Bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại các
tổ chức tín dụng – Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn
Ngô Thị Hà
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Thị Thu Thuỷ
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Làm rõ những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy
tờ có giá (GTCG) tại tổ chức tín dụng như: khái niệm, đặc điểm, phân loại GTCG
với tư cách là một tài sản bảo đảm; khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của bảo
đảm tiền vay bằng GTCG; nội dung pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG.
Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng
GTCG tại tổ chức tín dụng (TCTD) ở Việt Nam qua việc đưa ra những nhận định
khái quát và cụ thể những mặt được, những mặt hạn chế, bất cập của pháp luật hiện
hành và thực tế áp dụng bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam. Đưa
ra định hướng và những kiến nghị, đề xuất, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp
luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam.
Keywords: Bảo đảm tiền vay; Giấy tờ có giá; Tín dụng; Luật dân sự; Pháp luật Việt
Nam
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau 11 năm đàm phán không mệt mỏi với rất nhiều cam kết song phương và đa phương
cùng các nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tháng 11 năm 2006 Việt
Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức này. Đây là một dấu mốc vô cùng quan
văn bản pháp luật khác nhau nhưng mới chỉ là những quy định mang tính chất chung chung như
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, Luật Các tổ
chức tín dụng năm 2010, Luật Các công cụ chuyển nhượng (CCCCN) năm 2005, Luật Doanh
nghiệp năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29
tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số
163), Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký
giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 83), Quy chế phát hành giấy tờ có giá
của các tổ chức tín dụng năm 2008 (sau đây gọi tắt Quy chế phát hành GTCG),… Pháp luật
về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD còn thiếu những quy định, hướng dẫn cụ thể,
thống nhất dẫn đến gặp rất nhiều khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn.
Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu những vấn đề pháp lý và thực tiễn của bảo đảm tiền
vay bằng GTCG để góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này, tác giả
quyết định lựa chọn nghiên cứu về đề tài "Bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại các tổ
chức tín dụng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ luật học, pháp luật về GTCG và bảo đảm bằng GTCG đã được đề cập đến
tại một số công trình nghiên cứu khoa học như:
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Anh Thơ, bảo vệ thành công năm
2006 về: "Giấy tờ có giá - Một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự";
- Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Điệp, bảo vệ thành công năm
2010 về: "Giấy tờ có giá - Một loại tài sản theo quy định pháp luật hiện hành";
- Đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm nghiên cứu khoa học về: "Một số kiến nghị
nhằm triển khai và phát triển nghiệp vụ cầm cố chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Việt Nam".
3
Bên cạnh đó, một số bài trao đổi, nghiên cứu liên quan đến giao dịch bảo đảm bằng
GTCG được đăng tải trên một số trang web và tạp chí chuyên ngành tài chính ngân hàng
như:
- Bài viết:"Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế" của tác giả Nguyễn Văn Phương đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 11/2007;
luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam.
4. Phạm vi của việc nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật hiện hành điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng
GTCG tại TCTD ở Việt Nam đặt trong mối quan hệ với pháp luật về GTCG và các văn bản
pháp lý chuyên ngành tài chính ngân hàng điều chỉnh hoạt động cho vay của TCTD. Từ đó,
làm nổi bật các đặc trưng của bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD so với các biện pháp
bảo đảm dân sự khác và so với các biện pháp bảo đảm tiền vay khác. Đồng thời nghiên cứu
thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này, để phát hiện các tồn tại, bất cập và kiến nghị
phương hướng khắc phục, hoàn thiện.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
4
Với mục đích triển khai những nội dung cơ bản của luận văn, tác giả đã vận dụng tổng
hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể như
phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh … để lý giải những vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Là công trình nghiên cứu pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt
Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật một cách cụ thể, luận văn có những đóng góp mới là:
- Trình bày, phân tích một cách khoa học và có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản của
pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD.
- Nêu và phân tích nguyên nhân, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng
pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam; tìm hiểu và phân tích các
tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng GTCG thường phát sinh trong hoạt động cho vay có
bảo đảm bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam.
- Luận văn kiến nghị, đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo
đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam nhằm góp phần xây dựng hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh, mang tính khả thi.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
nó. Theo tác giả, giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền tài sản của
một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lý với chủ thể khác, trị giá được bằng tiền
và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự.
