ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HÀ
BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ
TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG - MỘT SỐ VẤN
ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Thu Thủy
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30
Luận văn đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2011.
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.2.2.1.
1.2.2.2.
1.2.2.3.
1.3.
1.4.
1.4.1.
1.4.2.
1.4.2.1.
1.4.2.2.
1.4.2.3.
1.4.2.4.
1.4.2.5.
Khái niệm, đặc điểm, phân loại giấy tờ có giá
Khái niệm giấy tờ có giá
Đặc điểm của giấy tờ có giá
Phân loại giấy tờ có giá và ý nghĩa của việc phân loại
Khái niệm, đặc điểm, phân loại bảo đảm tiền vay bằng giấy
tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Khái niệm bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức
tín dụng
Đặc điểm của bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ
chức tín dụng
Là biện pháp bảo đảm được thiết lập nhằm bảo đảm thực
22
22
23
23
25
26
2.1.1.
2.1.1.1.
2.1.1.2.
2.1.2.
2.2.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
2.3.3.
2.3.4.
2.3.4.1.
2.3.4.2.
2.3.5.
2.3.6.
2.4.
2.5.
2.6.
28
31
32
33
39
39
43
50
51
56
56
56
57
58
59
59
60
62
63
67
70
77
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM
TIỀN VAY BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ TẠI TỔ
CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
29
29
39
TIỀN VAY BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ TẠI TỔ
CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
82
83
90
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau 11 năm đàm phán không mệt mỏi với rất nhiều cam kết song phương
và đa phương cùng các nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),
tháng 11 năm 2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức
này. Đây là một dấu mốc vô cùng quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam.
Vấn đề hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã mở ra nhiều cơ hội to lớn
nhưng cũng đặt ra vô vàn thách thức trong điều kiện mới. Khi nền kinh tế thế
giới có nhiều sự thay đổi đến "chóng mặt", "lúc nóng", "lúc lạnh" sẽ ảnh hưởng
ngay đến nền kinh tế Việt Nam. Chính vì vậy, việc điều tiết nền kinh tế thông
qua các công cụ tài chính ngân hàng luôn được Đảng và Nhà nước ta "quan tâm"
đặt lên hàng đầu. Thông qua các công cụ tài chính ngân hàng, nguồn tiền từ các
Một trong những công cụ để đảm bảo bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà
TCTD áp dụng vào hoạt động cho vay đó là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ trả nợ tiền vay hay còn gọi là bảo đảm tiền vay. Trong hợp đồng cho vay,
ngoài việc thỏa thuận về áp dụng các chế tài như thu hồi nợ trước hạn, lãi suất
nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi quá hạn…, TCTD còn yêu cầu bên vay thực hiện các
biện pháp bảo đảm tiền vay.
Bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá (GTCG) là một trong những biện
pháp bảo đảm được pháp luật công nhận, bảo hộ, được TCTD và bên vay lựa chọn
áp dụng. Hiện nay, pháp luật điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD
ở Việt Nam được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng mới chỉ là
những quy định mang tính chất chung chung như Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005,
vấn đề này, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu về đề tài "Bảo đảm tiền
vay bằng giấy tờ có giá tại các tổ chức tín dụng - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
là TCTD đã tin tưởng và tín nhiệm vào thiện chí cũng như khả năng trả nợ của
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
bên vay. Tuy nhiên, nếu không có những thiết chế, những công cụ đảm bảo việc
Dưới góc độ luật học, pháp luật về GTCG và bảo đảm bằng GTCG đã được
thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay, dự liệu trường hợp bên vay không thực
đề cập đến tại một số công trình nghiên cứu khoa học như:
hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì TCTD sẽ tự đặt mình
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Anh Thơ, bảo vệ thành
trước những "nguy cơ" khó lường khi chính TCTD cũng đi vay (nhận tiền gửi
công năm 2006 về: "Giấy tờ có giá - Một loại tài sản trong quan hệ pháp luật
dân sự";
của khách hàng gửi tiền) để cho vay.
5
6
- Bài viết: "Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng
của các ngân hàng thương mại: một số nhận định từ góc độ pháp lý đến thực
tiễn" của ThS. Nguyễn Thùy Trang đăng tải trên trang web của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam.
