TÀI LIỆU HỘI THẢO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN - Pdf 37

http://dangcongsan.vn/details.asp?
topic=8&subtopic=30&leader_topic=103&id=BT1830041263
http://www.tapchicongsan.org.vn/show_content.pl?topic=3&ID=2535

NộI dung
TỔNG QUAN HỘI THẢO:
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM,
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI GIAI CẤP
CÔNG NHÂN VÀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN
Hội thảo tập trung những nội dung chính sau:
1. Vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp đổi
mới đất nước
Về lý luận, hội thảo nhất trí cho rằng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù
cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội khoa học. Nói một cách khái quát, nội dung sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân là: xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo
nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. Trong thời đại ngày nay, mặc
dù có sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức,
nhưng vai trò và sứ mệnh lịch sử nói chung của giai cấp công nhân vẫn không thay đổi.
Chúng ta cần phê phán và bác bỏ các quan điểm sai trái cho rằng, trong điều kiện của
cách mạng tin học, kinh tế tri thức, giai cấp công nhân bị hoà đồng, hoà tan và đánh mất
bản chất của mình, do đó không còn giữ được vai trò lãnh đạo cách mạng nữa.
Các tham luận cho rằng, ở thế kỷ XIX, C.Mác đã nói nhiều về giai cấp công nhân, nhưng
hiện nay, điều kiện lịch sử cũng như bản thân giai cấp công nhân có những thay đổi, nên
nhận thức của chúng ta về giai cấp công nhân hiện đại cũng phải có sự đổi mới để phù
hợp với sự thay đổi đó.
Một số tham luận đề cập đến việc, với sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ
và kinh tế tri thức, giai cấp công nhân được tăng thêm tri thức, được trí thức hoá, nên đã
và đang xuất hiện một bộ phận công nhân mới được gọi là "công nhân tri thức". Giai cấp
công nhân hiện nay mặc dù được trí thức hóa nhưng vẫn là giai cấp trung tâm, là lực
lượng quyết định xu thế tiến hóa của nhân loại. Thực tế ngành Bưu chính viễn thông Việt

nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc. Để hiểu rõ hơn
vấn đề này, các tác giả đã phân tích thêm: Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác
và Ph.Ăng - ghen đưa ra một luận điểm hết sức quan trọng là, trong quá trình phát triển
của mình giai cấp công nhân sẽ trở thành dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho
thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân mà
còn là đội tiền phong của nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc Việt Nam. Bởi vì,
Đảng Cộng sản Việt Nam là người duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác, trong đấu tranh giải phóng dân tộc và cũng như trong công cuộc
đổi mới đất nước. Thành tựu toàn diện về mọi mặt của gần 20 năm đổi mới vừa qua là
một trong những minh chứng hùng hồn cho điều đó. Không phải ngẫu nhiên mà trong
nhân dân, trong các tầng lớp xã hội, từ miền núi đến miền xuôi, từ nông thôn đến thành
thị khi nói về Đảng Cộng sản Việt Nam đều trân trọng gọi là "Đảng ta”…với hàm ý Đảng
là máu thịt, là hạt nhân lãnh đạo của mọi tầng lớp nhân dân. Điều đó càng chứng tỏ, nhân
dân lao động thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là người đại diện cho lợi ích
của giai cấp công nhân, mà còn là người đại diện cho lợi ích của chính mình và của toàn
thể dân tộc. Với cách diễn đạt này sẽ có lợi hơn cho việc đoàn kết dân tộc. Tất nhiên,
cách diễn đạt như vậy không hề hạ thấp bản chất giai cấp công nhân của đảng, bởi trên
thực tế, tính tiên phong của giai cấp công nhân trong mọi hoạt động của Đảng luôn được
đưa lên hàng đầu, luôn được nêu lên trước.


Có thể thấy, mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau về bản chất của Đảng Cộng sản
Việt Nam, nhưng cuối cùng đều khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn mang
trong mình bản chất giai cấp công nhân. Vấn đề đặt ra là, khi bàn về bản chất của Đảng
Cộng sản Việt Nam, chúng ta cần có cách diễn đạt sao cho phù hợp với điều kiện hiện
nay, để vừa không phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vừa phát huy được
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
3. Những chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn
Thứ nhất, xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh tất yếu phải gắn với xây dựng tổ chức
Công đoàn vững mạnh. Các tham luận khẳng định: Công đoàn là tổ chức quần chúng

viên chức và người lao động. Nội dung giáo dục là những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa
Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước; mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; sứ mệnh lịch sử, bản chất


và truyền thống cách mạng của giai cấp công nhân; chủ nghĩa yêu nước. Trước mắt, công
tác giáo dục chính trị, tư tưởng của Công đoàn phải làm cho giai cấp công nhân và người
lao động nhận thức đầy đủ, đúng đắn bối cảnh thế giới và Việt Nam, với sự đan xen của
thời cơ và thách thức. Từ đó, Công đoàn phải tập hợp, động viên giai cấp công nhân và
toàn thể người lao động đi đầu trong công cuộc đổi mới đất nước; thực hiện bằng được
những mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã đề ra.
Mặt khác, Công đoàn cần phát huy vai trò của mình trong việc tham gia quản lý, bảo vệ
quyền lợi vật chất và tinh thần cho công đoàn viên. Ở đây, không có sự quản lý, bảo vệ
của Công đoàn cũng đồng nghĩa với không có dân chủ. Để làm tốt điều này, cần tập trung
vào việc xây dựng công đoàn cơ sở thực sự vững mạnh, gắn với việc xây dựng tổ chức cơ
sở Đảng và chính quyền trong sạch vững mạnh. Đồng thời, Công đoàn cần thường xuyên
phát huy vai trò làm chủ của công nhân và người lao động ở mỗi cơ sở, cụ thể là tăng
cường công tác kiểm tra và giám sát của quần chúng; nắm vững những tâm tư nguyện
vọng của quần chúng để giúp Đảng và Nhà nước hoạch định tốt đường lối, chính sách.
4. Trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với việc xây dựng, phát huy vai trò của
giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn trong thời kỳ mới
Hội thảo khẳng định, giai cấp công nhân Việt Nam là cơ sở xã hội chủ yếu của Đảng và
Nhà nước ta, là lực lượng nòng cốt trong khối liên minh giai cấp công nhân, nông dân,
đội ngũ trí thức và khối đoàn kết toàn dân, là đội quân tiên phong trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do vậy, chúng ta cần khẩn trương xây dựng và thực
hiện Chiến lược xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai
đoạn mới. Chiến lược đó chỉ có thể được thực hiện bằng hệ thống pháp luật, cơ chế,
chính sách đồng bộ của Nhà nước, bằng tổng hợp các biện pháp kinh tế, chính trị, tư
tưởng.
Một số ý kiến cho rằng, trước mắt cũng như lâu dài, Nhà nước cần chú trọng thể chế hoá

