Bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại các tổ chức tín dụng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 25



4 Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ
BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ TẠI
TỔ CHỨC TÍN DỤNG
7
1.1.
Khái niệm, đặc điểm, phân loại giấy tờ có giá
7
1.1.1.
Khái niệm giấy tờ có giá
7
1.1.2.
Đặc điểm của giấy tờ có giá

tín dụng
28
1.4.
Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có
giá tại tổ chức tín dụng
29
1.4.1.
Khái quát pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
tại tổ chức tín dụng
29
1.4.2.
Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có
31 5
giá tại tổ chức tín dụng
1.4.2.1.
Quy định của pháp luật về loại giấy tờ có giá được dùng
làm tài sản bảo đảm
32
1.4.2.2.
Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo
đảm tiền vay là giấy tờ có giá
33
1.4.2.3.
Quy định của pháp luật về hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng
giấy tờ có giá
34
1.4.2.4.

2.2.
Phạm vi bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
51
2.3.
Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức
tín dụng
56
2.3.1.
Loại hợp đồng bảo đảm được ký kết
56
2.3.2.
Đối tượng của hợp đồng bảo đảm
56
2.3.3.
Các bên chủ thể của hợp đồng bảo đảm
57
2.3.4.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo đảm
58
2.3.4.1.
Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố
59
2.3.4.2.
Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố
59 6
2.3.5.
Hiệu lực của hợp đồng bảo đảm

tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
82
3.3.1.
Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật về bảo
đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
83
3.3.2.
Xây dựng cơ chế đồng bộ nhằm hỗ trợ, hướng dẫn, quản lý
giám sát và bảo đảm thực hiện trên thực tế bảo đảm tiền vay
bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
90

KẾT LUẬN
92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
94 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7



1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau 11 năm đàm phán không mệt mỏi với rất nhiều cam kết song
phương và đa phương cùng các nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO), tháng 11 năm 2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên
của tổ chức này. Đây là một dấu mốc vô cùng quan trọng trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Vấn đề hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã mở ra nhiều cơ hội to lớn
nhưng cũng đặt ra vô vàn thách thức trong điều kiện mới. Khi nền kinh tế thế
giới có nhiều sự thay đổi đến "chóng mặt", "lúc nóng", "lúc lạnh" sẽ ảnh
hưởng ngay đến nền kinh tế Việt Nam. Chính vì vậy, việc điều tiết nền kinh tế
thông qua các công cụ tài chính ngân hàng luôn được Đảng và Nhà nước ta
"quan tâm" đặt lên hàng đầu. Thông qua các công cụ tài chính ngân hàng,
nguồn tiền từ các tổ chức tín dụng (TCTD) được thúc đẩy "bơm" ra thị trường
hoặc yêu cầu "thắt chặt" lại. Để thực hiện được mục tiêu này thì tất yếu phải
thông qua việc điều tiết hoạt động tín dụng (cho vay) của các tổ chức tín dụng.
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đóng vai trò vô cùng quan
trọng đối với đời sống kinh tế xã hội. Việc đảm bảo an toàn trong hoạt động
cho vay của TCTD ở Việt Nam là rất cần thiết, vì chỉ cần một TCTD có dấu
hiệu không tốt sẽ có khả năng ảnh hưởng "dây chuyền" đến hoạt động của các
TCTD khác, từ đó sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội.
Trong quan hệ cho vay, hợp đồng vay giữa TCTD và bên vay được
thiết lập thông qua quá trình thương thảo giữa hai bên và là kết quả của quá
trình TCTD thực hiện thẩm định bên vay. Khi TCTD đồng ý "cấp vốn" cho
bên vay có nghĩa là TCTD đã tin tưởng và tín nhiệm vào thiện chí cũng như
khả năng trả nợ của bên vay. Tuy nhiên, nếu không có những thiết chế, những
công cụ đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay, dự liệu trường 9

