MÔDULE TH 34.
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
Nguyễn Việt Hùng
MỤC TIÊU
Nắm được những vấn đề lí luận cơ bản về công tác chủ nhiệm lớp và yêu cầu đối
với người giáo viên chủ nhiệm lớp ở tiểu học trong giai đoạn hiện nay.
Có kĩ năng lập hồ sơ chủ nhiệm lớp.
Có mối quan hệ tốt với Ban giám hiệu, đồng nghiệp, phụ huynh, Ban đại diện cha
mẹ học sinh và cộng đồng.
NỘI DUNG
Những vấn đề cơ bản về công tác chủ nhiệm trong giai đoạn hiện nay:
1. Nhiệm vụ, chức năng chung của người giáo viên chủ nhiệm trong trường
tiểu học; quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm đối với Ban giám hiệu, đồng
nghiệp, phụ huynh, cha mẹ học sinh và cộng đồng.
2. Nhiệm vụ cụ thể của giáo viên chủ nhiệm trong trường tiểu học
3. Yêu cầu đối với giáo viên chủ nhiệm trong công tác giáo dục ở địa
phương trong giai đoạn hiện nay.
TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ HỌC TẬP
o Giấy Aᴼ, bút dạ, máy chiếu…
o Tài liệu học tập modun, tài liệu tham khảo:
Hà Nhật Thăng, Tổ chức hoạt động giáo dục, Hà Nội. (1995)
Hà Nhật Thăng (CB), Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ
(2004), Công tác GVCN lớp ở trường phổ thông, NXB giáo
dục.
1
Hà Nhật Thăng (CB) (2010), Sổ tay công tác chủ nhiệm lớp
dành cho giáo viên Trung học cơ sở, NXB giáo dục Việt Nam
Hà Nhật Thăng Module 34. Công tác chủ nhiệm lớp ở trường
1. Trao đổi, làm rõ trách nhiệm của GVCN quản lí toàn diện học sinh
một lớp học ở trường tiểu học là như thế nào?
2. Trao đổi kinh nghiệm của các thành viên trong nhóm về việc thực
hiện vai trò “ cầu nối”: khi nào thì thực hiện tốt vai trò cầu nối, khi nào thì
thực hiện không tốt; “ cầu nối” với đối tượng nào thì dễ, với đối tượng nào
thì khó, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm?
3. Trao đổi phân tích thông tin 1.1 và trải nghiệm thực tế để tìm ra các
yêu cầu cần có đối với GVCN tiểu học.
4. Trao đổi, phân tích quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm đối với Ban
giám hiệu, đồng nghiệp, cha mẹ học sinh và cộng đồng, tìm ra “03 điều nên”
và “03 điều cần tránh” khi thực hiện các mối quan hệ.
5. Trao đổi, nêu một vài ví dụ cụ thể mình đã trải nghiệm thể hiện thành
công/thất bại trong việc thực hiện vị trí là người đại diện quyền lợi, nguyện
vọng chính đáng của tập thể học sinh?
Thông tin cho hoạt động 1.
Thông tin 1.1
1. GVCN trước hết là người đại diện cho Hiệu trưởng quản lí
toàn diện học sinh một lớp học ở trường tiểu học.
Hiệu trưởng không thể quản lí trong lớp học, nắm vững từng học
sinh (trừ trường hợp đặc biệt), Hiệu trưởng thường giao trách nhiệm
3
cho GVCN là “Hiệu trưởng nhỏ”.
Quản lí toàn diện một lớp học không chỉ là quản lí nhân sự như:
Số lượng, tuổi tác, giới tính, hoàn cảnh gia đình, trình độ học sinh về
học lực và đạo đức,... mà điều quan trọng là phải đưa ra dự báo, vạch
được một kế hoạch giáo dục phù hợp với thực trạng để dắt dẫn học
sinh thực hiện kế hoạch đó, khai thác hết những điều kiện khách quan,
chủ quan trong và ngoài nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục.
nghệ, hoạt động xã hội để sử dụng cho các hoạt động của lớp. Đặc
biệt phải quan tâm tới những học sinh yếu về mọi mặt học tập, kĩ năng
để có kế hoạch rèn luyện, bồi dưỡng (không ít GVCN quên nhiệm vụ
này).