Đảng và Nhà nước cần lãnh đạo các cấp, các ngành kết hợp hài hoà chính sách đảm bảo
xã hội với chính sách khuyến khích xã hội, để hai loại chính sách này bổ sung cho nhau,
tạo thành động lực mạnh mẽ khuyến khích mọi người, mọi tập thể công nhân trong các
thành phần kinh tế, các ngành nghề, các lĩnh vực phát triển tài năng trí tuệ.
Tổng kết Hội thảo, GS,TS Lê Hữu Nghĩa khái quát những vấn đề mà Hội thảo đã trao
đổi, và khẳng định, đây là hình thức thiết thực để kỷ niệm ngày thành lập Đảng và ngày
sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, góp phần đi sâu nghiên cứu nhận thức lý luận và thực
tiễn về giai cấp công nhân, về bản chất của Đảng Cộng sản, về xây dựng tổ chức Công
đoàn. Đồng thời, nhấn mạnh, bên cạnh những vấn đề đã được thống nhất, khẳng định rõ,
cũng còn có những vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Chẳng hạn cần tiếp tục đi sâu
nghiên cứu một số vấn đề sau: vị trí, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
hiện đại; tiêu chí, tiêu chuẩn giai cấp công nhân hiện đại; tính chất đảng, bản chất đảng
của giai cấp công nhân hiện đại; phương hướng xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức
công đoàn vững mạnh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở nghiên cứu đó,
chúng ta có thể đề xuất những giải pháp khả thi để xây dựng giai cấp công nhân xứng
đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng; xây dựng xây dựng tổ chức Công đoàn ngày càng
vững mạnh, phát huy tốt vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước./.
Hội thảo khoa học "Đảng cộng sản VN, Chủ tịch Hồ Chí Minh với giai cấp công nhân và tổ chức Công
đoàn Việt Nam":

Khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
17/01/2005 07:51
Diễn ra ngày 15.1 tại Hà Nội với sự phối hợp tổ chức giữa Tổng LĐLĐVN, Ban Tư tưởng Văn hoá
TƯ, Tạp chí Cộng sản (CS), hội thảo khoa học trên đã đặt ra một số vấn đề cần cấp bách thực hiện
để khẳng định vững chắc vai trò, sứ mệnh lịch sử của GCCN và bản chất GCCN của Đảng Cộng Sản.
Các đồng chí Cù Thị Hậu - UVTƯ Đảng, Chủ tịch TLĐ; GS.TS Lê Hữu Nghĩa - UVTƯ Đảng, Tổng Biên
tập Tạp chí Cộng sản và Đào Duy Quát - Phó Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá TƯ chủ trì hội thảo.


được GCCN. Theo Hồ Chí Minh, một trong những nhân tố chủ yếu đảm bảo cho GCCN VN giữ vững, phát
huy vai trò lãnh đạo đối với cách mạng VN là có những đặc tính mà các giai cấp, tầng lớp xã hội khác
không thể có. Đó là tính cách mạng kiên quyết, triệt để, tính tập thể, tổ chức và kỷ luật cao.
Theo PGS.TS Nguyễn Khánh Bật - Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh, trong một số trường hợp khi Hồ Chí
Minh đề cập đến Đảng của dân tộc, của nhân dân, của toàn dân thì trước đó phải là của GCCN hoặc trước
hết là của GCCN. Điều để các nhà khoa học nghiên cứu, khẳng định chính là cách diễn đạt sao cho đầy đủ
ý nghĩa của bản chất của Đảng CS bởi hiện đang tồn tại 2 cách diễn đạt: "Đảng CSVN là đội tiên phong của
GCCN, là đại biểu trung thành của quyền lợi nhân dân LĐ" và " Đảng CSVN là đội tiên phong của GCCN
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc".
Đảng cần hoạch định chiến lược xây dựng, phát triển GCCN hiện đại:
Tại hội thảo, TS Dương Văn Sao - Viện trưởng Viện CN-CĐ (TLĐ) - đưa ra khuyến nghị: Phải khẩn trương
xây dựng và thực hiện chiến lược xây dựng, phát huy vai trò GCCN trong giai đoạn mới, nếu không sẽ là
quá muộn. Ông cũng nhấn mạnh phải coi xây dựng, phát huy vai trò GCCN là một chính sách quốc gia, một
chương trình phát triển của quốc gia hướng vào đối tượng GCCN, trên cơ sở đó tăng cường khối liên minh
giữa GCCN với GC nông dân và đội ngũ trí thức. Để thực hiện điều này, Đảng, Nhà nước cần tập trung đầu
tư thích đáng cả về vật chất lẫn tinh thần, cả về kinh tế và văn hoá, trước mắt cũng như lâu dài để GCCN
VN thực sự phát triển đột phá.
Một luận điểm, và cũng là một thực tế được các nhà khoa học ủng hộ là xây dựng GCCN vững mạnh tất
yếu phải gắn với xây dựng tổ chức CĐ vững mạnh. Điều này cần được quán triệt sâu sắc trong chủ trương,
đường lối, tổ chức chỉ đạo và trong hoạt động thực tiễn của Đảng, Nhà nước, CĐ, các tổ chức quần chúng
và của mỗi người. Muốn làm được vậy, ngoài các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng cần hoàn thiện chính
sách đào tạo, đào tạo lại CN. Bên cạnh đó phải đẩy mạnh và thực hiện tốt chính sách cổ phần hoá DNNN
để 100% CN trong các DN cổ phần mua được cổ phần, quan tâm tổ chức chỉ đạo, thực hiện tốt cơ chế dân


