SO SÁNH BỘ GIỐNG SIÊU LÚA XANH (GSR) VỤ XUÂN HÈ NĂM 2014 TẠI XÃ HÒA PHÚ, HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN - Pdf 37

1

SO SÁNH BỘ GIỐNG SIÊU LÚA XANH (GSR) VỤ XUÂN HÈ
NĂM 2014 TẠI XÃ HÒA PHÚ, HUYỆN CHÂU THÀNH,
TỈNH LONG AN

Tác giả
TRẦN VĂN BÌNH

Khóa luận được thực hiện để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng kỹ sư ngành Nông học

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. HOÀNG KIM
KS. NGUYỄN VĂN PHU

TP. Hồ Chí Minh, tháng 8/2014


2

LỜI CẢM TẠ
Thành kính ghi ơn Ba Má và người thân trong gia đình đã nuôi dạy và tạo điều
kiện cho con học tập được như ngày hôm nay.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Hoàng Kim và thầy Nguyễn Văn Phu
đã truyền đạt kiến thức, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh và ban chủ
nhiệm khoa Nông học đã tạo môi trường học tập thuận lợi cho tôi trong suốt 4 năm đại
học. Quý thầy cô trong khoa Nông học của Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ

canh tác và sử dụng của giống lúa (QCVN 01 – 55: 2011/BNNPTNT). Các giống lúa
được canh tác trong điều kiện đất đai, phân bón và chăm sóc như nhau.
Kết quả thí nghiệm cho thấy:
Các giống đều có thời gian sinh trưởng ngắn, biến động từ 95 đến 103 ngày, bộ
lá thẳng đứng, dạng hình đẹp, đẻ nhánh khá, cứng cây. Các giống chống chịu sâu bệnh
tốt. Năng suất thực tế biến động từ 5,5 – 7,7 tấn/ha, ba giống GSR84 (7,7 tấn/ha),
GSR90 (7,5 tấn/ha), OM6976 (7,3 tấn/ha) có năng suất cao nhất, đều có hạt gạo thon
dài, tỷ lệ bạc bụng thấp, cơm nấu mềm, thơm nhẹ.


4

MỤC LỤC
Nội dung

Trang


DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt

Viết đầy đủ

ANOVA

: Analysis of Variance – Phân tích phương sai

BNN&PTNT


: Giống lúa Huang Hua Zhan

IRRI

: International Rice Research Institute – Viện nghiên cứu lúa quốc
tế

FAO

: Tổ chức lương thực thế giới

FAOSTAT

: Foods Agriculture Organization of the United Nation Statistical
– Dữ liệu thống kê của FAO

GSR

: Green Super Rice – Siêu lúa xanh

NSG, NSC

: Ngày sau gieo, ngày sau cấy

NSLT, NSTT

: Năng suất lý thuyết, năng suất thực tế

P1.000 hạt


Bảng 3.3 Nhiệt độ và ẩm độ không khí trong thời gian thí nghiệm
Bảng 3.4 Phân loại hình dạng hạt gạo trắng theo IRRI (1996)
Bảng 4.1 Đặc điểm thân lúa của 11 giống lúa thí nghiệm
Bảng 4.2 Đặc điểm lá lúa của 11 giống lúa thí nghiệm
Bảng 4.3 Đặc điểm bông lúa của 11 giống khảo nghiệm
Bảng 4.4 Thời gian sinh trưởng và phát dục (ngày) của 11 giống lúa thí nghiệm
Bảng 4.5 Động thái tăng trưởng chiều cao (cm) của 11 giống lúa thí nghiệm
Bảng 4.6 Tốc độ tăng trưởng chiều cao (cm/ngày) của 11 giống lúa thí nghiệm
Bảng 4.7 Động thái đẻ nhánh của 11 giống lúa thí nghiệm (nhánh/ bụi)
Bảng 4.8 Tốc độ đẻ nhánh của 11 giống lúa thí nghiệm (nhánh/bụi/7 ngày)
Bảng 4.9 Khả năng đẻ nhánh và tỉ lệ nhánh hữu hiệu của 11 giống lúa thí nghiệm
Bảng 4.10 Tính chống chịu sâu bệnh của 11 giống lúa thí nghiệm
Bảng 4.11 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 11 giống lúa thí nghiệm
Bảng 4.12 Một số chỉ tiêu phẩm chất gạo của 11 giống lúa thí nghiệm
Bảng 4.13 Đánh giá chất lượng nấu cơm của 11 giống lúa thí nghiệm......................54
Bảng 4.14 Đặc điểm chủ yếu của 3 giống lúa triển vọng trong bộ giống thí nghiệm.
.......................................................................................................................................56

DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình

Trang


Hình 3.1 Gieo mạ ướt và bó mạ theo từng ô
Hình 4.1 Một số sâu bệnh hại trong thí nghiệm tại Châu Thành, Long An



Chương 1

lượng 2.556.900 tấn lúa/năm (Tổng cục thống kê, 2014). Long An đã khẳng định vị trí
là vựa lúa quan trọng trong khu vực và cả nước. Hiện tại việc nhập nội, đánh giá,
tuyển chọn bộ giống lúa cao sản triển vọng do trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí
Minh, Viện lúa ĐBSCL và Trung tâm Giống Cây Trồng Sóc Trăng phối hợp thực hiện.
Đây là sự kết nối với Dự án siêu lúa xanh (Green Super Rice – GSR) hợp tác Quốc tế
giữa Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp
Trung Quốc (CAAS) và Việt Nam. Phía Việt Nam nghiên cứu chọn tạo khai thác và
ứng dụng nhanh kết quả. Do đó, việc khảo nghiệm bộ giống lúa này tại Long An là rất
cần thiết để bổ sung những giống lúa có triển vọng vào nguồn giống tại địa phương.
Được sự đồng ý của Khoa Nông học, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Long An và
Trại giống lúa Hòa Phú, dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Kim và KS. Nguyễn Văn
Phu, đề tài: “So sánh bộ giống siêu lúa xanh (GSR) vụ Xuân Hè, năm 2014 tại xã Hòa
Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Long An” đã được thực hiện.
1.2 Mục tiêu và yêu cầu

1.2.1 Mục tiêu
Tuyển chọn và xác định được 1 – 2 giống lúa năng suất cao, phẩm chất tốt, ít
nhiễm sâu bệnh và thích nghi với điều kiện sinh thái để bổ sung vào cơ cấu giống lúa
tại địa phương.
1.2.2 Yêu cầu
Thực hiện thí nghiệm đồng ruộng, theo dõi và đánh giá sinh trưởng các giống
lúa theo đúng quy trình khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng giống lúa tiêu
chuẩn ngành QCVN 01 – 55: 2011/BNNPTNT.
Thu mẫu, phân tích năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống.
Phân tích các đặc tính phẩm chất gạo của bộ giống tại phòng thí nghiệm.
Tổng hợp số liệu, phân tích thống kê và viết báo cáo.
1.3 Giới hạn của đề tài

Đối tượng nghiên cứu là 11 giống lúa, trong đó có 1 giống lúa làm đối chứng.
Thời gian thực hiện: Từ 03/2014 đến 07/2014.

cho ra đời các giống lúa thấp cây, năng suất cao, chống chịu với môi trường và nhanh
chống phát triển ở các nước trồng lúa, vì thế được coi là “cuộc cách mạng xanh trong
nông nghiệp”, điển hình là giống IR8 ở nước ta.


2.1.2 Vị trí phân loại
Giới: Plante
Ngành: Angiospermophyta
Lớp: Dicotyledoneae
Bộ: Polaes
Họ: Paceae
Chi: Oryza
Tên khoa học: Oryza sativa (lúa Châu Á), Oryza glaberrima (lúa Châu Phi)
Có hơn 28 loài hoang dại đã được định danh, có tổng nhiểm sắc thể là từ 24 –
48 n. Năm 1963 các loài di truyền học đã công nhận còn 19 loài, trong đó Oryza sativa
và Oryza glaberrima là hai loài lúa trồng còn lại là lúa dại, phổ biến nhất là loài Oryza
sativa và Oryza glaberrima chỉ chiếm diện tích nhỏ ở Tây Phi và có năng suất thấp (Lê
Minh Triết, 2005).
2.2 Giá trị kinh tế của lúa gạo
2.2.1 Giá trị dinh dưỡng
Gạo là thức ăn giàu dinh dưỡng. So với lúa mì, gạo có thành phần tinh bột và
protein hơi thấp hơn, nhưng năng lượng tạo ra nhiều hơn và chứa nhiều chất béo hơn
(bảng 2.1). Ngoài ra, nếu tính trên đơn vị 1 hecta, gạo cung cấp nhiều calo hơn lúa mì
do năng suất cao hơn nhiều so với lúa mì. Giả sử một người trung bình cần 3200 calo
mỗi ngày thì một hecta lúa có thể nuôi 2055 người/ngày hoặc 5,63 người/năm, trong
khi lúa mì chỉ nuôi được 3,67 người/năm, bắp 5,3 người/năm. Trong gạo lại còn có
chứa nhiều acid amin thiết yếu.