+ Nắm vững gia cảnh, đặc điểm của các gia đình học sinh. Nắm
vững đặc điểm gia đình học sinh bao gồm: đời sống kinh tế, nghề
nghiệp, trình độ văn hoá của bố mẹ học sinh, bầu tâm lí của gia đình,
sự quan tâm của các thành viên, truyền thống, cách sinh hoạt, lối sống
của các gia đình... khả năng và thái độ của các bậc cha mẹ đối với các
hoạt động giáo dục của nhà trường...
Việc nghiên cứu, nắm vững đặc điểm từng gia đình học sinh, giúp
GVCN có phương hướng kết hợp giáo dục con em họ và liên kết với họ
trong việc thực hiện các nội dung hoạt động của lớp chủ nhiệm.
+ Nắm vững mục tiêu, nội dung dạy học, giáo dục của lớp chủ
nhiệm. Trong cuộc đổi mới giáo dục lần này mỗi lớp học có mục tiêu,
nội dung hoạt động cụ thể, nhất là chương trình hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp, hoạt động hướng nghiệp... vì vậy phải nắm vững
mục tiêu, nội dung dạy học, giáo dục ở mỗi lớp mới có thể xây dựng
được kế hoạch chủ nhiệm lớp, xác định những nội dung, hình thức
hoạt động.
Thông tin 1.2
GVCN lớp là người đại diện quyền lợi, nguyện vọng chính đáng
5
của tập thể học sinh, là “cầu nối” giữa lớp với Hiệu trưởng và các
thầy cô giáo
Đối với tập thể học sinh một lớp học, không có một giáo viên
nào (kể cả Hiệu trưởng) lại có cơ hội, có điều kiện thiết lập quan hệ
nhưng lại thiếu kinh nghiệm, hiểu biết còn có hạn,... đã dẫn tới sự
khó khăn khi lựa chọn các phương án ứng xử. Có thể thấy rất rõ,
chưa bao giờ vị trí, vai trò của người GVCN lớp lại quan trọng
như hiện nay.
Thông tin 1.3
GVCN lớp còn là “cầu nối” giữa nhà trường với gia đình và
các tổ chức xã hội, là người tổ chức phối hợp, liên kết các lực
lượng trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục
Chưa bao giờ trong lịch sử giáo dục của dân tộc lại đặt trên vai
người GVCN lớp (nhất là ở trường phổ thông) một trọng trách nặng
nề như hiện nay, đó là tổ chức, phối hợp, liên kết các lực lượng giáo
dục xã hội và gia đình để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
Phải thừa nhận rằng sự nghiệp đổi mới đất nước đã có những
thành quả vĩ đại, kì diệu, những mơ ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lí
tưởng của dân tộc, của Đảng đã và đang trở thành hiện thực đó là
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Chúng
ta có quyền tự hào vì đã có những đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp
chung của nhân loại những thập niên đầu của thế kỉ XXI. Song, chúng
ta cũng phải tỉnh táo mà nhận diện rõ rằng chưa bao giờ chúng ta gặp
những khó khăn, thách thức phức tạp như hiện nay. Thời cơ là vô cùng
thuận lợi, thách thức cũng vô cùng khó khăn do những yếu tố chủ quan
và khách quan đem lại. Có thể thấy chưa bao giờ thế hệ trẻ được sống
và phải sống trong sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, giữa tích cực
và tiêu cực, giữa thiện và ác, giữa giá trị vật chất và tinh thần, giữa
trách nhiệm và quyền lợi... như ngày nay. Chính bối cảnh ấy cũng cần
7
các thế hệ lớn tuổi, những người có trách nhiệm với thế hệ trẻ và dân
lãnh đạo gần gũi nhất, người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra
toàn diện mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp
mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản là cán bộ lớp, cán bộ Đội và
tính tự giác của mọi HS trong lớp .