1.1.2 Đặc điểm của giấy tờ có giá
Thứ nhất, giấy tờ có giá xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định.
Giấy tờ có giá là tài sản và bản thân nó là bằng chứng xác nhận quyền tài sản của một
chủ thể xác định. Quyền tài sản của người sở hữu các loại GTCG khác nhau sẽ có đặc điểm,
nội dung và phạm vi khác nhau.
Thứ hai, giấy tờ có giá trị giá được bằng tiền. Nghĩa là có thể hoán đổi GTCG thành
tiền. Đặc điểm này của GTCG thể hiện rõ trong mối quan hệ pháp lý liên quan đến GTCG,
ví dụ quan hệ bảo đảm tiền vay bằng GTCG thì mức cho vay được xác định dựa trên giá trị
của GTCG, mức cho vay không vượt quá giá trị của GTCG. Ngoài ra, có nhiều loại GTCG
còn được coi như tiền, làm phương tiện thanh toán trong thị trường.
Thứ ba, người sở hữu giấy tờ có giá có thể chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho
chủ thể khác trong giao dịch dân sự.
Pháp luật dân sự coi GTCG là một loại tài sản vì vậy, người sở hữu GTCG được quyền
chuyển nhượng GTCG cho chủ thể khác theo cách phù hợp với quy định của pháp luật. Trừ
một số trường hợp pháp luật quy định một số loại GTCG cụ thể không được chuyển nhượng
hoặc hạn chế chuyển nhượng hoặc do tình trạng pháp lý của GTCG đó tại thời điểm xác lập
giao dịch, GTCG chưa thỏa mãn hết các điều kiện để được chuyển nhượng.
Như vậy, GTCG là một loại tài sản có ba đặc điểm cơ bản (để nhận biết GTCG và để
phân biệt GTCG với các loại giấy tờ khác, cũng như với loại tài sản khác) là xác nhận
quyền tài sản của một chủ thể xác định, trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao quyền
sở hữu cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự.
1.1.3 Phân loại giấy tờ có giá và ý nghĩa của việc phân loại
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, giấy tờ có giá được phân thành các loại khác nhau.
Thứ nhất, căn cứ vào thời hạn của GTCG, GTCG được phân thành GTCG dài hạn và
GTCG ngắn hạn.
Giấy tờ có giá ngắn hạn là GTCG có thời hạn dưới một năm (như kỳ phiếu, tín phiếu).
Giấy tờ có giá dài hạn là GTCG có thời hạn từ một năm trở lên (như trái phiếu).
phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho bên
vay.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc bên bảo đảm dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ vay của bên vay đối với TCTD.
Bảo đảm tiền vay bằng GTCG là biện pháp bảo đảm tiền vay mà bên bảo đảm dùng tài sản
là GTCG thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vay của bên vay với TCTD
thông qua việc ký kết hợp đồng bảo đảm bằng GTCG.
1.2.2. Đặc điểm của bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Bảo đảm tiền vay có 03 đặc điểm cơ bản.
1.2.2.1 Là biện pháp bảo đảm được thiết lập nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ
tiền vay của bên vay vốn đối với bên cho vay là tổ chức tín dụng.
Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng GTCG không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc và
gắn liền với một nghĩa vụ đó là nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay vốn đối với bên cho
vay là TCTD. Nghĩa vụ trả nợ tiền vay phát sinh từ hợp đồng chính là hợp đồng vay.
1.2.2.2 Tài sản dùng để bảo đảm tiền vay là giấy tờ có giá
Tài sản bảo đảm trong bảo đảm tiền vay bằng GTCG đã được xác định chính là GTCG.
7
Giấy tờ có giá dùng làm tài sản bảo đảm rất đa dạng như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu,
kỳ phiếu, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và
phải được phép giao dịch.
1.2.2.3 Một bên chủ thể trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá là tổ chức
tín dụng
Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD, bên nhận bảo đảm phải là
TCTD. Tổ chức tín dụng luôn được xác định rõ chính là TCTD cho vay.