10
"Bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại các tổ chức tín dụng - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ luật học, pháp luật về GTCG và bảo đảm bằng GTCG đã
được đề cập đến tại một số công trình nghiên cứu khoa học như:
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Anh Thơ, bảo vệ
thành công năm 2006 về: "Giấy tờ có giá - Một loại tài sản trong quan hệ
pháp luật dân sự";
- Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Điệp, bảo vệ
thành công năm 2010 về: "Giấy tờ có giá - Một loại tài sản theo quy định
pháp luật hiện hành";
- Đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm nghiên cứu khoa học về: "Một
số kiến nghị nhằm triển khai và phát triển nghiệp vụ cầm cố chứng khoán trên
thị trường chứng khoán Việt Nam".
Bên cạnh đó, một số bài trao đổi, nghiên cứu liên quan đến giao dịch
bảo đảm bằng GTCG được đăng tải trên một số trang web và tạp chí chuyên
ngành tài chính ngân hàng như:
- Bài viết:"Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả Nguyễn Văn Phương đăng trên Tạp chí
Ngân hàng số 11/2007;
- Bài viết: "Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín
dụng của các ngân hàng thương mại: một số nhận định từ góc độ pháp lý đến
thực tiễn" của ThS. Nguyễn Thùy Trang đăng tải trên trang web của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngoài ra, một số khía cạnh pháp lý liên quan đến nghiệp vụ cho vay
trên cơ sở có bảo đảm bằng cầm cố GTCG, cầm cố chứng khoán tại các
TCTD cũng được nhiều bài báo viết, báo điện tử đăng tải.

12
4. Phạm vi của việc nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật hiện hành điều chỉnh về bảo
đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam đặt trong mối quan hệ với
pháp luật về GTCG và các văn bản pháp lý chuyên ngành tài chính ngân hàng
điều chỉnh hoạt động cho vay của TCTD. Từ đó, làm nổi bật các đặc trưng
của bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD so với các biện pháp bảo đảm
dân sự khác và so với các biện pháp bảo đảm tiền vay khác. Đồng thời nghiên
cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này, để phát hiện các tồn tại, bất
cập và kiến nghị phương hướng khắc phục, hoàn thiện.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Với mục đích triển khai những nội dung cơ bản của luận văn, tác giả
đã vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và
các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh … để lý
giải những vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Là công trình nghiên cứu pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG
tại TCTD ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật một cách cụ thể, luận
văn có những đóng góp mới là:
- Trình bày, phân tích một cách khoa học và có hệ thống các vấn đề lý
luận cơ bản của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD.
- Nêu và phân tích nguyên nhân, đánh giá thực trạng pháp luật và thực
tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt
Nam; tìm hiểu và phân tích các tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng GTCG
thường phát sinh trong hoạt động cho vay có bảo đảm bằng GTCG tại TCTD
ở Việt Nam.
- Luận văn kiến nghị, đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện
pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam nhằm góp
phần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mang tính khả thi.