Bảng 2.1 Thành phần hóa học của lúa gạo so với ba loại hạt ngũ cốc
Chỉ tiêu

( % ) 81,1

74,0

67,4

74,8

( % ) 1,2

2,3

4,8

0,9

( % ) 1,6

1,6

3,0

1,6

( cal/100g ) 436

461

447


10

3,0

( mg/100g ) 3,0

3,0

2,0

2,0

( g/16N ) 2,3

2,5

2,7

3,6

( g/16N ) 2,8

3,2

3,3

3,6

( g/16N ) 3,6


2.2.2 Giá trị sử dụng
Ngoài cơm ra, gạo còn dùng để chế biến nhiều loại bánh, làm môi trường để
nuôi cấy niêm khuẩn, men, cơm mẻ. Gạo còn dùng để cất rượu, cồn, người ta không
thể nào kể hết công dụng của nó. Cám hay đúng hơn là các lớp vỏ ngoài của hạt gạo,
do chứa nhiều protein, chất béo, chất khoáng, vitamin, nhất là vitamin nhóm B, nên
được dùng làm bột dinh dưỡng trẻ em và điều trị người bị bệnh phù thũng. Cám là
thành phần cơ bản trong thức ăn gia súc, gia cầm và trích lấy dầu ăn. Trấu, ngoài công
dụng làm chất đốt, chất độn chuồng còn dùng làm ván ép, vật liệu cách nhiệt, cách âm,
chế tạo carbon và silic.

2.3 Tình hình sản xuất lúa gạo thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất lúa gạo thế giới


Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí rất quan trọng, đặc biệt vùng Châu Á. Ở
Châu Á lúa là món ăn chính giống như bắp của người Nam Mỹ, hạt kê của người
Châu Phi hoặc lúa mì của người Châu Âu và Bắc Mỹ. Thống kê của tổ chức lương
thực thế giới (FAO, 2014) cho thấy, có 114 nước trồng lúa, trong đó có 18 nước có
diện tích trồng lúa trên 1000.000 ha tập trung ở Châu Á, 31 nước có diện tích trồng lúa
trong khoảng 100.000 ha – 1000.000 ha. Trong đó có 27 nước có năng suất trên
5 tấn/ha, đứng đầu là Ai Cập (9,7 tấn/ha), Úc (9,5 tấn/ha), EL Salvador (7,9 tấn/ha).
Bảng 2.2 Diện tích, sản lượng và năng suất lúa của 10 nước đứng đầu trên thế giới
năm 2013 (Đơn vị triệu tấn)
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(triệu ha)

43,66

Thái Lan

12,6

30,0

37,80

Băngladesh

11,7

29,2

34,20

Myanma

8,2

40,5

33,00

Philippin

4,7


lúa gia tăng liên tục đạt 159,0 triệu ha, cao nhất kể từ năm 1999 đến nay.
Các nước có diện tích trồng lúa lớn trên thế giới như Ấn Độ (42,5 triệu ha),
Trung Quốc (30,3 triệu ha), Indonesia (13,4 triệu ha), Thái Lan (12,6 triệu ha),


Banglades (11,7 triệu ha). Các quốc gia dẫn đầu về năng suất lúa trên thế giới là Trung
Quốc (6,74 tấn/ha), Việt Nam (5,63 tấn/ha), Indonesia (5,14 tấn/ha), Brazil (4,81
tấn/ha) (bảng 2.3). Những nước trên thế giới dẫn đầu về sản lượng lúa gạo là Trung
Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Banglades, Myanma. Mặc dầu năng
suất lúa ở các nước Châu Á còn thấp nhưng do diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn
là nguồn đóng góp rất quan trọng cho sản lượng lúa trên thế giới (trên 90 %). Như vậy,
có thể nói Châu Á là vựa lúa quan trọng nhất thế giới (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị
Lang, 1995).
2.3.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là nước có truyền thống trồng lúa. Nền văn minh lúa nước có trên
4.000 năm lịch sử, Việt Nam nằm trong vùng địa lí được xem như là khởi nguyên của
cây lúa, chạy dài từ chân núi Hi Mã Lạp Sơn cho đến bờ biển Đông.
Bảng 2.3 Diện tích lúa (nghìn ha) cả năm phân theo khu vực ở Việt Nam
Khu vực