TCTD là chủ thể đặc biệt do hoạt động của TCTD có độ rủi ro cao, phải tuân thủ các tỷ
lệ và giới hạn để đảm bảo an toàn trong hoạt động chung và hoạt động cho vay có bảo đảm
bằng GTCG.
Ba đặc điểm trên đây của bảo đảm tiền vay bằng GTCG là cơ sở để phân biệt bảo đảm tiền
vay bằng GTCG với bảo đảm tiền vay bằng tài sản khác tại TCTD, với các biện pháp bảo đảm
nghĩa vụ dân sự khác không có sự tham gia của TCTD.
Các điều kiện của GTCG được dùng làm tài sản bảo đảm hiện được quy định rất chung,
phải là GTCG được phép giao dịch. Tuy nhiên, theo tác giả một GTCG được dùng làm tài
sản bảo đảm phải thỏa mãn hai điều kiện cơ bản: GTCG thuộc sở hữu hợp pháp của bên bảo
đảm và GTCG được phép tham gia giao dịch bảo đảm.
1.4.2.2. Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm tiền vay là
giấy tờ có giá
Pháp luật hiện hành chưa có văn bản quy định riêng về trình tự, thủ tục nhận GTCG làm
tài sản bảo đảm tiền vay tại TCTD. Trình tự, thủ tục thực hiện bảo đảm tiền vay bằng
GTCG theo quy định chung của pháp luật về nhận tài sản bảo đảm. Thủ tục công chứng và
đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD không phải là thủ tục bắt buộc.
Các thủ tục này được thực hiện theo thỏa thuận của các bên trong giao dịch nếu họ thấy cần
thiết.
1.4.2.3. Quy định của pháp luật về hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
Theo BLDS năm 2005, biện pháp cầm cố hay thế chấp khác nhau ở việc bên bảo đảm
có thực hiện chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm hay không. Vì vậy, giấy tờ
có giá có thể dùng để cầm cố hoặc thế chấp.
Tuy nhiên, tại các văn bản pháp luật khác lại mặc nhiên xác định GTCG chỉ sử dụng để
cầm cố, phải xác lập hợp đồng cầm cố GTCG. Trên thực tế, các TCTD cũng chỉ xác lập hợp
đồng cầm cố GTCG. Hợp đồng cầm cố GTCG phải được lập thành văn bản, có thể lập thành
văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng cho vay.
Đối tượng của hợp đồng cầm cố GTCG là loại GTCG cụ thể mà bên cầm cố dùng để
cầm cố, GTCG phải thỏa mãn điều kiện dùng làm tài sản bảo đảm tiền vay tại TCTD.
Theo quy định của pháp luật, các bên chủ thể của hợp đồng cầm cố GTCG tại TCTD
bao gồm bên cầm cố và bên nhận cầm cố. Bên cầm cố là bên vay hoặc là bên thứ ba dùng
GTCG thuộc sở hữu của họ cầm cố tại TCTD. Các bên trong hợp đồng có các quyền, nghĩa
vụ theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.
1.4.2.4. Quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá
Xử lý tài sản bảo đảm là GTCG phải thực hiện theo nguyên tắc, phương thức, thời hạn
và các nội dung khác liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm phù hợp với quy định chung của
pháp luật. Bên cạnh các quy định chung, việc xử lý GTCG còn được thực hiện theo quy
quyền theo quy định của pháp luật thay mặt chủ sở hữu định đoạt GTCG.
Trên thực tế, các TCTD cũng thường đặt ra các điều kiện đối với bên bảo đảm như
được nêu trên đây. Việc xác định bên bảo đảm thỏa mãn điều kiện là chủ sở hữu hợp pháp
GTCG dùng làm tài sản bảo đảm đang gặp khó khăn, vướng mắc, có nhiều quan điểm trái
ngược nhau xuất phát từ việc pháp luật về GTCG và pháp luật về hôn nhân gia đình chưa rõ
ràng, chưa thống nhất trong việc xác định quyền sở hữu GTCG. Tình trạng này chỉ được
"giải quyết" khi các nhà làm luật "tháo gỡ" được nút thắt giữa hai hệ thống pháp luật này.
2.1.1.2. Điều kiện về giấy tờ có giá làm tài sản bảo đảm
Thứ nhất, khi nhận tài sản bảo đảm, các TCTD luôn phải xác định chính xác tài sản
nhận bảo đảm là GTCG.