Ngoài ra, một số khía cạnh pháp lý liên quan đến nghiệp vụ cho vay trên cơ
sở có bảo đảm bằng cầm cố GTCG, cầm cố chứng khoán tại các TCTD cũng
được nhiều bài báo viết, báo điện tử đăng tải.
Nhưng, các công trình nghiên cứu, các bài trao đổi, bài viết trên đây chỉ
mới dừng lại ở việc phân tích GTCG là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật
dân sự, phân tích về biện pháp bảo đảm bằng GTCG dưới góc độ của một loại
GTCG cụ thể như chứng khoán, hay chỉ mới dừng lại phân tích về một số nhầm
lẫn liên quan đến nhận sổ tiết kiệm làm tài sản bảo đảm như là một loại GTCG.
Qua quá trình tra cứu tài liệu cho thấy, hiện chưa có một công trình khoa học
nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng
GTCG. Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên
cứu để tìm hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn áp dụng bảo
đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD, từ đó thấy được những kết
7
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm tiền
vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam qua việc đưa ra những nhận định khái
hành và thực tế áp dụng bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam.
Trên thế giới, GTCG được quy định từ những năm 1603 tại Pháp lệnh
áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam; tìm
Humburg. Đến nay có rất nhiều văn bản pháp luật, hiệp ước và công ước quy
hiểu và phân tích các tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng GTCG thường phát
định về GTCG liên tiếp được ban hành.
sinh trong hoạt động cho vay có bảo đảm bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam.
- Luận văn kiến nghị, đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam nhằm góp phần xây
dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mang tính khả thi.
Ở Việt Nam, khái niệm GTCG hiện đang được quy định tại nhiều văn bản
pháp luật theo nhiều cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc vào mục đích, phạm vi
điều chỉnh và đối tượng áp dụng của văn bản pháp luật đó.
Tuy nhiên, hiện chưa có một khái niệm "chuẩn", thống nhất về GTCG.
Giấy tờ có giá chỉ được quy định dưới dạng liệt kê các loại giấy tờ được coi là
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng
giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại
tổ chức tín dụng ở Việt Nam.
Chương 3: Một số phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về
phương tiện thanh toán trong thị trường.
toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức,
cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác.
Trên phương diện kinh tế, GTCG là một loại hàng hóa được mua bán, trao
đổi trên thị trường tiền tệ.
Thứ ba, người sở hữu giấy tờ có giá có thể chuyển giao quyền sở hữu giấy
tờ có giá cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự.
Pháp luật dân sự coi GTCG là một loại tài sản vì vậy, người sở hữu GTCG
được quyền chuyển nhượng GTCG cho chủ thể khác theo cách phù hợp với quy
9
10
định của pháp luật. Trừ một số trường hợp pháp luật quy định một số loại GTCG
Giấy tờ có giá sơ cấp là GTCG được mua bán ở thị trường sơ cấp khi người
cụ thể không được chuyển nhượng hoặc hạn chế chuyển nhượng hoặc do tình
mua mua GTCG phát hành để bán lần đầu từ tổ chức phát hành, theo đó vốn từ
trạng pháp lý của GTCG đó tại thời điểm xác lập giao dịch, GTCG chưa thỏa
nhà đầu tư sẽ được chuyển sang tổ chức phát hành. Giấy tờ có giá thứ cấp là
mãn hết các điều kiện để được chuyển nhượng.
và theo phương diện hợp đồng được hiểu theo các nghĩa khác nhau.
Bảo đảm tiền vay theo nghĩa chung nhất là việc TCTD áp dụng các biện
Thứ hai, căn cứ vào chủ thể phát hành GTCG, các GTCG được chia thành
GTCG do TCTD phát hành và GTCG do các tổ chức khác phát hành.
Thứ ba, dựa vào hình thức của GTCG, GTCG được phân thành GTCG ghi
danh (ghi tên) và GTCG vô danh (không ghi tên).
Giấy tờ có giá ghi danh là GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc
ghi sổ có ghi tên người sở hữu. Giấy tờ có giá vô danh là GTCG phát hành theo
hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu.
Thứ tư, căn cứ vào loại công cụ trên thị trường vốn, GTCG được phân
thành GTCG thuộc công cụ nợ và GTCG thuộc công cụ vốn.