chủ để phát huy đầy đủ quyền làm chủ trực tiếp của các cổ đông, của CN trong các DN và làm chủ thông
qua CĐ, hội đồng quản trị.
Bốn nội dung mà Chủ tịch Cù Thị Hậu đề nghị hội thảo tập trung làm rõ đã được các đại biểu là những nhà
khoa học thảo luận kỹ càng và đi tới một số kết luận. Tuy nhiên, như lời kết luận hội thảo của GS.TS Lê
Hữu Nghĩa - Tổng Biên tập Tạp chí CS, hội thảo góp phần đi sâu vào lý luận và thực tiễn của vấn đề; hội

hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách
mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại
công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp. Theo
C.Mác và Ph.Ăng-ghen, bản chất tiên phong, cách mạng của giai cấp vô sản không phải
do giai cấp này nghèo khổ mà có, mà là do cuộc cách mạng công nghiệp sinh ra, phát


triển cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp và được nền đại công nghiệp rèn
luyện. Giai cấp vô sản có lợi ích đối lập trực tiếp với lợi ích giai cấp tư sản; là giai cấp
đại diện cho phương thức sản xuất mới, đại diện cho tính chất xã hội hóa sâu sắc của lực
lượng sản xuất.
Kế thừa quan điểm nói trên của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin đã làm phong phú
thêm, hoàn chỉnh thêm lý luận về giai cấp vô sản bằng những luận điểm mới, trong điều
kiện lịch sử mới - điều kiện giai cấp vô sản đã giành được chính quyền. V.I.Lê-nin đã
khẳng định: Giai cấp vô sản là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn thể xã
hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản và lãnh đạo trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội
mới. Người còn chỉ rõ: Điểm chủ yếu trong học thuyết của C.Mác là ở chỗ, nó làm rõ vai
trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Thực
tiễn lịch sử thế giới đã chứng minh và khẳng định những kết luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là hoàn toàn đúng đắn. Mặc dù thời
gian ngày càng lùi xa và nhiều biến cố của lịch sử diễn ra, nhưng quan điểm đó vẫn còn
nguyên giá trị.
Qua nhiều năm đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận rằng,
trên thế giới có nhiều học thuyết khác nhau, nhưng học thuyết Mác- Lê-nin đúng đắn
nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất. Cả cuộc đời của Người gắn bó với chủ nghĩa Mác
– Lê-nin. Người đã vận dụng và phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào
hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Người nói: "Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Đảng
đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn”(1).
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất
khuất chống ngoại xâm. Ở giai cấp công nhân Việt Nam, nỗi nhục mất nước, cộng với
nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc đã làm cho lợi ích giai cấp và

nhân, tổ chức Công đoàn. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa VII, ngày 25-7-1994,
khẳng định: Phải coi vấn đề xây dựng giai cấp công nhân và công tác công đoàn là một
nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng trong thời kỳ phát triển mới, bởi chỉ có giai cấp công
nhân trưởng thành về chính trị, có trình độ tổ chức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp
cao, mới có thể là nòng cốt để liên minh với nông dân, trí thức, tập hợp và đoàn kết các
thành phần khác, phấn đấu cho thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Văn kiện Đại hội VIII chỉ rõ: Phải giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân
của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ và đảng viên theo quan điểm của giai cấp công nhân.
Đặc biệt, tại Đại hội IX, Đảng ta rất chú trọng tới vấn đề xây dựng giai cấp công nhân
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Văn kiện xác định: Đối
với giai cấp công nhân, coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ
và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện "tri thức hóa công nhân",
nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất
lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khoa học- công nghệ đang
phát triển mạnh mẽ, toàn cầu hóa diễn ra như một xu thế khách quan, lôi cuốn nhiều nước
tham gia, lợi dụng chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang thoái trào, các thế lực thù địch
đang tìm mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lật đổ chế độ ta.
Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị trong nước đang ra sức
tuyên truyền phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phủ định học thuyết đấu
tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Họ cho rằng, trong thời đại khoa học-công nghệ
và kinh tế tri thức hiện nay, lãnh đạo xã hội phải là tầng lớp trí thức chứ không phải là
giai cấp công nhân, v.v… Điều đó gây cho một số người hoài nghi về vai trò, vị trí và
năng lực lãnh đạo của giai cấp công nhân nói chung, giai cấp công nhân Việt Nam nói
riêng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Trong hoạt động thực tiễn, có lúc, có nơi còn
có biểu hiện chỉ thấy vấn đề đại đoàn kết dân tộc mà không thấy vấn đề giai cấp – một
nội dung cốt lõi của liên minh giai cấp và đoàn kết dân tộc; chưa thực sự quan tâm và tạo
điều kiện để xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân, tổ chức công đoàn.

thức quá độ gián tiếp. Đối với các nước quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội chỉ là chuyển xã hội từ chế
độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa sang chế độ sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa, thì sẽ có chủ
nghĩa xã hội về cơ bản. Còn đối với các nước quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, thì vô cùng khó
khăn, phức tạp và diễn ra trong một quá trình rất lâu dài. Điều đó thể hiện ở nội dung quá độ là phải cải
biến xã hội về nhiều mặt, nổi bật là ba mặt: quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất và tư tưởng - văn hóa,
trong đó, mặt lực lượng sản xuất là khó khăn và quan trọng nhất. Nhìn lại sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta từ 1954 đến nay, thực tế đã diễn ra qua ba giai đoạn:
từ 1954 đến 1975; từ 1975 đến 1986 và từ l986 đến nay. Giai đoạn đầu (từ 1954 đến 1975) là giai đoạn
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc trong tình hình đất nước khó khăn sau cuộc kháng chiến chống
Pháp và tiến hành kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Giai đoạn thứ hai (từ 1975 đến 1986) là giai đoạn cả
nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình hậu quả nặng nề của cuộc kháng chiến ác liệt kéo dài
gần 20 năm. Sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại vào tháng 12 – 1986 là Đại hội lần thứ VI của Đảng ta
quyết định đường lối đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, khắc phục sai lầm chủ
quan, duy ý chí, nóng vội... Đại hội đã xác định đúng nội dung, hình thức, tốc độ và bước đi quá độ lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê
nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta hình thành một hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách và luật
pháp đúng đắn, trong đó chủ trương có ý nghĩa đột phá về lý luận là xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
2-Tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là con đường của cả dân tộc. Song, mỗi tổ chức, mỗi lực