Các TCTD đều đang xác định GTCG nhận cầm cố theo hướng liệt kê kể tên GTCG
gồm những loại nào, do tổ chức nào phát hành. Do pháp luật hiện hành về GTCG và bảo
đảm tiền vay bằng GTCG chưa có quy định thống nhất về khái niệm, đặc điểm của GTCG
nên rất khó xác định chính xác loại GTCG nhận bảo đảm. Hầu hết các TCTD đều nhầm lẫn
khi cho rằng chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm là một loại GTCG nên xác lập giao dịch cầm
cố chính sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi như nhận cầm cố GTCG.
Thứ hai, tổ chức tín dụng chỉ nhận những GTCG thỏa mãn các điều kiện theo quy định
của pháp luật và theo quy định của TCTD đã đặt ra làm tài sản bảo đảm. Các điều kiện về
giấy tờ có giá nhận cầm cố tựu trung lại bao gồm: điều kiện về chủ thể phát hành GTCG, về
tình trạng sở hữu GTCG và các điều kiện khác về tính nguyên vẹn của GTCG.
Xuất phát từ thực trạng quy định không đầy đủ và thiếu rõ ràng của pháp luật hiện hành về
điều kiện của GTCG dùng làm tài sản bảo đảm. Nên nhằm chắc chắn GTCG nhận bảo đảm
thỏa mãn các điều kiện đã đặt ra, các TCTD áp dụng cách thức khác nhau để thẩm định, kiểm
tra GTCG. Vì vậy, cần có văn bản pháp luật quy định cụ thể về điều kiện của GTCG, cách thức
kiểm tra, thẩm định GTCG dùng làm tài sản bảo đảm, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho
TCTD thực hiện trên thực tế.
2.1.2. Trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng
Trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm là GTCG chưa được quy định riêng tại bất kỳ
văn bản pháp luật nào. Trên thực tế, căn cứ vào những quy định của pháp luật về nhận tài
10
cam kết về quyền sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm đối với GTCG, về điều kiện được phép
giao dịch của GTCG.
2.3.3. Các bên chủ thể của hợp đồng bảo đảm
Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD được xác lập dưới dạng hợp đồng
cầm cố, nên các bên chủ thể trong hợp đồng gồm bên cầm cố và bên nhận cầm cố. Nếu bên
bảo đảm là bên thứ ba thì các TCTD thường ký hợp đồng ba bên gồm: bên vay, bên cầm cố
và bên nhận cầm cố.
Bên nhận cầm cố trong hợp đồng cầm cố chính là TCTD cho vay. Bên cầm cố trong
hợp đồng cầm cố là chủ sở hữu hợp pháp GTCG, có thể là cá nhân hoặc tổ chức, thường
chính là bên vay hoặc là bên thứ ba có GTCG đem cầm cố.
Thực tế trong trường hợp bên cầm cố là cá nhân trong thời kỳ hôn nhân mà GTCG chỉ
đứng tên vợ hoặc chồng, TCTD gặp khó khăn trong việc xác định thẩm quyền ký kết hợp
đồng cầm cố GTCG với tư cách của bên cầm cố.
2.3.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo đảm
11
Quyền, nghĩa vụ của bên cầm cố, bên nhận cầm cố GTCG được xác lập theo thỏa thuận
hợp pháp của các bên và theo quy định của pháp luật.
2.3.4.1 Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố
Hợp đồng cầm cố GTCG tại TCTD thường được xác lập theo mẫu của TCTD. Vì vậy,
trong hợp đồng cầm cố GTCG, nghĩa vụ của bên cầm cố được ghi nhận rất cụ thể. Trong
khi quyền của bên cầm cố lại được quy định "sơ sài", thường chỉ gồm các quyền như được
nhận lại GTCG cầm cố và các giấy tờ liên quan khi đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, nhận lại
số tiền thừa thu được từ việc xử lý GTCG để thu hồi nợ vay.