thuật ngữ khác cũng thường xuyên được đề cập đến như cổ phiếu, trái phiếu,
kỳ phiếu, tín phiếu, hối phiếu, chứng khoán, công cụ chuyển nhượng …. Vậy,
GTCG là gì? Cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng khoán, CCCN
có phải là GTCG hay không?
Theo nghĩa chung nhất, "giấy tờ có giá nói chung được hiểu là chứng
chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể
nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể
khác" [32].
Trên phương diện kinh tế, GTCG là một loại hàng hóa được mua bán,
trao đổi trên thị trường tiền tệ, gồm rất nhiều loại như trái phiếu, tín phiếu,
công trái do Chính phủ phát hành; cổ phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu và
các GTCG khác do TCTD và các doanh nghiệp khác phát hành; …
Xét trên phương diện pháp lý, giấy tờ có giá được quy định tại nhiều
văn bản pháp luật khác nhau. 15
Trên thế giới, văn bản đầu tiên quy định về GTCG ở dạng hối phiếu ra
đời vào năm 1603 đó là Pháp lệnh Humburg. Đây là pháp lệnh được ban hành
trên cơ sở tập quán thương mại về phát hành và sử dụng thương phiếu. Năm
1874, Pháp lệnh chung về hối phiếu Đức đã được tập hợp hóa từ 55 pháp lệnh
hối phiếu của từng bang riêng rẽ. Đến năm 1882, Vương Quốc Anh ban hành
Luật hối phiếu (Bill of Exchange Act 1882). Sau năm 1930, năm ký kết công
ước Giơ-ne-vơ về hối phiếu một loạt quốc gia đã lần lượt ban hành luật hối
phiếu của quốc gia mình cho dù có gia nhập hay không gia nhập Công ước
1930 về hối phiếu. Đến năm 1988, Hiệp ước thống nhất về hối phiếu đòi nợ
và hối phiếu nhận nợ quốc tế đã được Ủy ban Luật thương mại Liên hợp quốc
(gọi tắt là UNCITRAL) soạn thảo và được Đại Hội đồng Liên Hợp quốc
thông qua trong khóa họp toàn thể lần thứ 43 ngày 9/12/1988.
Ở Việt Nam, khái niệm GTCG hiện đang được đề cập tại nhiều văn

hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền
trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết
khác giữa tổ chức tín dụng và người mua" [12, Khoản 1 Điều 4].
Cũng quy định về hoạt động huy động vốn của các tổ chức phát hành,
Luật Chứng khoán đã xác lập khái niệm "chứng khoán". Theo đó, chứng
khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể
hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm
các loại sau đây: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần,
chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm
chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại
chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định. Từ khái niệm này cho thấy, Luật
Chứng khoán chỉ làm rõ chứng khoán là gì, gồm những loại nào, còn việc nó
có phải là một loại GTCG hay không thì pháp luật về chứng khoán còn bỏ
ngỏ. Mặc dù, trong phần liệt kê các loại chứng khoán thì một số loại chứng
khoán cũng thuộc diện được liệt kê là GTCG tại BLDS năm 2005, ví dụ như
cổ phiếu, trái phiếu. 17
Trong lĩnh vực tố dụng dân sự, Tòa án nhân dân Tối cao cũng có
hướng dẫn về cách nhận diện, xác định các loại GTCG. Theo hướng dẫn của
Tòa án Nhân dân Tối cao thì GTCG bao gồm:
Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển
nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật Các công cụ
chuyển nhượng năm 2005; trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty,
kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của
Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005; tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu,
công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy
định tại điểm 16 Điều 3 của Luật Quản lý nợ công năm 2009; các

sản khác.
Mặc dù, BLDS năm 2005 không hề có điều khoản nào quy định rõ
GTCG có những đặc điểm nào đó để phân biệt với các loại tài sản khác cũng
như đối với các loại giấy tờ khác. Tuy nhiên, từ việc kết nối các định nghĩa về
GTCG tại các văn bản pháp luật thực định, cũng như từ việc phân tích ở
phương diện ngôn ngữ của thuật ngữ GTCG có thể thấy rằng GTCG có ba
đặc điểm, thuộc tính cơ bản là: (1) Xác nhận quyền tài sản của một chủ thể
xác định; (2) Trị giá được bằng tiền; và (3) Có thể chuyển giao quyền sở hữu
cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự.
Thứ nhất, giấy tờ có giá xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định.
Xét về mặt ngôn ngữ, bản thân thuật ngữ GTCG ngay khi được
"xướng tên" đã tự nó "toát lên" những đặc điểm riêng biệt để nhận biết, trước
tiên nó là một loại giấy tờ có giá trị và thứ đến giá trị của nó có thể trị giá
được bằng tiền.
Giấy tờ có giá là tài sản và bản thân nó là bằng chứng xác nhận quyền
tài sản của một chủ thể xác định. Theo Điều 181 BLDS năm 2005 thì quyền
tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch
dân sự. Đặc điểm này của GTCG được thể hiện rất rõ trong quy định tại các 19
văn bản pháp luật thực định như Luật NHNN, Quy chế phát hành GTCG,
Luật CCCCN, Luật Chứng khoán. Tuy nhiên, việc xác nhận quyền tài sản của
người sở hữu các loại GTCG khác nhau sẽ có những nét đặc trưng riêng.
Trong phạm vi hoạt động của NHNN và các TCTD, GTCG được quy
định dựa trên góc độ đây là loại giấy tờ mà các tổ chức phát hành để huy động
vốn. Cụ thể, theo Luật NHNN thì: "Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận
nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy
tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện
khác" [30, khoản 8 Điều 6].