- Trong quan hệ với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài
nhà trường, GVCN là nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển
nhân cách học sinh và là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
Trong lí luận GDH truyền thống công tác chủ nhiệm lớp chủ yếu
được xem xét từ bình diện của giáo dục học (GDH), mà ít được quan
tâm phân tích từ bình diện quản lí, trong khi đó 2 chức năng này bổ trợ
và quy định lẫn nhau. GVCN thực hiện chức năng quản lí tập thể lớp
để thực hiện chức năng giáo dục từng cá nhân có hiệu quả.
Vì vậy, cần quan tâm tìm hiểu chức năng lãnh đạo, tổ chức,
quản lí của người GVCN. Chức năng lãnh đạo và quản lí là không
giống nhau. Người quản lý có chức năng tổ chức thực hiện để đạt mục
tiêu, còn lãnh đạo có chức năng định ra đường lối, chiến lược và
phương pháp hoạt động, đồng thời tác động, ảnh hưởng, động viên
người bị lãnh đạo thực hiện mục đích chung. Tuy vậy, cả hai chức
năng này được tích hợp hài hòa ở chủ thể quản lý là người GVCN.
Người GVCN thực hiện chức năng quản lí khi là đại diện cho
Hiệu trưởng, Hội đồng nhà trường thực hiện các chủ trương, kế hoạch
chung của trường, nhưng lại là người lãnh đạo khi phải xác định tầm
nhìn cho sự phát triển của HS trong lớp chủ nhiệm với tư cách là người
đứng đầu một tập thể lớp, đưa tập thể lớp phát triển thành một tập thể
thân thiện thực sự.
Nhìn tổng thể, chức năng của người GV chủ nhiệm lớp là lãnh
đạo, tổ chức, quản lí tập thể lớp trên cơ sở tổ chức các hoạt động GD,
các mối quan hệ GD của HS theo mục tiêu giáo dục nhân cách HS toàn
9
hướng dẫn chung của nhà trường (đánh giá, xếp loại học tập, rèn luyện
đạo đức và các mặt hoạt động khác của từng học sinh và của cả lớp).
Đề đạt nguyện vọng chính đáng của học sinh lớp chủ nhiệm với
BGH và HĐGD nhà trường, đề xuất các phương án giải quyết với sự
suy nghĩ thấu đáo, cẩn trọng.
Phản ánh những ý kiến nguyện vọng của gia đình học sinh về
10
sự đồng tình hay phản bác đối với những chủ trương, quy định của
trường trong các mặt hoạt động giáo dục để cấp trên có sự xem xét,
giải đáp hoặc sửa đổi cho phù hợp với thực tế.
3. Công việc của GVCN lớp với GVCN các lớp khác cùng khối
Trong tổ chức nhân sự của nhà trường, những GVCN thuộc
cùng một khối lớp được thiết lập thành một tổ chủ nhiệm khối lớp, có
tổ trưởng phụ trách và sinh hoạt theo định kỳ hàng tháng, học kỳ và
năm học, là thành viên thuộc tổ, mỗi GVCN cần thực hiện những công
việc sau:
Bàn bạc, thống nhất với những thành viên thuộc tổ về nội dung,
kế hoạch, cách thức, tiến bộ các hoạt động chủ nhiệm tương ứng với
những thời điểm cụ thể của kế hoạch năm học, trao đổi kế hoạch phối
hợp với các khối chủ nhiệm khác trong trường.
Báo cáo hoạt động của lớp chủ nhiệm về các mặt giáo dục, đề
xuất thỉnh cầu sự giúp đỡ, phối hợp của các lớp cùng khối đối với một
số công việc nhằm tạo phong tráo, phát huy sức mạnh của cộng đồng
khối lớp.
Trao đổi những kinh nghiệm thành công hoặc thất bại, sáng
kiến được chọn lọc trong quá tình thực thi công tác chủ nhiệm của bản
thân với đồng nghiệp để cùng chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, tạo môi trường
đồng cảm, đồng trách nhiệm đối với thế hệ trẻ.
những mặt mạnh và mặt yếu của tập thể lớp, những học sinh có năng
lực học tập tốt, những học sinh có năng lực học tập yếu kém, những
học sinh có phẩm chất đạo đức cần phải lưu tâm, uốn nắn.