2006

2007

2008

2009

2010


Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

1206,9

1191,8

1219,3

1221,0

1214,1

1229,2

Tây Nguyên

206,5

205,2

211,2

215,6

217,8

223,9

Đông Nam Bộ


7192,5

7422,2

7437,2

7489,4

7651,4

(Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2014)
Sản xuất lương thực là ngành chính ở Việt Nam. Lúa được trồng ở hầu hết tỉnh
thành trong cả nước. Năm 2011 diện tích lúa cả nước đạt 7651,4 nghìn ha, trong đó
ĐBSH chiếm 1144,5 nghìn ha, Bắc trung bộ và duyên hải miền trung chiếm 1229,2
nghìn ha, ĐBSCL chiếm 4089,3 nghìn ha (bảng 2.4).
Bảng 2.4 Sản lượng lúa (nghìn tấn) cả năm phân theo khu vực ở Việt Nam
Khu vực

2006

Đồng bằng Sông Hồng

6725,2

2007

2008

2009



5764,3

6114,9

6243,2

6152,0

6515,6

Tây Nguyên

880,4

866,3

935,2

999,1

1042,1

1056,3

Đông Nam Bộ

1159,5

1240,6

Từ năm 1868 đến 1873, diện tích trồng lúa Việt Nam ước khoảng 600 – 700
nghìn ha, sau đó tăng lên 2,3 triệu ha trong năm 1912 và 4,4 triệu ha trong năm 1927.
Diện tích phát triển cao nhất 5 triệu ha với sản lượng 6 triệu tấn (thời Pháp thuộc,
1942) trong đó Nam Kì chiếm gần 50 % tổng diện tích cả nước, Bắc Kì 27 %, Trung
Kì 23 % (Trần Văn Đạt, 2002).


Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa qua các năm sản xuất (1961 – 2012)
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

1961
1970

(triệu ha)
4,74
4,72

(tạ/ha)
19,0
21,5

(triệu tấn)
9,00
10,17

1980


2008

7,40

52,3

38,73

2009

7,44

52,4

38,95

2010

7,49

53,4

40,01

2011

7,66

55,4

của người sản xuất, người kinh doanh lúa gạo và xuất khẩu có lợi nhuận cao, đảm bảo
sản lượng lúa gạo cả nước đạt 41 triệu tấn năm 2020 (MARD trích dẫn bởi Hoàng
Kim, 2011).


2.4 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất lúa gạo ở tỉnh Long An
2.4.1 Điều kiện tự nhiên
Long An là một tỉnh thuộc đồng bẳng sông Cửu Long, đất phần lớn là dạng phù
sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ, cấu tạo bở rời, tính chất cơ lý kém, nhiều vùng
bị chua phèn. Địa hình Long An bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông và kênh rạch
chằng chịt với tổng chiều dài lên tới 8.912 km trong đó lớn nhất là sông Vàm Cỏ Đông
chảy qua Long An. Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 80 – 82 %. Thời gian
chiếu sáng bình quân ngày từ 6,8 – 7,5 giờ/ngày và bình quân năm từ 2.500 – 2.800
giờ. Tổng tích ôn năm 9.700 – 10.100 0C. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm dao
động từ 2 – 4 0C.
Tỉnh Long An nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích
đạo có nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và
tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp, ôn hòa thuận
lợi cho cây lúa phát triển (Cổng thông tin điện tử Long An, 2014).
2.4.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của tỉnh Long An
Bảng 2.6 Diện tích, năng suất và sản lượng tỉnh Long An qua các năm
Năm

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (tấn/ha)