người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn góp của tổ chức phát hành. Theo
quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán thì chứng khoán là bằng
chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản
hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
Tùy thuộc vào loại chứng khoán khác nhau (cổ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền
chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán hay
hợp đồng góp vốn đầu tư) mà quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu chứng
khoán loại đó sẽ có nội dung và phạm vi khác nhau. Ví dụ, loại chứng khoán là
"Quyền mua cổ phần" sẽ "mang lại cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phần
mới theo điều kiện đã được xác định" [22, khoản 6 Điều 6] còn loại chứng khoán
là "Hợp đồng góp vốn đầu tư" sẽ "mang lại cho người góp vốn lợi nhuận và
được phép chuyển đổi thành chứng khoán khác" [26, khoản 8a Điều 6].
Như vậy, giấy tờ có giá dù là loại nào đi nữa thì cũng luôn mang đặc
điểm là bằng chứng xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định, tuy rằng
nội dung và phạm vi của quyền tài sản mà loại GTCG đó ghi nhận là không
giống nhau.
Thứ hai, giấy tờ có giá trị giá được bằng tiền.
Một trong những đặc điểm nổi bật khác của GTCG đó là GTCG có thể
trị giá được bằng tiền, nghĩa là có thể hoán đổi GTCG thành tiền. 21
Thật vậy, qua khái niệm về GTCG như đã phân tích ở trên có thể thấy
rằng vì bản thân GTCG xác nhận quyền yêu cầu trả nợ, quyền yêu cầu thanh
toán một khoản tiền trong một thời hạn nhất định và khoản tiền đó luôn được
xác định rõ trên GTCG nên GTCG có thể trị giá bằng tiền.
Đặc điểm trị giá được bằng tiền của GTCG thể hiện rất rõ trong các
mối quan hệ pháp lý liên quan đến GTCG như quan hệ giữa người sở hữu
GTCG với tổ chức phát hành GTCG để huy động vốn, quan hệ chiết khấu, tái