lượng, mỗi bộ phận trong cộng đồng dân tộc căn cứ từ vị trí, vai trò, chức năng riêng mà thực hiện nhiệm
vụ của mình theo định hướng nhằm tới mục đích chung. Với tư cách là lực lượng trung tâm của thời đại,
thông qua tổ chức công đoàn là môi trường hoạt động chính trị - xã hội của mình, giai cấp công nhân là
lực lượng hết sức quan trọng, sự lãnh đạo của Đảng, cùng toàn dân trong Mặt trận đoàn kết dân tộc, tích
cực thực hiện và thực hiện thành công sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo định hướng xã hội
chủ nghĩa… Trải qua 17 năm đổi mới, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn đã cùng toàn dân tộc
đưa đất nước vượt qua tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội và dành được những thành tựu hết sức
quan trọng.
Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Văn kiện Đại hội đại

Thứ ba, là lực lượng lao động cơ bản trong hệ thống sản xuất tiên tiến, trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân phải tự nâng mình lên cho phù hợp với điều kiện sản xuất hiện
đại, trong đó nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, nghiệp vụ chuyên môn và tay nghề có ý nghĩa hết
sức quan trọng. Có như vậy mới đáp ứng được nhiệm vụ song trùng là vừa công nghiệp hóa, vừa hiện
đại hóa trong quá trình đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020. Cùng với sự nghiệp đào tạo xây dựng đội ngũ công nhân mới, trẻ tuổi với tri thức hiện đại, chúng
ta đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo lại và đào tạo nâng cao cho đội ngũ công nhân hiện có. Gắn liền với sự
nghiệp đào tạo đó, chúng ta hình thành từng bước đội ngũ công nhân tri thức cùng với hình thành từng
bước nền kinh tế tri thức.
Tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa, điều chỉnh phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
thực tiễn Việt Nam. Đó là con đường quá độ hoàn toàn đúng đắn, nhưng cũng vô cùng khó khăn, phức
tạp và diễn ra lâu dài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân nước ta thông qua tổ chức Công
đoàn đã góp phần xứng đáng tạo ra những thành tựu rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới.

Mai Thanh


TOÀN CẦU HÓA VỚI CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ
CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
Vũ Văn Hòa *

1 - Chủ nghĩa quốc tế vô sản là sự thống nhất hành động của giai cấp công nhân với đông
đảo các giai cấp, các tầng lớp nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh chung
chống giai cấp tư sản, chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ hòa bình, dân chủ, vì độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Tình đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân
lao động thế giới được thể hiện trong thực tiễn đấu tranh nhằm giải quyết các nhiệm vụ
trước mắt cũng như những nhiệm vụ lâu dài vì sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội - chủ
nghĩa cộng sản; trong sự thống nhất tư tưởng - lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động thực tiễn; trong quan niệm đúng đắn về mối quan

hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở nửa sau thế kỷ XX, sự phá sản của hệ thống thuộc
địa của chủ nghĩa thực dân cũ và mới.


Một hình thái phát triển điển hình của chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân nửa sau
thế kỷ XX là chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa. Nó thể hiện bản chất mối quan hệ hữu
nghị đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa; được bảo đảm bởi
sự tương đồng về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa giữa các nước trong hệ thống xã
hội chủ nghĩa thế giới, bởi nhu cầu, nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng và sự nghiệp
xây dựng chế độ xã hội mới ở tất cả các quốc gia xã hội chủ nghĩa; thể hiện trong quan hệ
hữu nghị, ủng hộ lẫn nhau giữa các đảng cộng sản, công nhân cầm quyền và nhân dân lao
động ở các nước xã hội chủ nghĩa với các đảng cộng sản, công nhân và nhân dân lao
động, bị áp bức, bóc lột ở các nước tư bản chủ nghĩa.
2 - Toàn cầu hóa với tư cách một xu thế vận động tất yếu, khách quan trong tiến trình
phát triển của lịch sử nhân loại mang nội dung cốt lõi là sự gia tăng mạnh mẽ tính tùy
thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc, giữa các khu vực, châu lục, giữa các cộng đồng
cư dân thế giới trên tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế,
thương mại. Xu thế vận động khách quan trên đây đang bị các nước tư bản phát triển, các
thế lực tư bản độc quyền toàn cầu chi phối nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của họ, ít hoặc
không quan tâm tới, thậm chí đi ngược lại lợi ích, nhu cầu của người lao động. Tiến trình
toàn cầu hóa, như nó đang diễn ra trong thực tế hiện nay, cũng tác động mạnh đến mọi
tầng lớp nhân dân lao động trên thế giới, trong đó có giai cấp công nhân tại các quốc gia
tư bản phát triển. Tác động của nó đối với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân vừa
có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực. Nó vừa tạo cơ hội, vừa đặt ra thách thức không nhỏ
đối với mọi hoạt động chung, mọi nỗ lực thống nhất quan điểm, phối hợp hành động của
giai cấp công nhân, của các đảng cộng sản và các tầng lớp nhân dân lao động trên thế
giới.
Về tác động tích cực của toàn cầu hóa đối với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân:
Thứ nhất, toàn cầu hóa tạo điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân
dân lao động ở mọi quốc gia, mọi khu vực, mọi châu lục nhận biết nhanh chóng, đầy đủ,