2002


2006

433.200

1.769.400

4,08

2007

428.400

1.950.600

4,50

2008

457.000

2.178.100

4,77

2009

463.600

2.158.600

Theo Trần Như Đình Vũ (1991), giống lúa là sản phẩm sức lao động sáng tạo
của con người, là tư liệu sản xuất, là chủ yếu quyết định việc tăng năng suất, chọn
đúng giống sẽ thu được năng suất cao và ổn định, giống có tốt thì mới phát huy được
hết tác dụng của các biện pháp kỹ thuật.
Trong sản xuất, việc tăng năng suất thì giống là biện pháp rẻ tiền nhất, nhưng
mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các biện pháp kĩ thuật khác. Tạo những
giống lúa ngắn ngày năng suất cao, phẩm chất tốt, thích nghi rộng đang là vấn đề
cấp bách hiện nay. Công tác lai tạo giống lúa ngắn ngày thích nghi tốt, kháng được
một số sâu bệnh đã nâng cao năng suất đáng kể trên một số diện tích trồng lúa ở nước
ta. Sự đóng góp của giống mới đã làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển. Đồng thời
cũng đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu lương thực của nhân dân trong nước và trên thế
giới trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay (Trần Nguyễn Phượng Linh, 2013).
Theo Đinh Văn Lữ (1978) cho rằng hiện nay có 4 yếu tố thúc đẩy tăng năng
suất lúa đó là điều kiện tưới tiêu, áp dụng giống mới, sử dụng phân bón hóa học và áp
dụng thuốc bảo vệ thực vật. Nhưng trong đó giống mới được coi là góp phần lớn nhất
trong việc tăng sản lượng lúa. Chỉ cần chọn lọc, thay đổi hoặc giữ giống tốt chúng ta
có thể tăng năng suất lên 20 %.
Dự đoán trong tương lai sản lượng lúa của thế giới phải tăng 1,7 %/năm thì mới
đáp ứng được yêu cầu lương thực của dân số ngày càng tăng của thế giới trong giai
đoạn 1990 – 2050. Với những nước sản xuất lúa hàng đầu như ở Châu Á thì tỷ lệ này
phải là 2,1 %/năm. Tăng năng suất lúa phải phụ thuộc nhiều nguyên nhân: Hệ thống
tưới tiêu ngày càng hoàn chỉnh, đầu tư nhiều phân bón, sử dụng ưu thế lai F1 (Trung


Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Việt Nam) nhưng sự gia tăng về năng suất chủ yếu là do cuộc
cách mạng về giống như sử dụng giống thấp cây, chống đổ ngã, đẻ nhánh nhiều, chống
chịu với môi trường khắc nghiệt (mặn, rét, úng, hạn), chống chịu với sâu hại (rầy nâu,
đạo ôn) (Nguyễn Thị Lang, 2010).
2.6 Tình hình nghiên cứu về giống lúa trên thế giới và Việt Nam
2.6.1 Công tác chọn tạo giống chất lượng cao trên thế giới

(1981) cho rằng đặc điểm hình thái cần được chú ý là: Thân thấp, cứng chắc, lá thẳng
đứng, nở bụi nhanh, thời gian sinh trưởng trung bình 120 ngày.
2.6.2 Công tác chọn tạo giống lúa ở Việt Nam
Giống lúa có chất lượng gạo cao là những giống lúa có dạng hạt thon dài, chiều
dài hạt gạo: 6,61 – 7,5 mm, tỷ lệ gạo nguyên > 50 %, gạo không hoặc ít bạc bụng, mặt
gạo sáng trắng, độ hồ hóa trung bình, độ bền thể gel mềm, hàm lương amylose trung
bình (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 1995).
Chọn tạo giống lúa nói chung và chọn tạo giống lúa có phẩm chất gạo cao nói
riêng muốn thành công phải có một chương trình lai giống với khối lượng lớn và nhiều
nguồn gen rộng rãi (Trần Đình Long và ctv, 1997). Nếu một trong hai cây bố hoặc mẹ
trong tổ hợp lai đơn có đặc tính không tốt hay tổ hợp thiếu vài đặc tính quan trong thì
sử dụng lại ba, lai lại hay lai kép (Jenning và ctv, 1979).
Công tác chọn tạo giống lúa được tiến hành từ những năm 1950 nhưng do điều
kiện chiến tranh ở hai miền Nam – Bắc nên việc chọn tạo giống lúa ở hai miền khác
nhau. Ở miền Bắc đã tạo ra những giống lúa mới bằng con đường lai tạo và nhập nội.
Giống lúa lai đầu tiên được ra đời là giống lúa chiêm 314 do Tiến Sĩ Lương Định Của
lai tạo, còn ở miền Nam chủ yếu bằng con đường nhập nội. Từ sau ngày đất nước
thống nhất, công tác chọn tạo giống được tiến hành nhịp nhàng và đồng bộ trên cả
nước: Các Viện, trường Đại Học cùng các Trung Tâm Giống Cây Trồng các tỉnh liên
kết với nhau thành một mạng lưới nghiên cứu lúa thống nhất trong cả nước đã góp
phần vào công tác chọn tạo giống lúa phục vụ sản xuất. Khi dịch rầy nâu xuất hiện
năm 1978, các giống lúa như: IR8, TN23 – 2, IR26, IR28 nhiễm nặng đã gây thiệt hại
lớn, cùng lúc đó các cơ quan nghiên cứu đã kịp thời đưa ra các giống kháng như:
NN3A (IR36), NN4A, NN3B (IR48), IR843 – 132 – 2 – 3 – 3 và sau đó đến nay đã có