tức là người sở hữu GTCG có thể chuyển giao quyền sở hữu GTCG cho chủ
thể khác trong giao dịch dân sự.
Pháp luật hiện hành xem GTCG là một loại tài sản, vì vậy, người sở
hữu GTCG được quyền chuyển nhượng GTCG cho chủ thể khác theo cách
thức và thông qua các hình thức giao dịch phù với quy định của pháp luật như
mua, bán, cho, tặng, trao đổi, thừa kế,
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người sở hữu GTCG đều
có thể tự do chuyển nhượng quyền sở hữu GTCG đó cho người khác. Thực tế,
việc chuyển nhượng quyền sở hữu GTCG trong nhiều trường hợp là không
được thực hiện hoặc thực hiện trong những điều kiện, giới hạn nhất định.
Việc một GTCG không được hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thường
do loại GTCG đó thuộc trường hợp pháp luật quy định không được chuyển
nhượng. Các văn bản pháp luật hiện hành như Luật CCCCN, Luật Doanh
nghiệp, Quy chế phát hành GTCG, Luật Các TCTD … quy định rất cụ thể các
trường hợp cấm hoặc hạn chế chuyển nhượng GTCG, đặc biệt GTCG là cổ
phiếu hoặc CCCN.
Ngoài ra, giấy tờ có giá không được hoặc bị hạn chế chuyển nhượng
do tình trạng pháp lý của GTCG đó tại thời điểm xác lập giao dịch chuyển
nhượng chưa thỏa mãn hết các điều kiện để được tham gia giao dịch (ví dụ, cổ
phiếu mà cổ đông chưa thanh toán hết tiền mua cổ phiếu hoặc cổ phiếu mà
các bên thỏa thuận không được dùng làm tài sản bảo đảm). 23
Việc xem xét một loại GTCG cụ thể có được tự do chuyển nhượng
cho chủ thể khác hay không có ý nghĩa hết sức quan trọng trong các giao dịch
dân sự liên quan đến GTCG như giao dịch tặng, cho, mua bán, giao dịch bảo
đảm bằng GTCG. Nếu một người sở hữu loại GTCG thuộc diện không được
chuyển nhượng hoặc hạn chế chuyển nhượng thì người đó sẽ không thể chuyển
nhượng GTCG đó cho chủ thể khác hay nếu muốn chuyển nhượng thì phải thỏa

dịch chiết khấu, tái chiết khấu GTCG thì "thời hạn chiết khấu, tái chiết khấu
không vượt quá thời hạn còn lại của giấy tờ có giá" [11, Khoản 1 Điều 9].
Thứ hai, căn cứ vào chủ thể phát hành GTCG, các GTCG được chia
thành GTCG do TCTD phát hành và GTCG do các tổ chức khác phát hành.
Giấy tờ có giá do TCTD phát hành là chứng nhận của TCTD phát
hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong
một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa
TCTD và người mua bao gồm tín phiếu, trái phiếu và các GTCG khác.
Các tổ chức khác phát hành GTCG như doanh nghiệp, Bộ Tài chính,
Kho bạc Nhà nước, Ủy ban nhân dân. Các loại GTCG do các tổ chức này phát
hành chủ yếu là trái phiếu, cổ phiếu (đối với doanh nghiệp) và có thể liệt kê
một số loại GTCG như dưới đây:
- Trái phiếu doanh nghiệp: "là loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp
phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi, và các nghĩa vụ khác (nếu có) của
doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu" [2, Khoản 1 Điều 2].
- Trái phiếu Chính phủ: "là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành
nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình,
dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước" [5, Khoản 1 Điều 2].
- Trái phiếu chính quyền địa phương: "là loại trái phiếu do Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh) phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư của
địa phương" [5, Khoản 3 Điều 2]. 25
- Tín phiếu kho bạc: "là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 13 tuần,
26 tuần hoặc 52 tuần và đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam. Các kỳ hạn khác
của tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính quyết định tùy theo nhu cầu sử dụng vốn
và tình hình thị trường nhưng không vượt quá 52 tuần" [5, khoản 1 Điều 10].
- Trái phiếu kho bạc: "là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một