2.3.4.2 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố
Ngược lại với các quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố là nghĩa vụ và quyền của bên nhận
cầm cố. Bên nhận cầm cố có các quyền và nghĩa vụ liên quan đến quản lý GTCG, xử lý
GTCG hoặc quyền thu hồi nợ vay khi bên cầm cố thực hiện không đúng, không đầy đủ
nghĩa vụ trả nợ tiền vay. Nghị định số 163 có một số quy định cụ thể về quyền của bên nhận
cầm cố trong việc yêu cầu người phát hành GTCG hoặc Trung tâm Lưu ký chứng khoán
đảm bảo quyền giám sát của bên nhận cầm cố đối với giá trị tài sản ghi trên giấy tờ đó.
Pháp luật hiện hành quy định rõ các căn cứ để bên bảo đảm thực hiện quyền xử lý tài
sản bảo đảm, các nguyên tắc, phương thức, trình tự thủ tục thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm.
Việc xử lý GTCG cụ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về GTCG đó.
Thực tế, các bên thường dự liệu các trường hợp xử lý GTCG khi giá trị của GTCG
xuống thấp hơn mức giá trị nhất định do TCTD đã quy định và xử lý GTCG theo yêu cầu
của chính bên bảo đảm để thanh toán nợ vay cho bên vay.
Phương thức xử lý tài sản bảo đảm là GTCG được các TCTD áp dụng khác nhau phù
hợp với từng loại GTCG. Việc TCTD xử lý GTCG bằng cách "bán tháo" GTCG khi giá trị của
GTCG đang trong tình trạng giảm, càng làm cho giá trị của GTCG đi xuống, ảnh hưởng đến
tính thanh khoản của thị trường chứng khoán.
2.6. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
tại tổ chức tín dụng
Tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng GTCG trong thực tế thường phát sinh từ nguyên nhân
do bên bảo đảm có tranh chấp về giao dịch mua bán GTCG với bên bán hay tổ chức phát hành
GTCG; do các TCTD "bán tháo" GTCG để thu hồi nợ;... Một số vụ việc tranh chấp xảy ra trong
thực tế được nêu tại luận văn nhằm làm rõ nguyên nhân và thực trạng tranh chấp về bảo đảm
tiền vay bằng GTCG tại TCTD.
Theo pháp luật hiện hành, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tranh chấp về bảo đảm tiền vay
thực hiện theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật Trọng tài thương
mại năm 2010.
Mặc dù trên thực tế, tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại các TCTD ở Việt Nam
diễn ra khá nhiều, nhưng hầu như đều được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải, hầu như
không có tranh chấp nào được giải quyết tại Tòa án hay Trọng tài thương mại do cơ chế giải quyết
tranh chấp tại các cơ quan này theo thủ tục chung không phù hợp với quan hệ bảo đảm tiền vay
bằng GTCG và do khả năng thi hành của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG còn có những
khiếm khuyết, chưa thống nhất.
Bảo đảm tiền vay bằng GTCG nếu được thực hiện theo điều kiện, trình tự thủ tục quá chặt
chẽ hay quá lỏng lẻo đều có những vướng mắc và không cân bằng được lợi ích của các bên chủ
thể. Vì vậy, pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam phải có
những quy định phù hợp với thực tiễn, "điều hòa" được lợi ích của các bên trong bảo đảm
Cuối cùng, về yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng của
Việt Nam.
Pháp luật phải phải có nhiều quy định được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực pháp lý
quốc tế để phù hợp, tương thích với pháp luật của các nước trong khu vực và trên thế giới
trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng của Việt Nam.
3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Dựa trên các yêu cầu hoàn thiện pháp luật, các phương hướng nhằm hoàn thiện pháp
luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại các TCTD ở Việt nam là:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam
nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ, thống nhất cho biện pháp bảo đảm tiền vay bằng
GTCG tại TCTD ở Việt Nam vận hành một cách thuận lợi, an toàn và phù hợp với thực tế.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG nhằm tạo cơ sở pháp lý
đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD, bảo vệ quyền lợi của bên vay và bên bảo đảm,
nâng cao ý thức của các bên chủ thể trong việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của
nhau.
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD cùng
với pháp luật về hình sự, tố tụng dân sự, hành chính và đi đôi với việc thiết lập các cơ chế
hướng dẫn, phối hợp, giám sát, đảm bảo thực thi các quy định về bảo đảm tiền vay bằng
GTCG trên thực tế.