Giấy tờ có giá thuộc công cụ nợ là loại GTCG xác nhận nghĩa vụ trả nợ của
tổ chức phát hành đối với người sở hữu GTCG đó. Giấy tờ có giá thuộc công cụ vốn
là loại GTCG xác nhận vốn góp của người sở hữu GTCG tại tổ chức phát hành.
Thứ năm, căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, GTCG được phân
thành GTCG sơ cấp và GTCG thứ cấp.
pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các
khoản nợ đã cho bên vay.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc bên bảo đảm dùng tài sản thuộc
quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ vay của bên
vay đối với TCTD.
Bảo đảm tiền vay bằng GTCG là biện pháp bảo đảm tiền vay mà bên bảo đảm
dùng tài sản là GTCG thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ
vay của bên vay với TCTD thông qua việc ký kết hợp đồng bảo đảm bằng GTCG.
1.2.2. Đặc điểm của bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Bảo đảm tiền vay có 03 đặc điểm cơ bản.
1.2.2.1 Là biện pháp bảo đảm được thiết lập nhằm bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay vốn đối với bên cho vay là tổ chức tín dụng.
tuân thủ các tỷ lệ và giới hạn để đảm bảo an toàn trong hoạt động chung và hoạt
động cho vay có bảo đảm bằng GTCG.
Ba đặc điểm trên đây của bảo đảm tiền vay bằng GTCG là cơ sở để phân biệt
bảo đảm tiền vay bằng GTCG với bảo đảm tiền vay bằng tài sản khác tại TCTD, với
các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự khác không có sự tham gia của TCTD.
1.2.3 Phân loại bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Dựa vào khái niệm, đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự, bảo đảm tiền vay bằng GTCG gồm có cầm cố GTCG, thế chấp
GTCG và ký quỹ bằng GTCG.
Dựa theo quy định tại các văn bản pháp luật về giao dịch bảo đảm và
GTCG, bảo đảm tiền vay bằng GTCG chỉ là cầm cố GTCG.
1.4.1. Khái quát pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ
chức tín dụng
Trước những năm 1990, việc phát hành các giấy tờ này vẫn còn là vấn đề
mới mẻ đối với Việt Nam. Từ năm 1990 đến nay, rất nhiều văn bản liên quan
đến bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD được ban hành. Tuy nhiên, pháp
luật chưa thiết lập được quy chế pháp lý chuẩn, đầy đủ và thống nhất cho bảo
đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD.
1.4.2. Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại
tổ chức tín dụng
Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD là tổng hợp
các quy định pháp luật điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD.
1.4.2.1. Quy định của pháp luật về loại giấy tờ có giá được dùng làm tài
sản bảo đảm
Loại GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm được ghi nhận tại nhiều văn
bản pháp luật khác nhau. Nhưng, pháp luật hiện hành chỉ quy định theo hướng
liệt kê các loại GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm, bên cạnh quy định về một
số GTCG cụ thể không được dùng làm tài sản bảo đảm tiền vay tại TCTD.
Các điều kiện của GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm hiện được quy
bằng GTCG tại TCTD phải tuân theo quy định chung của pháp luật (Bộ luật Tố
bảo đảm. Thủ tục công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay bằng
tụng dân sự năm 2004, Luật Trọng tài thương mại năm 2010) về thẩm quyền,
GTCG tại TCTD không phải là thủ tục bắt buộc. Các thủ tục này được thực hiện
trình tự, thủ tục tố tụng và pháp luật điều chỉnh nội dung giao dịch.
theo thỏa thuận của các bên trong giao dịch nếu họ thấy cần thiết.
1.4.2.3. Quy định của pháp luật về hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ
Việc làm rõ, "giải quyết" thấu đáo các vấn đề lý luận của pháp luật về bảo
đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD như trên có ý nghĩa là tiền đề, là cơ sở vững
chắc cho "công cuộc" xây dựng, hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về
có giá
Theo BLDS năm 2005, biện pháp cầm cố hay thế chấp khác nhau ở việc
vấn đề này vào thực tiễn.
bên bảo đảm có thực hiện chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm
hay không. Vì vậy, giấy tờ có giá có thể dùng để cầm cố hoặc thế chấp.