bản của giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động thế giới đã được trình bày
một cách cô đọng, khúc triết trong học thuyết Mác - Lê-nin về sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân, về sự cần thiết, tính tất yếu của liên minh giai cấp trong cuộc đấu tranh
giai cấp của giai cấp công nhân thế giới. Tuy nhiên, trước đây, người công nhân, người
lao động ở các nước khác nhau mới chỉ hiểu, ý thức về điểm chung đó trên phương diện
lý thuyết. Giờ đây, nhờ sự phát triển của toàn cầu hóa, nhờ tăng cường giao lưu, trao đổi,
tiếp xúc... họ đã tiến tới mức cảm nhận, trải nghiệm cái chung đó trong hoạt động thực
tiễn. Đây là bước chuyển rất quan trọng về chất của phong trào công nhân thế giới.
Thứ ba, toàn cầu hóa tạo cơ hội cho người lao động - công dân của các nước khác nhau
trực tiếp cùng nhau làm việc trong một dây chuyền, xí nghiệp sản xuất nhất định. Một
trong những biểu hiện nổi bật của toàn cầu hóa là sự gia tăng luân chuyển các nguồn
nhân lực giữa các quốc gia, khu vực. Điều này đồng nghĩa với việc, người lao động có cơ
hội lớn hơn trong lựa chọn nơi, địa điểm làm việc. Về lý thuyết, giờ đây người lao động
có thể đến làm việc ở bất cứ nơi đâu, cho bất cứ công ty, xí nghiệp nào trên thế giới. Và
thực tế cho thấy, không ít công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút lao động
từ rất nhiều quốc gia, khu vực khác nhau. Thực tế này giúp cho công nhân, người lao
động mang quốc tịch khác nhau, với những giá trị văn hóa, tín ngưỡng khác nhau không
chỉ nhận thức sâu sắc hơn, mà còn trải nghiệm cái chung về lợi ích, cái chung về địa vị xã
hội của giai cấp mình, từ đó họ đoàn kết chặt chẽ hơn, hành động nhất quán hơn trong
cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích chung, vì mục tiêu chiến lược chung.
Bên cạnh những cơ hội mà toàn cầu hóa có thể tạo ra cho quá trình củng cố, tăng cường
tình đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân, thì nó cũng đặt ra không ít thách thức đối
với quá trình này.
Thứ nhất, toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh hệ thống xã hội chủ nghĩa thế
giới bị lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, đổ vỡ. Biến cố lịch sử này làm cho phong
trào cộng sản, công nhân quốc tế nói riêng, phong trào cách mạng thế giới nói chung lâm
vào thời kỳ thoái trào. Không ít các lý luận gia cố gắng biện luận cho cái gọi là "sự tất
yếu diệt vong" của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, về "sự lỗi thời" của chủ
nghĩa quốc tế vô sản của giai cấp công nhân. Trong bối cảnh các quốc gia tập trung phát
triển kinh tế, coi lợi ích kinh tế của quốc gia mình là ưu tiên số một trong quan hệ với thế

hiện ở hai thực tế sau. Một là, triển khai đường lối đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa
quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đảng cộng sản cầm
quyền, nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa đang nỗ lực thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài, trước hết và chủ yếu từ các nước tư bản phát triển, cố gắng xuất khẩu hàng
hóa, dịch vụ, lao động của mình ra nước ngoài. Trong khi đó, các đảng cộng sản, công
nhân, các lực lượng cánh tả tiến bộ ở các nước tư bản phát triển lại chỉ trích chính sách
của chính phủ nước mình trong việc mở cửa thị trường, xuất khẩu tư bản ra nước ngoài,
vì theo họ (các đảng cộng sản, công nhân, các lực lượng cánh tả tiến bộ ở khu vực các
nước tư bản phát triển) chính sách đó của chính phủ sẽ đe dọa nền sản xuất trong nước,
thu hẹp công ăn việc làm của người lao động. Do vậy, ở đây có nguy cơ nảy sinh mâu
thuẫn giữa người lao động đến từ các nước xã hội chủ nghĩa và người lao động ở các
nước tư bản phát triển. Hai là, sự tự do lưu chuyển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi
để công nhân, người lao động từ các nước kém phát triển chuyển đến tìm việc làm với hy
vọng có thu nhập cao hơn ở các nước tư bản phát triển, làm nảy sinh xung đột giữa lao
động nước sở tại và lao động di cư từ nước khác tới. Những xung đột này là nguy cơ tiềm
ẩn phá vỡ tình đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân thế giới. Nó đã và đang bị các thế


lực dân tộc chủ nghĩa, cánh hữu cực đoan lợi dụng để kích động thái độ phân biệt chủng
tộc, bài ngoại trong nội bộ giai cấp công nhân, người lao động ở không ít quốc gia Tây
Âu, Bắc Mỹ, Đông - Bắc á những năm vừa qua.
Trước những tác động tích cực và tiêu cực, thời cơ và thách thức do toàn cầu hóa tạo ra,
giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động, các đảng cộng sản, công nhân, các
lực lượng cánh tả tiến bộ trên thế giới phải làm gì để củng cố, tăng cường tình đoàn kết
quốc tế của mình? Câu hỏi chưa có lời giải đáp thỏa đáng, triệt để. Song, những cố gắng,
nỗ lực của các đảng cộng sản, công nhân, các lực lượng cánh tả tiến bộ, của toàn bộ giai
cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động khắp thế giới những năm vừa qua nhằm
tìm kiếm phương thức, hình thức trao đổi ý kiến, phối hợp hoạt động phù hợp hơn, thích
ứng hơn với tương quan lực lượng mới, với bối cảnh mới của thế giới hiện nay là một
thực tế không thể phủ nhận. Dù còn muôn vàn khó khăn, thách thức, nhưng với tư cách

có hiệu quả và hiệu lực. Nói một cách dễ hiểu, ngành Tổ chức của Đảng là người góp phần tạo sự
cường tráng của cơ thể Đảng.
Tháng 10 năm nay, ngành Tổ chức của Đảng ta kỷ niệm lần thứ 74 năm ngày thành lập. Thật ra, công tác
tổ chức của Đảng xuất hiện đồng thời với sự ra đời của Đảng qua việc Đảng Cộng sản Việt Nam hợp
nhất các tổ chức Cộng sản nước ta tháng 2-1930 và công bố Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và