nhiều giống đưa ra sản xuất như : NN6A, NN7A, NN9A, IR64, OM997 – 6 (Viện lúa
Đồng Bằng Sông Cửu Long)
Từ năm 1975, trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành điều tra, sưu tập, nghiên
cứu và bảo quản nguồn tài nguyên giống lúa địa phương. Hơn 100 giống lúa đã được

năm đầu thập kỷ 80, công tác chọn tạo giống năng suất và sản lượng lúa gạo ở Việt
Nam trong thời gian qua luôn gắn liền với việc cải tạo đồng ruộng, không ngừng đưa
những thành tựu kỹ thuật vào trong thực tiễn. Một trong những biện pháp tích lúa cho
vùng khó khăn mới được đẩy mạnh hơn, góp phần nâng cao diện tích gieo trồng, năng
suất và sản lượng chung cho cả nước.
2.7 Dự án Green Super Rice
Dự án Siêu Lúa Xanh (Green Super Rice – GSR) hợp tác Quốc Tế giữa Viện
Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Trung
Quốc (CAAS) đã được thực hiện. Giáo sư Zhikang Li, nhà di truyền phân tử nổi tiếng
của Viện Hàn Lâm Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS) và tiến sỹ
Auhar Ali chuyên gia chọn giống lúa hàng đầu Ấn Độ đang làm việc tại Viện Nghiên
cứu Lúa Quốc tế (IRRI) đồng chủ trì dự án, với một tập thể chuyên gia được Quỹ Bill
& Melinda Gates (Bill & Melinda Gates Foundation – B’AGF) tài trợ GSR dự án hợp
tác giữa Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) và Viện Hàn Lâm Khoa học Nông
nghiệp Trung Quốc (CAAS) theo hướng sản xuất nông nghiệp bền vững tạo nhiều
lương thực cho tăng trưởng dân số thế giới. Sau nhiều năm nỗ lực lai tạo, các nhà khoa
học đã nhiều lần thực hiện lai hồi giao ở thế hệ thứ hai (BC2F2) đã tạo ra nhiều giống
lúa phát triển tốt dưới điều kiện áp lực sâu bệnh cao và môi trường khắc nghiệt. Họ đã
xác định được nhiều gene chống chịu điều kiện khắc nghiệt của môi trường từ nhiều
nguồn giống khác nhau, đặc biệt là tính chịu hạn, chịu mặn từ các giống này được lai
với những giống đã phổ biến như IR64, Huang Hua Zhan, BR11 và BG3000.
Huang Hua Zhan (HHZ) là giống lúa ưu tú hàng đầu của Trung Quốc đã được
lai tạo với 46 giống lúa khác nhau để được 46 thế hệ lai F1 dùng cho sản xuất hạt lai
BC2F1, BC2F2 nhằm phối hợp những đặc tính năng suất cao của giống HHZ với các
đặc tính chịu hạn, mặn, kháng sâu bệnh. 754 dòng siêu lúa xanh (GSR) đã được chủ
nhiệm dự án Green Super Rice Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc
(CAAS), Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) chấp thuận cho phép trực tiếp mang về
Việt Nam. Cơ quan nhập nội, chọn tạo, khai thác nguồn gen là Viện Lúa Đồng Bằng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status