi hỏi sinh viên phải tích lũy kiến thức theo từng học phần (đơn vị: tín chỉ).
Kiến thức cấu trúc thành các mô đun (học phần)
Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy cho từng văn bằng.
Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích lũy.
Chương trình đào tạo mềm dẻo: cùng với các học phần bắt buộc còn có các học phần tự
chọn=> cho phép sinh viên dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo
Đánh giá thường xuyên, thang điểm chữ, điểm trung bình tốt nghiệp >= 200
Dạy học lấy sinh viên làm trung tâm
học, tốt nghiệp theo năm học.
phần theo học kỳ.
- Xét điều kiện học tiếp, thôi học, tốt nghiệp
theo học kỳ.
4. Đánh giá kết quả học tập: theo tiêu chí 4. Đánh giá kết quả học tập: theo tiêu chí
gồm:
gồm:
- Điểm trung bình chung năm học.
- Điểm trung bình chung học kỳ.
- Khối lượng các học phần bị dưới điểm 5.
- Khối lượng đăng ký ở mỗi học kỳ.
- Điểm trung bình chung học tập từ đầu khóa.
- Khối lượng kiến thức tích lũy.
- Điểm trung bình chung tích lũy.
5. Tổ chức lớp học: theo khóa tuyển sinh
5. Tổ chức lớp học: theo tín chỉ sinh viên đăng
ký
6. Đăng ký khối lượng học tập: một lần đăng 6. Đăng ký khối lượng học tập: ba lần đăng
- Học phần bắt buộc, lựa chọn, tự do
- Môn học bắt buộc, tùy chọn
- Kết quả học phần tự do không tính vào điểm - Kết quả môn học tùy ý được tính vào điểm
trung bình chung học tập
trung bình chung học tập
Phương thức tổ chức đào tạo:
- Lớp học tổ chức theo khóa tuyển sinh
- Lớp học được tổ chức theo môn học
- Sinh viên học thời khóa biểu do trường sắp - Sinh viên học thời khóa biểu do tự mình đăng
đặt.
ký.
- Số môn học trường tổ chức cho một ngành - Số môn học trường tổ chức cho một ngành
đào tạo có tổng số đơn vị học trình bằng quy đào tạo có tổng số tín chỉ lớn hơn số tín chỉ yêu
định của chương trình (210 đơn vị học trình)
cầu sinh viên phải tích lũy của ngành đào tạo đó
Phương thức tổ chức đào tạo:
- Chỉ giám sát giờ lên lớp của sinh viên
- Giám sát cả giờ tự học của sinh viên