3.3 Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có
giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Các giải pháp được kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm
tiền vay bằng GTCG tại các TCTD ở Việt Nam là:
3.3.1. Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay
bằng giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Thứ nhất, cần xây dựng khái niệm GTCG với tư cách là một loại tài sản trong hệ thống
pháp luật dân sự cũng như các thuộc tính của nó.
14
Cần phải thống nhất pháp luật điều chỉnh về GTCG. Khái niệm và các thuộc tính của
- Pháp luật nên quy định ràng buộc về cơ chế, trách nhiệm phối hợp thực hiện các vấn
đề liên quan đến bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam giữa các chủ thể có
liên quan.
- Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan chức năng như Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước, NHNN, … trong việc ban hành văn bản liên ngành hướng dẫn quy
trình phối hợp thực hiện bảo đảm tiền vay bằng GTCG.
- Đưa ra các biện pháp và công cụ tài chính để đảm bảo tính ổn định của thị trường
chứng khoán, tránh tình trạng các TCTD đứng trước thách thức phải "giải chấp" GTCG để
thu hồi nợ.
- Phải có các biện pháp hỗ trợ để TCTD có lộ trình "giải chấp" hoặc ngưng "giải chấp"
GTCG hợp lý khi thị trường chứng khoán bất thường mà vẫn đảm bảo TCTD không gặp
khó khăn trong thanh khoản, không bị NHNN áp dụng kiểm soát đặc biệt.
15
- Ngoài ra, các biện pháp hỗ trợ các bên chủ thể lựa chọn biện pháp thích hợp để xử lý,
"giải chấp" GTCG nhằm thu được giá trị cao nhất từ việc xử lý GTCG.
Pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD ở Việt Nam cần phải được hoàn
thiện và cần có sự "quan tâm" đúng mực. Việc hoàn thiện pháp luật phải xuất phát từ các
yêu cầu cụ thể, phải được thực hiện theo phương hướng thống nhất và trên cơ sở các giải
pháp hoàn thiện rõ ràng, đồng bộ.
KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng biện pháp bảo
đảm tiền vay bằng GTCG tại các TCTD có thể nhận thấy vai trò rất lớn của biện pháp này
trong hoạt động cho vay của TCTD cũng như trong đời sống xã hội. Đối với TCTD, biện
pháp bảo đảm tiền vay bằng GTCG là một trong những công cụ hỗ trợ cho TCTD bảo toàn
nguồn vốn cho vay, tránh xảy ra các khoản nợ xấu gây ảnh hưởng đến an toàn hoạt động
của TCTD. Còn trong đời sống xã hội, nhờ có biện pháp này nên những người dân, doanh
nghiệp hay tổ chức khác đang cần vốn để đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh hay để cải
thiện, nâng cao đời sống có cơ hội rất lớn để vay vốn từ các TCTD.
Mặc dù vậy, pháp luật hiện hành quy định về bảo đảm tiền vay bằng GTCG tại TCTD
luật sư, của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý... ở các công trình khoa học tiếp theo.
References
1. Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Chính phủ (2006), Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5 về phát hành trái phiếu
doanh nghiệp, Hà Nội.
3. Chính phủ (2006), Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12 về giao dịch bảo đảm,
Hà Nội.
4. Chính phủ (2010), Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7 về đăng ký giao dịch bảo
đảm, Hà Nội.
5. Chính phủ (2011), Nghị định số 01/2011/NĐ-CP ngày 05/01 về phát hành trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương,
Hà Nội.
6. "Cho vay cầm cố bằng giấy tờ có giá" (2011), www.agribank.com.vn.
7. "Cho vay cầm cố bằng giấy tờ có giá do tổ chức khác phát hành" (2011),
www.oceanbank.vn.
8. "Cổ đông lớn của Vietabank mang cổ phần đi cầm cố" (2008), www.phapluatvn.vn.
9. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2001), Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng
12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), Hà Nội.
10. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2004), Quy chế tiền gửi tiết kiệm (Ban hành kèm theo
Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam), Hà Nội.
11. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2004), Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có
giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số
1325/2004/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 10 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam), Hà Nội.
12. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2008), Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước
của tổ chức tín dụng (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24
tháng 3 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), Hà Nội.