Chương 2
Tuy nhiên, tại các văn bản pháp luật khác lại mặc nhiên xác định GTCG chỉ
sử dụng để cầm cố, phải xác lập hợp đồng cầm cố GTCG. Trên thực tế, các TCTD
2.1.1 Các điều kiện khi tổ chức tín dụng nhận giấy tờ có giá làm tài sản bảo
đảm tiền vay
2.1.1.1 Điều kiện về chủ thể - bên bảo đảm
Thứ nhất, bên bảo đảm phải có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi
dân sự.
GTCG còn được thực hiện theo quy định riêng về thủ tục thông báo xử lý GTCG
Thứ hai, bên bảo đảm phải là tổ chức/cá nhân đó không thuộc trường hợp
và về cách thức xử lý GTCG. Việc xử lý loại GTCG cụ thể được thực hiện theo
mà pháp luật (như Luật Các TCTD) cấm hoặc hạn chế làm bên bảo đảm cho bên
quy định của pháp luật về GTCG đó.
vay tại TCTD.
1.4.2.5. Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan đến bảo
Thứ ba, bên bảo đảm phải là chủ sở hữu hợp pháp GTCG hoặc là ngƣời
được ủy quyền theo quy định của pháp luật thay mặt chủ sở hữu định đoạt GTCG.
đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
Pháp luật hiện hành không có quy định riêng trong giải quyết tranh chấp về
Trên thực tế, các TCTD cũng thường đặt ra các điều kiện đối với bên bảo
bảo đảm tiền vay bằng GTCT tại TCTD. Các tranh chấp về bảo đảm tiền vay
đảm. Hầu hết các TCTD đều nhầm lẫn khi cho rằng chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết
kiệm là một loại GTCG nên xác lập giao dịch cầm cố chính sổ tiết kiệm, chứng
chỉ tiền gửi như nhận cầm cố GTCG.
khả năng" đảm bảo tức là xác định mức cho vay hợp lý.
Thứ hai, tổ chức tín dụng chỉ nhận những GTCG thỏa mãn các điều kiện
theo quy định của pháp luật và theo quy định của TCTD đã đặt ra làm tài sản
bảo đảm. Các điều kiện về giấy tờ có giá nhận cầm cố tựu trung lại bao gồm:
điều kiện về chủ thể phát hành GTCG, về tình trạng sở hữu GTCG và các điều
kiện khác về tính nguyên vẹn của GTCG.
Xuất phát từ thực trạng quy định không đầy đủ và thiếu rõ ràng của pháp luật
hiện hành về điều kiện của GTCG dùng làm tài sản bảo đảm. Nên nhằm chắc chắn
GTCG nhận bảo đảm thỏa mãn các điều kiện đã đặt ra, các TCTD áp dụng cách thức
khác nhau để thẩm định, kiểm tra GTCG. Vì vậy, cần có văn bản pháp luật quy định
cụ thể về điều kiện của GTCG, cách thức kiểm tra, thẩm định GTCG dùng làm tài
sản bảo đảm, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho TCTD thực hiện trên thực tế.
2.1.2. Trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá tại tổ chức
tín dụng
Trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm là GTCG chưa được quy định riêng
tại bất kỳ văn bản pháp luật nào. Trên thực tế, căn cứ vào những quy định của
pháp luật về nhận tài sản bảo đảm như BLDS năm 2005, Nghị định số 163, Nghị
định số 83, các TCTD đều tự xây dựng các quy định, hướng dẫn về trình tự, thủ
17
Việc định giá GTCG là cơ sở để xác định phạm vi nghĩa vụ mà GTCG "có
Tùy thuộc vào việc đánh giá, nhận định mức độ rủi ro về biến động giá trị
của GTCG, các TCTD đưa ra cách thức xác định và áp dụng các mức cho vay
khác nhau so với giá trị GTCG.
Bên nhận cầm cố trong hợp đồng cầm cố chính là TCTD cho vay. Bên cầm
cố trong hợp đồng cầm cố là chủ sở hữu hợp pháp GTCG, có thể là cá nhân hoặc
tổ chức, thường chính là bên vay hoặc là bên thứ ba có GTCG đem cầm cố.
Thực tế trong trường hợp bên cầm cố là cá nhân trong thời kỳ hôn nhân mà
GTCG chỉ đứng tên vợ hoặc chồng, TCTD gặp khó khăn trong việc xác định
thẩm quyền ký kết hợp đồng cầm cố GTCG với tư cách của bên cầm cố.