Điều lệ vắn tắt của Đảng. Trước đó, sự ra đời của Báo Thanh niên do Bác Hồ sáng lập vào năm 1925 và
tác phẩm Đường Kách Mệnh do Người khởi thảo cùng những lớp huấn luyện do Người tổ chức chính là
sự chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
Trong 74 năm đó, từ mấy trăm đảng viên ngày Đảng mới thành lập, dù phải trải qua đấu tranh quyết liệt
và những cuộc khủng bố tàn khốc của kẻ thù, đến năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám thành công,
Đảng ta đã có tới năm nghìn đảng viên và ngày nay, trải qua hai cuộc kháng chiến cứu nước, bước vào
thời kỳ xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ta đã có hơn hai triệu
người, bao gồm những đại biểu ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và
những người yêu nước và cách mạng khác.
Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, với các tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên không
ngừng lớn mạnh, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ đại, nổi bật nhất là thắng
lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thắng lợi của các
cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và
từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH.
Công tác tổ chức và ngành Tổ chức của Đảng, thông qua nhiệm vụ xây dựng Đảng về mặt tổ chức, cũng
đã không ngừng lớn lên, đúc rút được nhiều kinh nghiệm phong phú, góp phần xứng đáng vào thắng lợi
chung và sự nghiệp lãnh đạo của Đảng.
Đặc điểm nổi bật nhất trong quá trình lãnh đạo của Đảng ta là từ năm 1945, với thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám và việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành
Đảng cầm quyền và liên tục là Đảng duy nhất lãnh đạo chính quyền ở nước ta. Nếu không kể Đảng Cộng
sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản và công nhân các nước XHCN Đông Âu trước đây đã mất quyền lãnh
đạo đất nước và ở đó, chế độ XHCN cũng không còn thì cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng
cộng sản có thời gian cầm quyền lâu nhất trên thế giới và đang tiếp tục giữ vững quyền lãnh đạo ấy. Nói



4. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng.
Làm tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với một số việc trọng tâm nêu trên là góp phần quan
trọng làm tốt công việc chuẩn bị về mặt tổ chức cho Đại hội lần thứ X của Đảng.
Kỷ niệm lần thứ 74 Ngày thành lập Ngành Tổ chức cán bộ, những người làm công tác tổ chức của Đảng
nhận thức sâu sắc hơn vai trò, trách nhiệm, từ đó làm tốt hơn nữa các nhiệm vụ của mình, để Đảng ta
luôn luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Hà Đăng


Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và cương lĩnh đầu tiên của Đảng

Ngày 10/6/2003. Cập nhật lúc 21h 11'
I- BỐI CẢNH LỊCH SỬ NƯỚC TA TRƯỚC NGÀY ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
l- Việt Nam từ nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa
Dân tộc Việt Nam sớm hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước. Với truyền thống đoàn kết và
bất khuất, dân tộc ta từng đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược lớn mạnh.
Từ đâu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây, trong đó có đế quốc Pháp, đã nhòm ngó, xâm lược
nước ta, mở đâu bằng việc khai thông buôn bán và truyền giáo.
Nǎm 1858, đế quốc Pháp vũ trang xâm lược nước ta. Vua quan triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu
hàng chúng. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1884, triều đình nhà Nguyên đã ký Hiệp ước Patơnốt, hoàn toàn dâng
nước ta cho đế quốc Pháp. Từ đó, Việt Nam trở thành thuộc địa của đế quốc Pháp. Dưới chế độ thống trị
của đế quốc Pháp và tay sai của chúng, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi.
Về chính tri thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên. Mọi quyền hành đêu nằm trong tay người Pháp,
vua quan nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò bù nhìn. Chúng thi hành chính sách chia để trị. Chúng chia rẽ giữa
ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, rồi lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp nhằm xoá tên các nước Việt



Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa.
Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), vừa
ra đời đã bị sự chèn ép của tư bản Pháp và phân hoá thành hai bộ phận. Một số ít ôm chân đế quốc,
tham gia vào các cơ quan chính trị và kinh tế của đế quốc Pháp, trở thành lớp tư sản mại bản. Một bộ
phận khác tuy có mâu thuẫn nhất định với tư bản Pháp và triều đình phong kiến, nhưng thế lực kinh tế
yếu ớt, què quặt, phụ thuộc, khuynh hướng chính trị cải lương. Do vậy, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam
tuy có tinh thần yêu nước, chống phong kiến và đế quốc, nhưng họ không có khả nǎng lãnh đạo cách
mạng. Họ chỉ có thể tham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất định.
Tầng lớp trí thức và tiểu tư sản là những người vốn được chế độ phong kiến và thực dân đào tạo. Nhưng
do truyền thống yêu nước chi phối, họ khao khát độc lập, tự do, dân chủ, nên cũng bị phân hoá. Một số ít
cam tâm làm tay sai. Số đồng vẫn giữ được khí tiết dù ở hoàn cảnh nào cũng không nguôi lòng cứu
nước. Khi có điều kiện, những trí thức yêu nước thường đóng vai trò truyền bá những tư tưởng mới và là
ngòi pháo của các cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến.
Giai cấp nông dân khao khát độc lập và ruộng đất, hǎng hái chống đế quốc và phong kiến. Sau phong
trào Vǎn thân, Cần vương, nhất là sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên thế (1913), phong trào nông dân
bị phân tán. Nông dân là một lực lượng đông đảo, yêu nước, nhưng không thể tự vạch ra đường lối đúng
đắn để tự giải phóng và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng.
Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp. Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở
công nghiệp, đôn trại và thành phố phục vụ cho cuộc xâm lược và binh định nước ta. Trước Chiến tranh
thế giới lần thứ nhất (1914-1918), giai cấp công nhân còn ít, chỉ 10 vạn người và trình độ còn thấp. Qua
thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai (1924-1929), số lượng công nhân chuyên nghiệp đã có 22 vạn
người, chiếm 1,2% số dân. Nếu tính số người làm thuê trong các hãng kinh doanh tư nhân vừa, nhỏ và
số người vô sản, nửa vô sản sống ở thành thị và nông thôn, thì đội quân vô sản ở Việt Nam trước nǎm
1930 có đến hàng triệu người.
Sinh trưởng trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cũng như nông dân và các tầng lớp lao động
khác, giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản, phần
lớn xuất thân từ nông dân. Đó là cơ sở khách quan thuận lợi cho hai giai cấp cơ bản này có sự liên minh