đối tượng này thực hiện thủ tục xin chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền (Khoản 1 Điều 14 Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN ngày 4 tháng 9
năm 2001 của Thống đốc NHNN quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và
vốn điều lệ của ngân hàng thương mại nhà nước và nhân dân).
Đối với GTCG vô danh, trên GTCG không ghi tên người sở hữu, giấy
tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ nó. Do đó, việc
chuyển quyền sở hữu GTCG vô danh sẽ đơn giản hơn so với chuyển giao
quyền sở hữu GTCG ghi danh, không cần thông qua thủ tục đăng ký, xác
nhận của cơ quan phát hành GTCG. Ngoài ra, vì GTCG vô danh thuộc quyền
sở hữu của người nắm giữ GTCG nên pháp luật quy định người sở hữu
GTCG vô danh phải tự chịu trách nhiệm về việc bảo quản GTCG và tổ chức
phát hành sẽ không chịu trách nhiệm trong các trường hợp GTCG vô danh bị
mất cắp hoặc bị sử dụng với mục đích lừa đảo (Khoản 6 Điều 6 Điều lệ mẫu
áp dụng cho các công ty niêm yết trên sở giao dịch/trung tâm giao dịch chứng
khoán ban hành kèm theo Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19 tháng 03
năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).
Thứ tư, căn cứ vào loại công cụ trên thị trường vốn, GTCG được phân
thành GTCG thuộc công cụ nợ và GTCG thuộc công cụ vốn.
Một tài sản tài chính mang lại cho người nắm giữ nó "quyền hưởng
một khối lượng tiền cố định, được ấn định trước", được gọi là công cụ nợ
(debt instrument), như trái phiếu kho bạc, trái phiếu công ty, hay các khoản
cho vay. Một tài sản tài chính mà buộc người phát hành phải trả cho người
nắm giữ "một số tiền căn cứ vào lợi nhuận thu được (nếu có)", sau khi đã
thanh toán xong những khoản nghĩa vụ, được gọi là công cụ vốn (equity
instrument), như cổ phiếu. 27
Nếu xét về mặt hình thức cũng như bản chất của GTCG, thì GTCG
thuộc công cụ nợ là loại GTCG có mệnh giá, có thời hạn, có lãi suất, xác nhận

cử người vào Hội đồng quản trị của tổ chức phát hành, …).
Xét trong mối quan hệ về đảm bảo tiền vay bằng GTCG, bên cho vay
cũng đưa ra những chính sách nhận bảo đảm khác nhau đối với các loại
GTCG khác nhau. Thường thì bên cho vay sẽ ưu tiên nhận tài sản bảo đảm là
GTCG thuộc công cụ nợ để giảm thiểu rủi ro vì tính ổn định và được đảm bảo
giá trị của loại GTCG này. Các loại GTCG thuộc công cụ vốn luôn được bên
cho vay xem xét, cân nhắc rất cẩn thận.
Thứ năm, căn cứ vào sự luân chuyển nguồn vốn, GTCG được phân
thành GTCG sơ cấp và GTCG thứ cấp.
Giấy tờ có giá sơ cấp là GTCG được tiến hành mua bán ở thị trường
sơ cấp khi người mua mua được GTCG phát hành để bán lần đầu từ tổ chức
phát hành theo đó vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang tổ chức phát hành
thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
Giấy tờ có giá thứ cấp là GTCG được tiến hành mua bán ở thị trường
thứ cấp khi GTCG được phát hành ở thị trường sơ cấp đã được mua đi bán lại
một hoặc nhiều lần theo đó nguồn vốn từ nhà đầu tư này sẽ được chuyển sang
nhà đầu tư kia.
Cuối cùng, căn cứ vào chức năng thanh toán trên thị trường, GTCG
được phân thành GTCG như tiền và GTCG khác.
Giấy tờ có giá như tiền là GTCG có thể làm phương tiện thanh toán
trong các giao dịch thanh toán. Giấy tờ có giá như tiền được pháp luật hiện
hành coi là một loại tiền tệ. Theo đó, Khoản 1 điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật NHNN (số 10/2003/QH11 ngày 17/6/2003) trước đây
quy định: Tiền tệ là phương tiện thanh toán, bao gồm tiền giấy, kim loại và
các GTCG như tiền.
Mặc dù các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể
GTCG như tiền gồm những loại nào, nhưng dựa vào chức năng thanh toán có

Trích đoạn Khái quát pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng Các điều kiện khi tổ chức tín dụng nhận giấy tờ có giá làm tài sản bảo đảm tiền vay Trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng Phạm vi bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá Loại hợp đồng bảo đảm được ký kết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status