2.3.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo đảm
Quyền, nghĩa vụ của bên cầm cố, bên nhận cầm cố GTCG được xác lập
theo thỏa thuận hợp pháp của các bên và theo quy định của pháp luật.
2.3.4.1 Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố
Hợp đồng cầm cố GTCG tại TCTD thường được xác lập theo mẫu của
TCTD. Vì vậy, trong hợp đồng cầm cố GTCG, nghĩa vụ của bên cầm cố được
ghi nhận rất cụ thể. Trong khi quyền của bên cầm cố lại được quy định "sơ sài",
thường chỉ gồm các quyền như được nhận lại GTCG cầm cố và các giấy tờ liên
quan khi đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, nhận lại số tiền thừa thu được từ việc xử
lý GTCG để thu hồi nợ vay.
2.3.4.2 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố
Ngược lại với các quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố là nghĩa vụ và quyền
của bên nhận cầm cố. Bên nhận cầm cố có các quyền và nghĩa vụ liên quan đến
quản lý GTCG, xử lý GTCG hoặc quyền thu hồi nợ vay khi bên cầm cố thực
hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ tiền vay. Nghị định số 163 có
một số quy định cụ thể về quyền của bên nhận cầm cố trong việc yêu cầu người
phát hành GTCG hoặc Trung tâm Lưu ký chứng khoán đảm bảo quyền giám
sát của bên nhận cầm cố đối với giá trị tài sản ghi trên giấy tờ đó.
19
2.3.5. Hiệu lực của hợp đồng bảo đảm
Theo quy định của pháp luật hiện hành và trên thực tế áp dụng, việc TCTD
nhận bảo đảm bằng GTCG chỉ được thực hiện theo biện pháp cầm cố, các bên
20
2.5. Xử lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá
Pháp luật hiện hành quy định rõ các căn cứ để bên bảo đảm thực hiện quyền
xử lý tài sản bảo đảm, các nguyên tắc, phương thức, trình tự thủ tục thu giữ và
xử lý tài sản bảo đảm. Việc xử lý GTCG cụ thể thực hiện theo quy định của
pháp luật về GTCG đó.
Thực tế, các bên thường dự liệu các trường hợp xử lý GTCG khi giá trị của
GTCG xuống thấp hơn mức giá trị nhất định do TCTD đã quy định và xử lý
GTCG theo yêu cầu của chính bên bảo đảm để thanh toán nợ vay cho bên vay.
Phương thức xử lý tài sản bảo đảm là GTCG được các TCTD áp dụng khác
nhau phù hợp với từng loại GTCG. Việc TCTD xử lý GTCG bằng cách "bán tháo"
GTCG khi giá trị của GTCG đang trong tình trạng giảm, càng làm cho giá trị của
GTCG đi xuống, ảnh hưởng đến tính thanh khoản của thị trường chứng khoán.
2.6. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng
giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng GTCG trong thực tế thường phát sinh từ
nguyên nhân do bên bảo đảm có tranh chấp về giao dịch mua bán GTCG với bên
bán hay tổ chức phát hành GTCG; do các TCTD "bán tháo" GTCG để thu hồi nợ;...
Một số vụ việc tranh chấp xảy ra trong thực tế được nêu tại luận văn nhằm làm rõ
nguyên nhân và thực trạng tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD.
Theo pháp luật hiện hành, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tranh chấp về bảo
đảm tiền vay thực hiện theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
Chương 3
MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ
TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
được lợi ích của các bên trong bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD.
vay bằng GTCG tại các TCTD ở Việt Nam phải xuất phát từ chính thực tiễn của
21
22
trong việc xác định phương hướng hoàn thiện pháp luật.
Hai là, về yêu cầu nội tại của quan hệ bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam.
Việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền
quan hệ bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam, xuất phát từ yêu
cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể trong các quan hệ này.
Cuối cùng, về yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng của Việt Nam.