Sau khi từng bước ly khai con đường giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến, nhiều người yêu
nước Việt Nam hướng ra nước ngoài, tìm đến nhưng con đường mới để mưu sự nghiệp giải phóng dân
tộc như: con đường Duy Tân của Nhật Bản (1860), con đường Cách mạng tư sản Pháp (1789), con
đường Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc (1911)...
Vào đâu thế kỷ này, nước Nhật từ sau cuộc vãn động Duy Tân đã trở thành nước đế quốc chủ nghĩa, đã
đánh bại Nga Hoàng trong cuôc chiến tranh Nga - Nhật (1905). Cách mạng 1905 ở Nga nổ ra nhưng
không thắng lợi. Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (nǎm 1911) đã đánh đổ triều đình Mãn Thanh, lập ra
nước Trung Hoa dân quốc. Những sự kiện trên đây đã ảnh hưởng đến phong trào yêu nước Việt Nam.
ý thức hệ tư sản phương Tây đã thâm nhập vào Việt Nam. Một số sĩ phu tiến bộ tiếp thu tràn lưu tư
tưởng này, mong muốn nước mạnh, dân giàu theo con đường tư bản chủ nghĩa. Họ muốn noi theo con
đường phát triển của Nhật Bản, dựa vào Nhật để đánh Pháp. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là hội Duy
Tân do cụ Phan Bội Châu sáng lập, với mục đích cổ động phong trào, tổ chức lực lượng chống Pháp
theo tôn chỉ "mở mang dân trí, chấn hưng dân khí, vun trồng nhân tài". Số khác như các cụ: Lương Vǎn
Can, Nguyễn Quyền... mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội nhằm cổ động tinh thần yêu nước, bài
xích chính sách cai trị của thực dân Pháp, khuyến khích cải cách, chế diễu lũ phong kiến, cường hào v.v..
Là một nhà yêu nước nhiệt thành, nhưng chủ trương của cụ Phan Chu Trinh khác hẳn với cụ Phan Bội
Châu. Cụ Phan Chu Trinh tiêu biểu cho xu hướng cải cách dân chủ tư sản (1789), phản đối việc vũ trang
bạo động chống Pháp. Cụ nói: "Bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, ngoại vọng tất vong". Đó
là lời tuyên bố của cụ Phan Chu Trinh sau khi đi Nhật về (15-8-1906). Sau này trong thư "thất trảm" gửi
vua Khải Định khi y sang Pháp (1922), cụ Phan Chu Trinh viết: "Mau mau quay đâu lại mà thoái vị đi, đem
chính quyền trả lại cho quốc dân để quốc dân được trực tiếp với chính phủ Pháp mà làm việc đặng mưu
lợi ích sau này". Phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, chống đi phu, nộp thuế ở Trung Kỳ là kết
quả của khuynh hướng tư tưởng tư sản.
Tính chất phong trào dân tộc ở thời kỳ này có chuyển biến khác trước Một số tổ chức yêu nước ra đời
như hội Duy Tân (1904), trường Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), hội Đông á đồng minh (1908), Việt Nam
quang phục Hội (1912-1924) v.v.. Song, vì đường lối chính trị của các tổ chức này không rõ ràng, nhất là
không dựa vào quần chúng lao động, mà dựa vào uy tín cá nhân, nên không tạo ra được sự thống nhất
trong những người đề xướng phong trào. Vì vậy, khi những người thủ lĩnh bị đế quốc Pháp bắt thì phong
trào cũng tan rã theo. Cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917) đánh dấu bước phát triển mới
trong lịch sử nhân loại. Quốc tế cộng sản, bộ tham mưu của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức

Biểu hiện của phong trào này là nhiều hội, đảng yêu nước của thanh niên trí thức kế tiếp nhau ra đời: Tân
Việt thanh niên đoàn - tức Tâm tâm xã (1923-1925), hội Phục Việt (1925), Đảng thanh niên của Trần Huy
Liệu (1926), Thanh niên cao vọng đảng của Nguyễn An Ninh (1926-1929), Tân Việt cách mạng đảng
(1926-1930), Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội (1925-1929), Việt Nam quốc dân đảng (19251930) v.v... Những tổ chức yêu nước cách mạng nói trên đã có tác dụng nhất định trong việc truyền bá tư
tưởng mới, giáo dục lòng yêu nước và tập hợp số quần chúng thanh niên trí thức, tiểu tư sản. Nhưng, họ
chưa vạch ra được một đường lối cách mạng phù hợp với yêu cầu của dân tộc. Tâm tâm xã nêu cao
quyết tâm "khôi phục quyền làm người của người Việt Nam", nhưng "chưa bàn đến chính thể". Tân Việt
cách mạng đang nhận rõ mục đích giải phóng dân tộc, nhưng chưa thấy vị trí lịch sử của giai cấp công
nhân, Việt Nam quốc dân đảng chủ trương chống đế quốc, chống phong kiến, nhưng lại sao chép rập
khuôn chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên (Trung Quốc).
Nhìn chung, các hội và đảng yêu nước nói trên có tinh thần chống đế quốc, nhưng chưa nhận thức được
xu thế phát triển khách quan của thời đại sau Cách mạng tháng Mười Nga, nên không thấy được giải
phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng xã hội, chủ nghĩa yêu nước
chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản, chưa thấy độc lập dân tộc phải gắn liền với chế
độ mới để đi đến xoá bỏ mọi sự bất công và áp bức bóc lột. Những người trong các tổ chức này cũng
không thấy hết bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, không nhận thức được vai trò lãnh
đạo của giai cấp công nhân, vai trò của quần chúng nhân dân, trước hết là nông dân trong cách mạng.
Bởi những hạn chế đó, những người yêu nước trong các tổ chức này chưa thể xác định được một đường
lối cách mạng đúng đắn.
Riêng Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội do đồng chí Nguyễn ái Quốc sáng lập, là một tổ
chức cách mạng, phần lớn gồm những người trí thức, tiểu tư sản, sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin,
sớm có khuynh hướng cộng sản chủ nghĩa. Đảng Tân Việt, sau những nǎm 1926-1927 đã chịu ảnh
hưởng về đường lối của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội.
Cuộc đấu tranh về ý thức hệ và về đường lối cứu nước giữa Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí
Hội và các tổ chức yêu nước nói trên đã diễn ra từ những ngày đầu đồng chí Nguyễn ái Quốc trực tiếp
chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, từng
bước khắc phục sự khủng hoảng về đường lối cứu nước.
II- ĐỒNG CHÍ NGUYỄN ÁI QUỐC TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN CHUẨN BỊ THÀNH LẬP
ĐẢNG
l- Đồng chí Nguyễn ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin

đồng chí đã tích cực tuyên truyền, giáo dục và giới thiệu cho Đảng cộng sản Pháp nhiều chiến sĩ cách
mạng của các nước thuộc địa ở châu á châu Phi...
Cũng nǎm 1921, nhờ sự giúp đỡ của Đảng cộng sản Pháp, Người đã cùng với một số chiến sĩ cách
mạng ở các nước Angiêri, Mađagátxca, Xênêgan, Tuynidi, Marốc, Đahômây v.v..sáng lập ra Hội liên hiệp
thuộc địa. ở Pari, trong đó Hội người Việt Nam yêu nước ở Pháp làm nòng cốt. Thông qua tổ chức này
và báo Người cùng khổ, diễn đàn của các dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đến với các dân
tộc thuộc địa, đồng thời tình hình các nước thuộc địa đã đến với nhân dân Pháp. Cùng với báo Người
cùng khổ mà đồng chí Nguyễn ái Quốc làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút và quản lý, Người còn viết nhiều bài
đǎng trên các báo Nhân đạo (L'humanité), cơ quan Trung ương của Đảng cộng sản Pháp, Đời sống thợ
thuyền (La Vie Ouvrière), tiếng nói của giai cấp công nhân, Tạp chí Cộng sản (La Revue communiste), cơ
quan lý luận của Đảng cộng sản Pháp v.v.. Hầu hết bài viết của Người đều tập trung lên án chủ nghĩa
thực dân.
Nǎm 1925, được sự giúp đỡ của những người cộng sản Pháp, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp
của đồng chí Nguyễn ái Quốc viết bằng tiếng Pháp được xuất bản lần đầu tiên ở Pari. Tư tưởng, quan
điểm cơ bản của Người về chiến lược và sách lược cách mạng thuộc địa đã bước đầu thể hiện trong tác
phẩm.
Bản án chế độ thực dân Pháp tố cáo trước nhân dân Pháp và thế giới những tội ác của bọn thực dân
không chỉ ở Việt Nam, Angiêri mà ở khắp các thuộc địa. Bằng biểu tượng "con đỉa hai vòi", Nguyễn ái
Quốc đã làm cho người đọc thấy rằng: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của giai cấp
vô sản và nhân dân lao động bị áp bức, bị bóc lột ở các nước chính quốc và các dân tộc thuộc địa. Bản
án chế độ thực dân Pháp đã góp phần vào việc thiết lập sự liên minh giữa cách mạng vô sản ở chính
quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa, phải thực hiện sự liên minh chật chẽ với nhau để
chống kẻ thù chung, vì "chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được
thắng lợi cuối cùng".
Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả nǎng cách mạng to lớn. Phải làm cho các dân tộc thuộc địa từ
trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh
phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản".
Bản án chế đô thực dân. Pháp đã phê phán thái độ "cầu cạnh xin xỏ thay đổi quốc tịch" của một số người
mang tư tưởng cải lương tư sản, đồng thời đề cao tinh thần tự lực, tự cường, tự mình giải phóng cho
mình: "công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em" và

Quảng Châu, được Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á - Đông xuất bản.
Trong tác phẩm quan trọng này, đồng chí Nguyễn ái Quốc nêu ra những tư tưởng cơ bản về chiến lược
và sách lược của cách mang Việt Nam.
Đường cách mệnh đề cập đầu tiên đến vấn đề tư cách người cách mang, nhắc nhở cán bộ phải vị công
vong tu, nói thì phải làm,... giữ chủ nghĩa cho vững,... ít lòng tham muốn về vật chất,... hy sinh,... giữ bí
mật,... phục tùng đoàn thể v.v..
Tác phẩm nêu ra ba loai tư tưởng về cách mạng và chia ra hai thứ cách mạng là "dân tộc cách mạng" và
"thế giới cách mạng", rồi khẳng định tuy có khác nhau "nhưng 2 thứ cách mệnh ấy vẫn có quan hệ với
nhau". "Tất cả dân cày, người thợ trong thế giới bất kỳ nước nào, nòi nào đều liên hợp nhau lại như anh
em một nhà, để đạp đổ tất cả tư bản trong thế giới, làm cho nước nào, dân nào cũng được hạnh phúc,
làm cho thiên hạ đại đồng - ấy là thế giới cách mệnh".
Tác phẩm phân tích những hạn chế của cách mạng tư sản ở Mỹ (1776), ở Pháp (1789) và khẳng định chỉ
có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để.
Đường cách mệnh chỉ rõ đối tượng đấu tranh của cách mạng Việt Nam là tư bản đế quốc chủ nghĩa,
phong kiến địa chủ; đồng thời, chỉ rõ động lực và lực lượng cách mạng: "công nông là gốc cách mệnh
còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông". Trong khi kêu gọi
sự đồng tâm, nhất trí làm cách mạng, giải phóng dân tộc, tác phẩm đã phê phán hành động ám sát cá
nhân và những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa khác chỉ xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức;
hoặc làm cho dân quen tính ỷ lại mà quên tính tự cường.
Quần chúng một khi đã được giác ngộ, có tổ chức và lãnh đạo sẽ là lực lượng cách mạng vô địch: "dân
khí mạnh thì quân lính nào súng ống nào cũng không chống lại".
Đường cách mệnh chỉ rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Tác phẩm còn


nhấn mạnh ý thức tự lực tự cường, muốn người ta giúp cho thì mình phải tự giúp mình trước.
Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã thấy khả nǎng cách mạng thuộc địa có thể giành thắng lợi trước, không thụ
động chờ đợi cách mạng vô sản chính quốc thắng lợi để được giải phóng.
Người viết: "An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông
Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ" .
Tác phẩm khẳng định: muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, trước hết phải có đảng cách mạng. Đảng ấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status