Phối hợp với giáo viên bộ môn tổ chức các hoạt động ngoại khoá
phục vụ hoạt động dạy học, đồng thời tạo cơ hội để tập thể lớp có được
môi trường giao lưu và tăng thêm khả năng nắm bắt tình hình thực tế
xã hội cho mỗi học sinh.
Tổ chức học sinh trong lớp thăm hỏi, động viên các thầy, cô
giáo giảng dạy tại lớp nhân các ngày lễ (ngày 8/3; ngày 2/9; ngày
20/11, tết nguyên đán...) hoặc những thầy, cô giáo có hoàn cảnh khó
khăn.
5. Giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh cần phải có mối
liên hệ gắn bó, mật thiết?
Hình thành nhân cách cho học sinh là quá trình tổ chức hoạt
động có mục đích có kế hoạch đến các mặt nhận thức, tình cảm và
hành động ý chí của các em. Hiệu quả của quá trình tổ chức náy phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc phối hợp với các bậc cha mẹ và
12
thân nhân của gia đình học sinh là yếu tố cần được coi trọng. Bởi vì,
gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời
người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân
cách. Đảm bảo sợi dây liên kết gắn bó giữa nhà trường với gia đình là
một đảm bảo cho việc thực hiện tính liên tục và đồng bộ trong tổ chức
hoạt động giáo dục, vừa là sự bù đắp những tác động giáo dục mà
trong điều kiện của nhà trường khó có thể làm được.
Để có mối liên hệ gắn bó, mật thiết với phụ huynh học sinh,
người giáo viên chủ nhiệm cần phải:
- Liên lạc với phụ huynh ngay khi năm học bắt đầu, có nghĩa là
Nội dung 2
Nhiệm vụ cụ thể của GVCN cần thực hiện trong trường tiểu học hiện nay
Mục tiêu:
- Hiểu và phân tích được nhiệm vụ cụ thể của GVCN cần thực hiện
trong năm học;
- Có kĩ năng phân tích thực hiện nhiệm vụ chủ nhiệm thông qua các
bài học kinh nghiệm bản thân.
Hoạt động 2
Tìm hiểu nhiệm vụ cụ thể của GVCN cần thực hiện
trong trường tiểu học hiện nay
Nhiệm vụ
Làm việc nhóm
14
1. Đọc thông tin 2.1, hãy:
a. Thể hiện bằng sơ đồ ( trên giấy Aᴼ) và mô tả được các nhiệm vụ cụ
thể của GVCN tiểu học
b. Ngoài các nhiệm vụ nêu trên, qua thực tiễn thày/cô có thêm/bớt nhiệm
vụ nào?
2. Đọc thông tin 2.2, 2.3 và 2.4, thày/cô:
a. Trình bày trong nhóm cho biết trường thày/cô đã triển khai Mô
hình VNEN chưa? Nếu đã triển khai xin nêu rõ khó khăn, thuận
lợi, kết quả và bài học kinh nghiệm ( trình bày trên giấy Aᴼ)?
b. Căn cứ vào nhiệm vụ xây dựng bộ máy tổ chức tự quản của lớp
nêu ở thông tin 1, nếu triển khai Mô hình VNEN thì thực hiện
+ Điều tra xã hội học, gồm dân tộc ,nơi cư trú đặc điểm phong tục
tập quán;
+ Căn cứ hồ sơ học bạ , thành tích học tập;
+ Cần chú ý hình thức như sức khoẻ, sự linh hoạt năng động;
Ngoài ra từ trực giác cảm nhận.
Căn cứ sự tín nhiệm của tập thể lớp qua việc bình bầu dân chủ đầu
mỗi năm học.
Chú ý đến các cán bộ Chi đội nếu có điều kiện
Tất cả những tài liệu đó sẽ rất hữu ích cho giáo viên chủ nhiệm lớp
trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động giáo dục học
sinh một cách có hiệu quả.