Pháp luật phải phải có nhiều quy định được xây dựng trên cơ sở các chuẩn
quan đến GTCG. Khái niệm GTCG có thể được xây dựng theo hướng: GTCG trong
mực pháp lý quốc tế để phù hợp, tương thích với pháp luật của các nước trong
quan hệ pháp luật dân sự được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận
khu vực và trên thế giới trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài
quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lý với chủ
nhận tài sản bảo đảm là GTCG đặc biệt là loại GTCG đã niêm yết, trong đó xác
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại
TCTD cùng với pháp luật về hình sự, tố tụng dân sự, hành chính và đi đôi với
việc thiết lập các cơ chế hướng dẫn, phối hợp, giám sát, đảm bảo thực thi các
quy định về bảo đảm tiền vay bằng GTCG trên thực tế.
3.3 Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay
bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Các giải pháp được kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật
về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại các TCTD ở Việt Nam là:
3.3.1. Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật về bảo đảm
tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Thứ nhất, cần xây dựng khái niệm GTCG với tư cách là một loại tài sản
trong hệ thống pháp luật dân sự cũng như các thuộc tính của nó.
định rõ các trình tự, thủ tục nhận GTCG làm tài sản bảo đảm, cách thức định giá
GTCG, dự liệu xử lý các trường hợp GTCG tăng, giảm giá trị,...
Cuối cùng, hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp về bảo đảm
tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam. Pháp luật phải xây dựng được các
chế tài xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm; xây dựng cơ chế giải quyết
tranh chấp về đảm tiền vay bằng GTCG một cách nhanh chóng, theo trình tự rút gọn.
3.3.2. Xây dựng cơ chế đồng bộ nhằm hỗ trợ, hướng dẫn, quản lý giám
sát và bảo đảm thực hiện trên thực tế bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại
tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Hệ thống pháp luật điều chỉnh liên quan đến biện pháp này phải được thiết
lập theo một thể thống nhất, đồng bộ, tạo nên sức mạnh tổng hợp. Các giải pháp
đề xuất cụ thể cho vấn đề này là:
Cần phải thống nhất pháp luật điều chỉnh về GTCG. Khái niệm và các thuộc
thống nhất và trên cơ sở các giải pháp hoàn thiện rõ ràng, đồng bộ.
KẾT LUẬN
pháp bảo đảm tiền vay bằng GTCG vẫn còn nhiều hạn chế khi áp dụng vào thực
tiễn, dẫn đến việc biện pháp này đã không còn được coi là biện pháp hữu hiệu,
an toàn để các TCTD áp dụng vào hoạt động cho vay của mình. Bảo đảm tiền
vay bằng GTCG ngày càng mất đi vị trí ưu thế so với hàng loạt các biện pháp
bảo đảm bằng các loại tài sản khác như biện pháp thế chấp bất động sản, thế
chấp quyền tài sản… Do đó, hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo đảm
tiền vay bằng GTCG là một đòi hỏi tất yếu và cấp thiết. Tuy nhiên, việc hoàn
thiện cả hệ thống pháp luật cồng kềnh không phải là việc dễ dàng, hay có thể
hoàn thành trong ngày một, ngày hai. Việc hoàn thiện pháp luật đòi hỏi cả một
quá trình dài, phải được thực hiện theo những bước, lộ trình cụ thể kèm theo
việc hoàn thiện các thiết chế khác trong đời sống kinh tế - xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của biện pháp bảo đảm tiền vay bằng
GTCG đối với hoạt động của TCTD và đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn
trong xã hội, luận văn đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng
về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại các TCTD ở Việt Nam. Qua nghiên cứu
luận văn có thể khái quát các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến bảo đảm tiền
vay bằng GTCG, cũng như nắm bắt được hệ thống văn bản pháp luật hiện hành
điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng GTCG, từ đó thấy được những thuận lợi
cũng như các khó khăn, vướng mắc, bất cập khi áp dụng các quy định pháp luật
Qua quá trình nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng
biện pháp bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại các TCTD có thể nhận thấy vai trò
rất lớn của biện pháp này trong hoạt động cho vay của TCTD cũng như trong
đời sống xã hội. Đối với TCTD, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng GTCG là một
này vào thực tiễn hoạt động tại các TCTD ở Việt Nam.
Để lý giải cặn kẽ, thấu đáo các khía cạnh pháp lý về bảo đảm tiền vay bằng
chính ngân hàng, của các luật gia, luật sư, của các nhà nghiên cứu khoa học pháp
26