2. Xây dựng bộ máy tổ chức tự quản của lớp
Cơ sở lựa chọn: Từ những thông tin trên, người giáo viên chủ nhiệm
chọn ra những học sinh có năng lực học tập, năng lực hoạt động,
gương mẫu trong hành vi đạo đức giới thiệu vào đội cán bộ của lớp
trong lần sinh hoạt đầu tiên khi nhận lớp
16
Xây dựng bộ máy cán sự của lớp: Ngay sau khi nhận công tác, giáo
viên chủ nhiệm cần suy nghĩ ngay đến việc tổ chức bộ máy tự quản
cho lớp, dựa trên nghiên cứu hồ sơ, học bạ và quan sát thực tiễn, chỉ
định một ban cán sự lâm thời.
Phân lớp thành các tổ/nhóm học sinh có cơ cấu học sinh nam,
nữ, trình độ học tập tương đối đồng đều. Phân công trách nhiệm cho
ban cán sự và các tổ/nhóm trưởng để quản lý học sinh và bắt đầu tổ
chức các hoạt động chung.
Chậm nhất một tháng cho lớp bầu ra ban cán sự và các tổ/nhóm
trưởng chính thức. Ban cán sự lớp phải là những học sinh thoả mãn
các yêu cầu sau đây:
Quan hệ tình cảm là quan hệ bạn bè đoàn kết thân ái tương trợ,
động viên khích lệ nhau trong học tập, tu dưỡng và cả những mối quan
hệ tình cảm khác. Các mối quan hệ này nảy sinh trong hoạt động, giao
tiếp và nó tạo thành động lực thúc đẩy sự phát triển của tập thể và
giáo dục từng thành viên. Quan hệ tình cảm tốt đẹp, sự đoàn kết thống
nhất giữa các thành viên có ý nghĩa cực kì to lớn đối với việc xây dựng
tập thể. Trong tập thể thường có hai loại nhóm: nhóm chính thức gồm
tổ, đội... và nhóm không chính thức hình thành tự phát, do các em phù
hợp nhau về tình cảm, xu hướng, hứng thú. Trong quan hệ tình cảm thì
nhóm thứ hai có vai trò to lớn, giáo viên cần lưu ý tận dụng phục vụ
cho mục đích giáo dục học sinh của lớp.
Quan hệ chức năng là quan hệ trách nhiệm công việc của
các thành viên trong tập thể. Trong tập thể, mỗi người được phân
công một công việc, để hoàn thành nhiệm vụ của mình, mỗi người phải
liên hệ, hợp tác với những người khác và tuân thủ yêu cầu và kế hoạch
chung. Quan hệ chức năng tốt đẹp cũng có nghĩa là công tác của tập
thể được phối hợp chặt chẽ, mọi người đều hoàn thành nhiệm vụ.
Quan hệ tổ chức là quan hệ của các cá nhân theo nội dung,
kỉ luật của tập thể. Tôn chỉ, mục đích của các đoàn thể, điều lệ nhà
18
trường, nội quy lớp học là điều mà tất cả học sinh phải tuân thủ một
cách tự giác. Chính mối quan hệ tổ chức tạo nên sức mạnh tập thể,
đảm bảo cho tập thể phát triển đúng hướng theo mục tiêu đã đề ra.
Xây dựng môi trường học tập thân thiện , xây dựng ý thức tư
tưởng rõ ràng cho từng thành viên.
Xây dựng môi trường dân chủ : đẩy mạnh công tác phê bình
thẳng thắn giữa các học sinh với nhau, giữa các tổ/nhóm đồng thời
cũng tạo cho các em ý thức giúp nhau cùng tiến bộ. Đây là nội dung
muộn, cho nên cần được tổ chức tốt và duy trì lâu dài.
- Thành lập đội “Sao đỏ” của lớp để theo dõi thi đua giữa các
tổ và tham gia trực tuần với các lớp trong trường.
Rèn cho học sinh thói quen tích cực tham gia học tập bằng các
biện pháp sau:
- Tổ chức thi đua giữa các tổ/nhóm trong lớp, ghi lại số lần
tham gia phát biểu ý kiến trong các giờ học.
- Tổ chức cho học sinh chuẩn bị trước các bài học trong ngày.
- Nêu gương những học sinh có phương pháp học tập tốt, đặc
biệt những học sinh nghèo học giỏi.
- Tổ chức cho học sinh học nhóm, đôi bạn cùng học để hỗ trợ
nhau học tập.
b. Tổ chức tốt hoạt động của chi đội thiếu niên
Ở mỗi lớp học có chi đội thiếu niên, để chi đội thiếu niên trong
lớp hoạt động có hiệu quả, giáo viên chủ nhiệm lớp cùng phối hợp với
tổng phụ trách đội và bí thư đoàn trường làm tham mưu cho các em
hoạt động.
Nội dung công tác của các chi đội thường là; kết nạp đội viên
mới, sinh hoạt đội thường kì, sinh hoạt theo các chủ đề, tổ chức tham
quan, cắm trại, sinh hoạt văn nghệ, thi đấu thể dục thể thao, tập nghi
20
thức đội, kỉ niệm các ngày lễ truyền thống của đội.
Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm là giúp các em lập kế hoạch
công tác, tổ chức thực hiện kế hoạch, quan trọng nhất là giúp các em
phương pháp tổ chức và tạo điều kiện tốt nhất cho các em hoạt động.
Thực tế cũng đã chứng minh rằng ý thức trách nhiệm, tính sáng tạo
của giáo viên chủ nhiệm lớp quyết định chất lượng hoạt động của các
đoàn thể trong lớp.
chức luyện tập và thi đấu giữa các nhóm, tổ và các lớp, các khối trong
trường.
- Câu lạc bộ thể dục buổi sáng ở các địa phương, vận động học
sinh tham gia luyện tập thường xuyên.
- Duy trì thể dục giữa giờ.
- Tổ chức hội thi thể dục, thể thao...
- Tổ chức các cuộc tham quan, du lịch.
- Tổ chức cắm trại.
Với các hoạt động lao động nên sử dụng các biện pháp sau
đây:
- Tổ chức lao động tự phục vụ: trực nhật, ngày tổng vệ sinh
trường, lớp.
- Tổ chức lao động công ích và lao động sản xuất ở địa phương
đặc biệt vào vụ mùa thu hái nông sản.
Trong quá trình tổ chức các hoạt động của học sinh trong lớp,
giáo viên chủ nhiệm lớp phải thực hiện các nguyên tắc cơ bản sau
đây:
Phải tạo ra hứng thú, tính chủ động, tích cực, có ý thức của học
sinh.
22
Các hoạt động phù hợp với lứa tuổi, năng lực và sở trường của
học sinh.
Đảm bảo an toàn tuyệt đối, không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ
và học tập của học sinh.
Các hoạt động càng đa dạng phong phú, trẻ em càng tích cực tham
gia, đó là cơ hội để các em phấn đấu và trưởng thành.
6 .Tổ chức các hoạt động giáo dục
Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với giáo viên các bộ môn cùng tổ
thật ra sự cần thiết ở đây chính là phải chắt lọc thông tin rõ ràng khúc
chiết và tuyệt đối không được cháy giáo án.
+ Sổ điểm.
+ Các bài kiểm tra chuyên môn.
+ Các bài báo cáo, bài tập về nhà để kiểm tra.
+ Sổ cập nhật những thông tin khẩn cấp.
+ Sổ họp phụ huynh học sinh.
+ Sổ theo dõi các hoạt động ngoài giờ lên lớp, chương trình
phụ đạo và bồi dưỡng HS giỏi...
Công việc này GVCN nên sử dụng sự trợ giúp của công nghệ
thông tin và những GV dày dạn kinh nghiệm của trường để khỏi phải
vất vả.
Thông tin 2.3
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
TẠO
NAM
24
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: 2764/BGDĐT-GDTH
Kính gửi: Ông (Bà) Giám đốc các Sở giáo dục và Đào tạo
Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (GPE – VNEN) đã được
triển khai thử nghiệm trên diện rộng từ năm học 2012 – 2013, tại 1.447
trường tiểu học trên 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Mô hình trường học
mới tại Việt Nam (VNEN) tập trung đổi mới hoạt động giáo dục và hoạt động
sư phạm, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp học và đánh giá học sinh
Lớp 4
Toá
n
Số tài liệu cần bổ sung
TN
-XH
Tiến
g
Việt
Toá
n
TN
-XH
HĐ
GD
KH
LSĐL
3. Kế hoạch chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh: Tăng cường tiếng Việt
25